MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1 Cơ sở lý luận
Trẻ em là tài sản của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, vì vậy xã hội
cần có trách nhiệm với trẻ em với thế hệ mai sau của đất nước
Giáo dục mầm non có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chăm sóc
giáo dục trẻ bởi giáo dục mầm non đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ, nhân cách đó tốt hay xấu phụ thuộc vào công tác
giáo dục. Vì vậy ở trường mầm non phải giáo dục trẻ một cách toàn diện cả về
thể chất lẫn tinh thần thông qua các hoạt động học tập và vui chơi
Nếu trẻ được nuôi dưỡng và giáo dục đúng đắn được sống trong môi
trường thuận lợi và được những người thân yêu chăm sóc, trẻ sẽ được phát triển
thuận lợi, khỏe mạnh, hồn nhiên ham hiểu biết và dễ tiếp thu những điều hay lẽ
phải. Ngày nay, xu hướng giáo dục tiến bộ đều xem việc giáo dục ở lứa tuổi
mầm non là khâu đầu tiên đặt nền tảng cho việc xây dựng nhân, do vậy việc
chăm sóc trẻ trước tuổi đến trường là điều rất quan quan trọng và cần thiết. Giáo
dục trẻ không chỉ dạy trẻ điều hay lẽ phải, không chỉ dạy trẻ những kiến thức sơ
đẳng về các môn học mà còn phải giáo dục trẻ biết tự lao động và biết yêu lao
động trong trường mầm non, giáo viên hãy tạo cơ hội cho trẻ cùng làm truyền cho
trẻ cảm hứng tình, yêu lao động. Như N.TRECNUSEVSKI đã nói “chỉ có lao động
mới làm cho tình cảm và sức lực con người trở nên tươi mát, mục tiêu của cuộc
sống, toàn bộ cuộc sống là ở đó ” Vì vậy trong trường mầm non phải làm tốt công
tác này để đáp ứng nhu cầu của xã hội là đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay hoạt động giáo dục lao động đã được các giáo viên trong trường
mầm non đưa vào trong hoạt động giáo dục của mình, ở độ tuổi mẫu giáo trẻ rất
hứng thú với lao động bằng những việc làm đơn giản như thu dọn đồ chơi hay tự
bỏ quần áo bẩn vào chậu có thể trở thành trò chơi thú vị và khiến trẻ có thái độ
tích cực hơn đối với lao động. Tuy nhiên không phải giáo viên nào cũng tạo cơ
1
1
2
2
3
3
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa lý luận.
6.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát,
phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt
động sư phạm.
6.3.Nhóm phương pháp toán học: Tổng hợp kết quả, thống kê số liệu.
7. Cấu trúc đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được trình bày
trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở
trường mầm non.
Chương 2: Thực trạng giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở
trường mầm non Quan Triều, thành phố Thái Nguyên.
Chương 3: Biện pháp giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở
trường mầm non Quan Triều, thành phố Thái Nguyên.
4
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LAO ĐỘNG CHO TRẺ
MẪU GIÁO 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lao động là phương tiện giáo dục có hiệu quả sâu sắc và toàn diện. Và nhờ
có lao động con trẻ mới tôi luyện được những đức tính tốt.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, bản thân tôi cũng có tìm hiểu và được biết
đã có những đề tài sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu về quá trình chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ: Một số biện pháp rèn thói quen trong ăn uống cho trẻ, một số
hoá có thể được ra đời hay không phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động.
Trong lao động một người có thể sử dụng một hay nhiều công cụ lao
động, có thể vận hành điều khiển một hay nhiều thiết bị mà mỗi loại thiết bị có
một mức độ hiện đại khác nhau.
Mối quan hệ giữa người với người trong lao động gồm quan hệ giữa lao
động quản lý và lao động sản xuất; Quan hệ giữa lao động công nghệ và lao
động phụ trợ; Quan hệ hiệp tác giữa các loại lao động.
Mọi quá trình lao động đều phải diễn ra trong một không gian nhất định, vì
thế con người có mối quan hệ mật thiết với môi trường xung quanh như: gió,
nhiệt độ, thời tiết, địa hình, khí hậu
Đối với trẻ mẫu giáo, hoạt động lao động là quá trình trẻ sử dụng những
năng lượng thần kinh và cơ bắp để thực hiện các hành động lao động giản đơn
để thỏa mãn các nhu cầu sống và phát triển của mình (gọi là lao động tự phục
vụ); bên cạnh đó, trẻ mẫu giáo còn tham gia vào các dạng hoạt động lao động
khác với tính chất là phương tiện trải nghiệm để nhận thức về thế giới và rèn
luyện các kỹ năng vận động, các phẩm chất đơn giản theo yêu cầu độ tuổi (lao
động trong thiên nhiên, lao động thủ công, lao động tập thể)
1.2.2 Giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non
Giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo là quá trình tổ chức có mục đích, có
kế hoạch của giáo viên mầm non nhằm bước đầu hình thành cho trẻ mẫu giáo
những hiểu biết sơ đẳng về lao động của người lớn những kĩ năng lao động đơn
6
6
gian phục vụ cho sinh hoạt, đồng thời hình thành cho trẻ những xúc cảm, tình
cảm tích cực đối với lao động.
1.2.3 Biện pháp giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo
Biện pháp giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo là hệ thống cách thức, cách
tổ chức cụ thể của giáo viên mầm non, nhằm hình thành và phát triển cho trẻ
những hiểu biết sơ đẳng về lao động của người lớn những kĩ năng lao động đơn
giản phục vụ cho sinh hoạt, đồng thời hình thành cho trẻ những xúc cảm, tình
thường xuyên thay đổi và đan xen các hoạt động nhằm phát triển cho trẻ cách
toàn diện hơn.
Hệ tuần hoàn: Tim của trẻ lúc 4- 5 tuổi, nặng gấp 4-5 lần lúc mới sinh,
mạch đập có chậm đi so với lúc mới sinh nhưng vẫn nhanh hơn so với người
lớn. Vì thế trẻ dễ bị mệt khi tham gia vào các hoạt động và có những xúc động
mạnh.
b. Về tâm lý
Tuổi mẫu giáo là giai đoạn cuối cùng của lứa tuổi mầm non – Là độ tuổi
trước khi đến trường phổ thông. Ở giai đoạn này những cấu tạo tâm lý đặc trưng
của con người đã được hình thành trước đây và đặc biệt là hình thành ở lứa tuổi
mẫu giáo nhỡ vẫn phát triển nhanh.
* Đặc điểm phát triển ngôn ngữ
Trong độ tuổi mẫu giáo ngôn ngữ của trẻ vẫn được phát triển mạnh, đặc
biệt là trong giao tiếp.
Giao tiếp được mở rộng nên ngôn ngữ của trẻ có tính tự chủ cao hơn so
với lứa tuổi trước. Vốn từ của trẻ mẫu giáo tích lũy được khá phong phú không
những về danh từ, động từ, tính từ, liên từ… Kết thúc tuổi mẫu giáo nhỡ trẻ có
khoảng 3000 đến 4000 từ trong đó có cả những từ khoa học. Trẻ nắm được các
vốn từ trong tiếng mẹ đẻ đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày. Trong
các hoạt động tập thể, trẻ đã có thể dùng ngôn ngữ để phân chia công việc,
nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm.
Một kiểu ngôn ngữ khác cũng đang phát triển trong độ tuổi mẫu giáo lớn
đó là kiểu ngôn ngữ giải thích. Trẻ có nhu cầu giải thích cho các bạn cùng độ
8
8
tuổi về nội dung của các công việc, cách thực hiện công việc, đồ dùng dụng cụ
cần sử dụng khi thực hiện công việc và nhiều chuyện khác. Có nghĩa là nó yêu
cầu phải có tính chặt chẽ và mạch lạc do đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc, kiểu
ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thành những
mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ và những người xung quanh đặc biệt là đối
riêng nó thể hiện trong các trò chơi và đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề
trong tranh vẽ và trong việc nghĩ ra chuyện cổ tích, trong hoạt động tạo hình
Trí tưởng tượng đóng vai trò quan trọng trong quá trình trẻ tham gia vào
hoạt động lao động thủ công. Nhờ trí tưởng tượng trẻ có thể hình dung, sáng tạo
ra các sản phẩm lao động mới lạ, hấp dẫn.
* Sự phát triển đời sống tình cảm
Đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo có một bước chuyển biến mạnh mẽ
phong phú và sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước khi chúng mở rộng các mối quan
hệ trong xã hội trẻ hiểu biết khám phá thế giới xung quanh. Trẻ biết yêu thương
ông bà cha mẹ anh chị của mình và sẵn sàng giúp đỡ khi cần, có các hành vi thể
hiện tình cảm như lấy nước cho bà uống, giúp đỡ mẹ quét nhà, lấy đồ dùng giúp
cô Trẻ rất dễ xúc động, chúng thèm khát sự trìu mến, yêu thương và lo sợ
trước thái độ thờ ơ lạnh nhạt của những người xung quanh đối với mình, thậm
chí trẻ còn biểu lộ tình cảm của mình đối với động vật, cỏ cây, thích thú khi
được tham gia vào các hoạt động chăm sóc cây cối, con vật.
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo
Trong lao động và thông qua lao động giúp cho trẻ mẫu giáo hình thành
những hiểu biết về lao động của người lớn bao gồm người lao động, ngành nghề
lao động, tính chất đặc trưng của ngành nghề, công cụ, phương tiện, sản phẩm
… hiểu được sự cố gắng nỗ lực của con người để tạo ra sản phẩm lao động
Hình thành những kĩ năng lao động đơn giản nhất là kĩ năng lao động tự
phục vụ, lao động thủ công, trực nhật …
Hình thành những phẩm chất cần thiết của con người:Tính độc lập, tinh
thần trách nhiệm, sự tự tổ chức và hành vi có tính mục đích. Trong lao động tập
thể, sự cố gắng lao động chung, công việc trong tập thể, sự giúp đỡ của người
lao động mối quan hệ phụ thuộc giữa mọi người trong lao động có thể tạo ra thái
độ đúng đắn với con người với nhau, hình thành ở trẻ lòng yêu lao động, sẵn
10
10
sàng lao động vì bản thân, vì người khác, biết yêu quý người lao động, sản phẩm
11
thức: Cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng.Trong quá trình lao động,
trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao lưu, trao đổi trình tự các hoạt động trong công
việc, phân công nhiệm vụ cho nhau và dùng ngôn ngữ để nhận xét đánh giá mức
độ hoàn thành công việc. Nhờ vậy mà giúp cho vốn từ và khả năng sử dụng
ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn.
- Đối với sự phát triển thẩm mĩ: Trong lao động trẻ thường hướng vào tạo ra
những sản phẩm đẹp, thích thú khi được cô và các bạn khen sản phẩm của mình.
Đồng thời khi tham gia lao động, nhờ sự hướng dẫn của người lớn trẻ nhận biết được
sản phẩm đẹp với sản phẩm xấu, biết yêu quý giữ gìn cái đẹp, muốn tạo ra cái đẹp.
1.3.4 Đặc điểm lao động của trẻ mẫu giáo
* Đặt mục đích
Lao động của trẻ mẫu giáo phải phục tùng các mục tiêu dạy học và giáo
dục mẫu giáo trong quá trình lao động, lúc đầu giáo viên phải đặt mục đích cho
trẻ. Song ở lứa tuổi mẫu giáo lại thường gặp những hành động theo trình tự.
Khác với những hành động có mục đích, nó có thể nhắc lại nhiều lần mà không
theo đuổi một nhiệm vụ nhất định, trẻ hành động vì thích thú, vì bản thân của
quá trình thực hiện hành động chứ chưa phải là kết quả của hành động. Tính hợp
lý của hành động xuất hiện trên cơ sở bắt chước. Ngay từ đầu sự bắt chước đã
mang tính chất trí tuệ, bản thân quá trình bắt chước đòi hỏi trẻ phải hiểu rõ ý
nghĩa hành động của người khác, không hiểu thì không thể bắt chước người lớn
đang dạy học, viết, xây nhà… bản thân sự bắt chước là một quá trình phức tạp
đòi hỏi phải có sự hiểu biết bước đầu. Hiểu hành động là một điều kiện của bắt
chước, là điều kiện quan trọng đối với hành động định hướng đơn giản đầu tiên
ở trẻ từ 1-2 tuổi. Sau này ở lứa tuổi 4-5 tuổi đó là một hình thức lao động trong
gia đình, lao động tự phục vụ và lao động thủ công.
Giáo viên cần giúp trẻ đạt được mục đích của hành động, nên tổ chức hoạt
động chơi theo nhóm từ 2-3 trẻ trong đó các em cần phối hợp hoạt động với
nhau. Giáo viên nên hướng dẫn gợi ý trẻ nhận thức và thực hiện được mục đích
đề ra đồng thời trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có thể tự xác định được mục đích trong
ở trẻ nhu cầu, thói quen và năng lực kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá.
Quá trình tổ chức lao động đúng đắn sẽ đem lại cho trẻ niềm vui, sự hứng
thú trong lao động từ đó giúp trẻ hình thành thái độ đúng đắn đối với lao động.
13
13
* Lao động và trò chơi
Xuất phát từ đặc điểm chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này mà lao động của trẻ
mẫu giáo có mối quan hệ mật thiết với trò chơi cụ thể:
Trẻ có nhu cầu, xu hướng đến với những hành động lao động trong quá
trình chơi.
Các nội dung và tính chất của lao động được thể hiện thông qua hành
động chơi của trẻ đặc biệt là trong các dạng trò chơi đóng vai theo chủ đề và lắp
ghép xây dựng (nội dung tính chất lao động của người lớn như các dạng lao
động cách sử dụng các phương tiện và công cụ, các mối quan hệ của người lao
động, sản phẩm).
Bên cạnh đó lao động và trò chơi của trẻ cũng có nhiều điểm khác biệt
Trong trò chơi trẻ không quan tâm đến kết quả, trò chơi hấp dẫn trẻ bởi
chính ý định của trẻ và quá trình chơi với các dạng hành động của nó. Vì thế trẻ
mẫu giáo có thể kết thúc trò chơi vào bất kì thời điểm nào trong mọi giai đoạn
phát triển của nó, ngay khi những hành động chơi không còn hấp dẫn nữa và nếu
chúng muốn trò chơi lại được bắt đầu lại từ đầu.
Hoạt động lao động của trẻ không giống vậy tính chất, nội dung, nguyên
nhân xuất hiện và động cơ của lao động có những đặc thù riêng. Trong hoạt
động lao động bao giờ trẻ cũng đặt ra mục đích (làm để làm gì?phải vệ sinh cá
nhân để giữ sức khỏe và bảo vệ cơ thể, xé dán những lá cờ để tặng cho các em
bé lớp dưới…) tìm các phương tiện và đối với trẻ mẫu giáo nhỡ còn biết lập kế
hoạch, thiết lập trình tự các hành động một cách hợp lý để đi đến kết quả. Kết
quả cuối cùng của lao động mà trẻ phải đạt được có ý nghĩa như yếu tố cơ bản
để phân biệt lao động của trẻ và trò chơi lứa tuổi này.
1.3.5. Các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động lao động cho trẻ
hàng ngày. Lao động sinh hoạt nhằm phục vụ chung cho tập thể, vì vậy có khả
năng to lớn để giáo dục thái độ quan tâm đến tập thể và các bạn. Hình thành và
phát triển cho trẻ những kĩ năng, kĩ xảo sinh hoạt sơ đẳng, có thể tự bầy bàn ăn,
chuẩn bị các đồ dùng cần thiết cho giờ học, giặt quần áo cho búp bê, quét sân.
Cách tổ chức: Bằng các công việc cụ thể, giáo viên giúp trẻ hình thành
các kĩ năng lao động trong sinh hoạt, tập cho trẻ thói quen tốt trong lao động,
phát triển tính độc lập tích cực, có óc sáng tạo và trách nhiệm trong các công
15
15
việc được giao. Khi được cô nhờ hay yêu cầu thực hiện, trẻ sẵn sàng hoặc tự
giác thực hiện một cách thích thú, không tị nạnh hay ghen tị với bạn khác.
Hình thức lao động này đòi hỏi trẻ phải hoàn thành các nhiệm vụ phục vụ
tập thể. Việc thực hiện nhiệm vụ góp phần hình thành ở trẻ tinh thần trách nhiệm
đối với các bạn, đối với tập thể và hứng thú lao động. Trong khi thực hiện nhiệm
vụ, trẻ phải tập trung ý chí thể hiện sự cố gắng để hoàn thành công việc và báo
cáo với giáo viên về việc hoàn thành nhiệm vụ. Nâng cao hơn nữa của lao động
tập thể là hình thức lao động trực nhật. Nó yêu cầu trẻ phải độc lập, trẻ lần lượt
tham gia các hình thức trực nhật được phân công trong mỗi ngày. Điều đó đảm
bảo cho trẻ tham gia lao động thường xuyên. Chế độ trực nhật có ý nghĩa giáo
dục to lớn, nó đặt trẻ vào trong điều kiện bắt buộc phải hoàn thành các công việc
cần thiết cho tập thể. Điều đó giúp trẻ nâng cao tinh thần trách nhiệm trước tập
thể và trẻ hiểu được công việc của mình là cần thiết cho mọi người.
Chế độ trực nhật đưa vào dần dần
Ở các trẻ nhỏ, chỉ đưa nhiệm vụ đơn giản là giúp cô phục vụ bày bàn ăn
cho các bạn ngồi cùng bàn, phân phát các đồ dùng, hoa quả, khi trẻ hình thành
các kĩ xảo cần thiết thì có thể đưa vào chế độ trực nhật. Nhà ăn- thường là đầu
năm học của lớp nhỡ, hàng ngày mỗi em được phân công trực nhật một bàn ăn,
cần phải hướng dẫn trẻ thực hiện thứ tự các công việc, kiểm tra giúp đỡ các em.
Cô đánh giá và nêu bật sự cố gắng của các em khi làm việc, ý thức quan tâm tới
bạn và giúp đỡ người lớn vào nửa năm sau của lớp nhỡ có thể thực hiện chế độ
công cho nhóm lớp, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi lớp, thay phiên công việc
giữa các nhóm (đảm bảo sự công bằng làm việc ưa thích hay không ưa thích)
Giáo viên cần quan tâm đến mối quan hệ giữa các trẻ, giúp đỡ hình thành
kĩ năng lao động có tổ chức trong tập thể và ý thức giúp đỡ lẫn nhau.
Khi trẻ lao động trong thiên nhiên có thể sử dụng cả hình thức lao động
chung và lao động phối hợp. Trẻ có thể tham gia không cùng một lúc vào quá
trình hoạt động, song vẫn tạo khả năng tập hợp trẻ trong công việc chung phức
tạp hơn. Giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm của trẻ và điều kiện tổ chức, căn cứ
vào mục tiêu giáo dục để tổ chức hoạt động lao động phù hợp với trẻ.
d. Lao động thủ công
17
17
Nhận diện: Là hình thức cho trẻ làm các dồ vật bằng các nguyên vật liệu
khác nhau như giấy, nhựa, bìa… hình thức này tiến hành ở các nhóm trẻ lớn. Trẻ
có thể làm đồ chơi như thuyền, nhà, xe ô tô….hoặc làm các đồ dùng phục vụ
cho việc học như các loại hoa, các loại quả
Ý nghĩa: Hình thức lao động này tạo điều kiện giáo dục kĩ thuật tổng hợp,
giúp trẻ bước vào thế giới kĩ thuật của người lớn đầy hấp dẫn. Lao động thủ công
làm phát triển óc tưởng tượng, năng lực thiết kế, các kĩ năng, kĩ xảo thực hành,
hứng thú lao động tìm hiểu các dụng cụ giản đơn ở trẻ (trẻ biết gắn các vật dụng
bằng ghim, ghép, hồ dán, băng treo…). Qua hình thức lao động này,trẻ sẽ tiếp thu
những khái niệm sơ đẳng về vật liệu, đồ dùng, tính chất và công dụng của chúng,
trẻ hiểu được tính chất phong phú của các loại vật liệu tự nhiên. Có thể giáo dục trẻ
nhiều đức tính tốt như kiên trì, tính mục đích và ý thức vượt khó để đạt được mục
đích, tỉ mỉ, cẩn thận, giáo dục trẻ óc thẩm mĩ, trí tưởng tượng sáng tạo.
Cách tổ chức: Để trẻ thực hiện được dạng lao động này cần dạy trẻ các kĩ
năng kĩ xảo tạo hình (cắt, nặn, xé dán, vẽ) để trẻ có khả năng thực hiện ý định
của mình. Có như vậy mới hình thành cho trẻ sự hứng thú và say mê trong lao
động sáng tạo. Giáo viên cũng cần chú ý đến sản phẩm lao động tạo hình của
trẻ, không được lơ là hay thiên vị hơn một sản phẩm nào đó vì như vậy sẽ làm
hoạt động và đánh giá thường xuyên.
Như vậy có thể nói, việc giáo viên có trình độ về kiến thức, kỹ năng tổ chức
và thường xuyên cho trẻ tham gia hoạt động lao động sẽ giúp trẻ nhanh chóng có
những hiểu biết sơ đẳng về lao động của người lớn và kỹ năng lao động.
b. Đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo
Xuất phát từ những đặc điểm phát triển của trẻ về thể lực, về hệ cơ hệ
xương, về đặc điểm phát triển nhận thức, đặc điểm phát triển ngôn ngữ cho thấy
trong lứa tuổi này, trẻ đã có thể hoàn toàn có khả năng thực hiện tốt các hoạt động
lao động. Tuy nhiên không phải đứa trẻ nào cũng có sự phát triển đồng đều cả về
thể chất lẫn trí tuệ, vì vậy việc tổ chức các hoạt động lao động cần phải phụ thuộc
vào đặc điểm phát triển cá nhân của trẻ. Cần phải có được cách thức tổ chức lao
động tốt, mỗi trẻ cần có được chế độ lao động khác nhau, mỗi nhóm lớp cần có
cách thức tổ chức khác nhau.Ví dụ: Với những trẻ có thể lực yếu, cần cho trẻ tham
19
19
gia hoạt động nhẹ nhàng hơn, hoặc với những trẻ chưa tích cực tham gia vào các
hoạt động tập thể thì cần phải có biện pháp thu hút, hướng dẫn trẻ tham gia tích cực
hơn
c. Sự kết hợp của gia đình
Gia đình giữ vai trò nền tảng trong sự phối hợp giữa nhà trường và xã hội.
Cô giáo có thực hiện các nhiệm vụ giáo dục tốt đến đâu nhưng nếu ko được sự
quan tâm, phối hợp thực hiện cùng với phụ huynh học sinh thì kết quả đạt được
cũng không cao.Vì trong lứa tuổi này, trẻ học thông qua cách bắt chước hành vi
của người lớn rất nhiều. Và nếu không có sự thống nhất giáo dục giữa phụ
huynh và giáo viên sẽ khiến cho trẻ hoang mang, mất lòng tin với người lớn và
không nhận thức rõ ràng được rằng hành động nào là đúng, hành động nào là
sai. Ví dụ: Ở lớp trẻ được cô dạy là phải thường xuyên giữ vệ sinh thân thể, rửa
tay rửa mặt chải răng hàng ngày, nhưng khi về nhà thấy bố hoặc mẹ không làm
đúng như vậy sẽ khiến trẻ lơ là trong việc thực hiện các thao tác vệ sinh đó và
những lần sau cũng sẽ bỏ ngoài tai những lời cô giáo dặn.
Như vậy ta có thể thấy cơ sở vật chất cũng là điều kiện cần thiết để giáo
dục tốt lao động cho trẻ mẫu giáo.
1.4.Kết luận chương 1
Giáo dục lao động là một nội dung và nhiệm vụ quan trọng trong việc
phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
Nhiệm vụ của giáo dục lao động là giúp trẻ tìm hiểu lao động của người
lớn,giáo dục kỹ năng kỹ xảo lao động, giáo dục trẻ yêu lao động.
Tổ chức hoạt động lao động cho trẻ là đưa trẻ tham gia vào các loại hình
loại hình lao động tự phục vụ, lao động thủ công, lao động trực nhật, lao động
trong thiên nhiên.
Kết quả của công tác giáo dục lao động cho trẻ ở trường mầm non phụ thuộc
vào các yếu tố: Trình độ của giáo viên, đặc điểm của trẻ, gia đình, cơ sở vật chất.
Như vậy là một giáo viên mầm non cần phải nắm vững được các vấn đề
trên, đảm bảo có đầy đủ kiến thức và kỹ năng sư phạm cần thiết để giáo dục lao
động một cách tốt nhất cho trẻ. Bên cạnh đó thì giáo viên phải tự nghiên cứu và
tìm hiểu qua các phương tiện thông tin đại chúng như vậy giáo viên mới có sự
định hướng đúng và và có nhiều sáng tạo trong việc giáo dục lao động cho trẻ
trong trường mầm non.
21
21
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LAO ĐỘNG CHO TRẺ MẪU
GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON QUAN TRIỀU- TP THÁI NGUYÊN
2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng
2.1.1. Khái quát về Trường mầm non Quan Triều, thành phố Thái Nguyên
Trường mầm non Quan Triều, thành phố Thái Nguyên là một ngôi trường
được thành lập từ năm 1997. Khi mới được thành lập trường chỉ có 4 lớp học với 8
giáo viên tại tổ 23, phường quan Triều, thành phố Thái Nguyên. Đến năm 2000
trường sát nhập cùng với đơn vị Xây Lắp của khu công nghiệp Bắc Thái. Trong
những thời gian đầu hoạt động trường gặp rất nhiều khó khăn, lớp học chưa kiên
cố, đồ dùng đồ chơi thiếu thốn. Nhiều lớp học phải học nhờ nhà văn hóa của tổ.
- Điều tra bằng phiếu an két
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê toán học
2.2. Thực trạng nhận thức về giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo ở
trường mầm non
Trong trường mầm non không phải giáo viên nào cũng nhận thức được và
nhận thức đúng về giáo dục lao động cho trẻ trong trường mầm non, vì thế dẫn
đến việc xem nhẹ việc giáo dục lao động cho trẻ trong trường mầm non. Vì giáo
viên coi đây không phải là nội dung cần thiết để giáo dục trẻ, nên một số giáo
viên cũng đã có sự định hướng chưa chuẩn trong việc giáo dục của mình.
2.2.1. Nhận thức về khái niệm lao động, giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo
Khái niệm giáo dục lao động và giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo, đây là
những khái niệm mà giáo viên dễ tìm thấy trong các tài liệu về giáo dục học
mầm non 3, hay trên mạng internet, những việc hiểu rõ về khái niệm đó thì chưa
hẳn giáo viên nào cũng nhận thức được sâu sắc, chính vì thế qua quá trình khảo
sát về sự nhận thức của giáo viên chúng tôi đưa ra câu hỏi và để nắm bắt thông
tin về nhận thức của giáo viên về giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo chúng tôi
23
23
sử dụng câu hỏi số 1 (phụ lục, trang 46 ) và khảo sát 15 giáo viên trong trường
và kết quả như sau:
Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về các khái niệm:
TT Các khái niệm
Ý kiến đánh giá
Đồng
ý
Phân
vân
Không
(66,6%)
2/15
(13,4%)
3/15
(20%)
3
Biện pháp giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo
4-5 tuổi là hệ thống cách thức, cách tổ chức
cụ thể của giáo viên mầm non, nhằm hình
thành và phát triển cho trẻ những hiểu biết sơ
đẳng về lao động của người lớn những kĩ
năng lao động đơn giản phục vụ cho sinh
hoạt, đồng thời hình thành cho trẻ những xúc
cảm, tình cảm tích cực đối với lao động
10/15
(66,6%)
2/15
(13,4%)
3/15
(20%)
* Nhận xét bảng 2.1:
Với kết quả khảo sát ở bảng trên ta thấy rằng, các giáo viên trong trường vẫn
còn nhiều ý kiến về các khái niệm. Số ý kiến đồng ý với các khái niệm chiếm tỉ lệ từ
66,6% - 73,3%, trong đó 66,6% giáo viên nhận thức đúng về khái niệm hoạt động
24
24
lao động của trẻ mẫu giáo, 73,3% giáo viên nhận thức đúng về khái niệm biện pháp
giáo dục lao động và giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo. Số ý kiến không đồng ý
với các khái niệm chiếm từ 6,6%- 20%, trong đó 20% giáo viên nhận thức chưa
đúng về khái niệm biện pháp giáo dục lao động và giáo dục lao động cho trẻ mẫu
Phát triển trí tuệ 5/15
(33,3%)
8/15
(53,3%)
2/15
(13,3%)
3
Phát triển thẩm mĩ 7/15
(46,7%)
6/15
(40%)
2/15
(13,3%)
4
Phát triển thể chất 9/15
(60%)
6/15
(40%)
0
(0%)
5
giúp trẻ có những hiểu biết sơ đẳng về
lao động của người lớn
12/15
(80%)
3/15
(20%)
0
(0% )
6