BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
***
KHÚC THỊ HUYỀN TRANG
XÁC ðỊNH MỨC PROTEIN THÍCH HỢP CHO LỢN CON LAI
(Du x LY) TỪ 7 – 28 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI GIỐNG LỢN
DABACO, TÂN CHI – TIÊN DU – BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là trung
thực và ñược thực hiện nghiêm túc tại phòng phân tích của nhà máy sản xuất
thức ăn TOPFEEDS và công ty lợn giống Tân Chi – Tiên Du – Bắc Ninh
thuộc công ty Cổ phần tập ñoàn DABACO Việt Nam.
Tôi xin cam ñoan, mọi sự giúp ñỡ cho luận văn này ñã ñược cảm ơn và
các thông tin trích dẫn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc.
Học viên
Khúc Thị Huyền Trang
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia ñình, bạn bè và tất cả mọi
người ñã luôn dành cho tôi sự quan tâm và giúp ñỡ.
Hà Nội , ngày tháng năm 2013
Học viên Khúc Thị Huyền Trang
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… iii
MỤC LỤC Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục ñồ thị, biểu ñồ vii
Danh mục các chữ viết tắt viii
MỞ ðẦU 1
1 ðặt vấn ñề 1
2 Mục tiêu của ñề tài 2
3 Ý nghĩa của ñề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 ðặc ñiểm sinh lý của lợn con 3
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Thành phần hóa học của một số loại nguyên liệu thức ăn 44
3.1.1 Thành phần hóa học của bột cá 47
3.1.2 Thành phần hóa học của ñậu tương ép ñùn 50
3.1.3 Thành phần hóa học của khô dầu ñậu tương 51
3.1.4 Thành phần hóa học của ngô ép ñùn 52
3.1.5 Thành phần hóa học của tấm gạo 54
3.1.6 Thành phần hóa học của bột huyết tương 54
3.1.7 Thành phần hóa học của các sản phẩm sữa ngọt 55
3.1.8 Thành phần hóa học của mỡ cá, dầu ñậu tương 56
3.2 Sản xuất thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn 56
3.2.1 Công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn 56
3.2.2 Thành phần hoá học của công thức cho lợn con tập ăn 58
3.3 Ảnh hưởng của thức ăn thí nghiệm ñến lợn con từ 7 – 28 ngày tuổi 59
3.3.1 Khối lượng cơ thể lợn con từ 7 - 28 ngày tuổi 59
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… v
3.3.2 Sinh trưởng tuyệt ñối của lợn con từ 7 - 28 ngày tuổi 64
3.3.3 Sinh trưởng tương ñối của lợn con từ 7 - 28 ngày tuổi 67
3.3.4 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm 68
3.3.5 Tình hình mắc bệnh tiêu chảy và hô hấp 73
3.3.6 Hiệu quả của việc sử dụng 3 loại thức ăn thí nghiệm 75
KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 ðề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
3.4 Khối lượng lợn con thí nghiệm từ 7 – 28 ngày tuổi (kg/con) 60
3.5 Sinh trưởng tuyệt ñối của lợn con thí nghiệm từ 7 – 28 ngày tuổi 65
3.6 Sinh trưởng tương ñối của các lô lợn thí nghiệm (%) 68
3.7 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm từ 7 - 21
ngày tuổi
69
3.8 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm từ 21 - 28
ngày tuổi
71
3.9 Tình hình mắc bệnh tiêu chảy và hô hấp của 3 lô thí nghiệm 74
3.10 Hiệu quả của việc sử dụng 3 loại thức ăn thí nghiệm 77
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… vii
DANH MỤC ðỒ THỊ, BIỂU ðỒ
ðồ thị 3.1: Khối lượng lợn con thí nghiệm từ 7 – 28 ngày tuổi 61
Biểu ñồ 3.2: Khối lượng lợn con thí nghiệm từ 7 – 28 ngày tuổi 64
Biểu ñồ 3.3: Sinh trưởng tuyệt ñối của các lô thí nghiệm 67
Biểu ñồ 3.4: Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm từ 7 – 28
ngày tuổi
72
Comment [AP1]:
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… viii
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 1
MỞ ðẦU
1. ðặt vấn ñề
Chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó
không những ñáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi
người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệu
người dân hiện nay. Trong ñó, chăn nuôi lợn ñóng góp một phần không nhỏ cho
sự phát triển của ngành chăn nuôi và ñem lại rất nhiều lợi ích cho con người.
ðể nâng cao ñược hiệu quả trong chăn nuôi lợn, các nhà nghiên cứu ñã
khai thác ở mọi góc ñộ như việc cải tạo con giống, các kiểu thiết kế chuồng
trại thuận tiện và phù hợp nhất, các nhu cầu của lợn về nhiệt ñộ, ñộ ẩm, cách
quản lý,… Một yếu tố ñược cho là khâu kĩ thuật then chốt ñó là chất lượng và
giá thành của thức ăn. Yếu tố này chiếm khoảng 70% tổng giá thành sản
phẩm chăn nuôi. Do ñó, việc nghiên cứu ñể xây dựng ñược những khẩu phần
ăn phù hợp cho từng giai ñoạn phát triển của mỗi loại lợn sẽ nâng cao năng
suất và hiệu quả chăn nuôi.
Trong quá trình phát triển của lợn thì ở giai ñoạn lợn con theo mẹ ñến khi
lợn con sau cai sữa có thể coi là quan trọng nhất vì ñây là giai ñoạn chuyển
tiếp từ thức ăn hoàn toàn là sữa mẹ sang ăn bộ bằng các loại thức ăn rắn và
giai ñoạn này còn quyết ñịnh toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển của lợn
ở các giai ñoạn sau. Ngoài ra các kết quả nghiên cứu cho thấy nếu kéo dài
thời gian nuôi con sẽ làm giảm năng suất lợn nái. Vì vậy, trên thế giới ñặc biệt
ở các nước phát triển người ta ñã áp dụng phương thức cai sữa sớm cho lợn
con. Việc cai sữa sớm thành công và ñàn lợn con phát triển tốt sau khi cai sữa
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. ðặc ñiểm sinh lý của lợn con
1.1.1.1. ðặc ñiểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ
Lợn con có tốc ñộ sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không ñều qua các
giai ñoạn, nhanh nhất là 21 ngày ñầu và sau 21 ngày tốc ñộ sinh trưởng giảm.
Trường hợp này xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa
của lợn mẹ tiết ra bắt ñầu giảm xuống và hàm lượng hemoglobin trong máu của
lợn con giảm. Thời gian lợn con giảm tốc ñộ phát triển thường kéo dài khoảng 2
tuần gọi là giai ñoạn khủng hoảng của lợn con. Hiện tượng này có thể hạn chế
ñược bằng cách tập cho lợn con ăn sớm và bổ sung sắt kịp thời.
Theo Trương Lăng (1994) cho biết do lợn con có tốc ñộ sinh trưởng
nhanh nên khả năng tích lũy protein mạnh. Khối lượng lợn con lúc 10, 20, 30,
40, 50, 60 ngày tuổi lần lượt tăng gấp 2, 4, 6, 8, 10, 14 lần lúc sơ sinh; cụ thể:
lợn con ở 20 ngày tuổi, mỗi ngày tích ñược 9 – 14g protein/kg khối lượng cơ
thể; trong khi lợn lớn mỗi ngày chỉ tích ñược 0,3 - 0,4g protein/kg khối lượng
cơ thể. ðể tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng hơn, nghĩa là
enzyme tăng lên theo ñộ tuổi một cách rõ rệt, cụ thể: 9 ngày tuổi tiêu hoá
30mg fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2 - 3 giờ, ñến 50 ngày tuổi chỉ
cần 1 giờ (Nguyễn Xuân Tịnh và cs, 1996). Khi cho 3g pepsin và 500ml HCl
0,4% vào thức ăn cho lợn 3 – 4 ngày tuổi sẽ kích thích tiết dịch vị và tăng sức
tiêu hoá của lợn con.
Theo Trương Lăng (1994), lợn con khi mới sinh có khả năng tiêu hoá
protein rất hạn chế do axit HCl ít, enzyme pepsin hoạt ñộng kém. Hoạt lực
của enzyme pepsin tăng lên theo ngày tuổi do ñó khả năng tiêu hoá protein
cũng tăng lên. Ở 28 ngày tuổi pH dạ dày là 5,3 – 5,5; ở 56 ngày tuổi pH dạ
dày là 4 và lúc này khoảng 50% protein ñược thuỷ phân ở dạ dày.
Khả năng ngưng kết sữa của dịch vị lợn con cũng thay ñổi theo tuổi,
lượng chymosine tăng lên trước 1 tháng tuổi, sau ñó bị giảm. ðộ miễn dịch
của lợn con thường ñược ñánh giá ở nồng ñộ γ-globulin trong máu của lợn
con. 24 giờ sau khi lợn con bú sữa ñầu hàm lượng γ-globulin trong máu lợn
ñạt 20,3 mg/100ml máu, hàm lượng γ-globulin trong máu ñược tăng lên
chậm dần, ñến 3 tuần tuổi chỉ ñạt khoảng 24 mg/100ml máu (máu bình
thường của lợn trưởng thành có khoảng 65,0 mg γ-globulin/100ml máu.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 5
Hàm lượng γ-globulin tăng lên là do cơ thể lợn con ñã có ñáp ứng miễn
dịch thụ ñộng. Một vài nghiên cứu ñã phát hiện rằng miễn dịch thụ ñộng có
thể kéo dài tới vài tháng.
Những γ-globulin có phân tử lượng lớn có thể hấp thu bởi ruột chỉ trong
vòng 36 giờ mà không bị mất hoạt tính miễn dịch. Chất ức chế trypsin ở sữa
ñầu ñã hạn chế sự phân giải các protein miễn dịch của trypsin trong 1 - 2 ngày
ñầu của lợn sau khi sinh. Sau ñó khả năng hấp thu của niêm mạc ruột ñối với
phân tử globulin giảm là do nồng ñộ chất ức chế này giảm dần.
60 ngày tuổi
1,80 2,00 5,50
+ Dung tích ruột già của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc
20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc
sơ sinh khoảng 0,04 lít).
Chức năng của cơ quan tiêu hoá chưa hoàn thiện do một số enzyme tiêu
hoá thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần tuổi ñầu. Lợn con ở 15 -
21 ngày tuổi, enzyme tiêu hoá của lợn con chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa
(chymosin, chymotrypsin cho tiêu hoá protein sữa, lipase cho lipit và lactase
cho lactose). Bắt ñầu từ 3 tuần tuổi hoạt tính enzyme tiêu hoá tinh bột (ngũ
cốc) và protein thực vật (khô ñỗ tương) phát triển nhanh.
- Enzyme pepsin: ðây là enzyme có khả năng tiêu hoá protein của thức
ăn và là enzyme chủ yếu của dịch vị dạ dày. Khoảng 25 ngày ñầu enzyme
pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn,
vẫn ở dạng không hoạt ñộng (pepsinogen) vì trong dịch vị chưa có HCl ở
dạng tự do. Sau 25 ngày tuổi, dịch vị lợn con mới có HCl ở dạng tự do và
enzyme pepsinogen không hoạt ñộng ñược HCl hoạt hoá thành enzyme
pepsin hoạt ñộng và lúc này enzyme mới có khả năng tiêu hoá protein. HCl ở
dạng tự do còn có ý nghĩa sinh lý quan trọng, là yếu tố chính quyết ñịnh ñộ
axít của dịch vị. Dịch vị tiết ra càng nhanh thì HCl càng nhiều. Ngoài ra, HCl
tự do còn có tác dụng diệt khuẩn khi vi khuẩn lẫn trong thức ăn ở dạ dày.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 7
Do thiếu HCl ở dạng tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi
khuẩn có hại xâm nhập vào ñường tiêu hoá gây bệnh ñường dạ dày - ruột ở
Lợn con dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số enzyme tiêu hoá có hoạt tính
mạnh như: enzyme trypsin, cathepsin, lactase, lipase và enzyme chymosin.
- Enzyme trypsin: Trong thời kì bú sữa, enzyme pepsin hoạt ñộng kém,
tiêu hoá protein của sữa nhờ enzyme trypsin của dịch tuỵ. ðây là enzyme tiêu
hoá protein của thức ăn. Thai lợn 2 tháng trong chất chiết ñã có enzyme
trypsin, thai càng lớn hoạt tính của enzyme trypsin càng cao. Khi lợn con mới
ñẻ ra hoạt tính của enzyme trypsin dịch tụy rất cao ñể bù ñắp khả năng tiêu
hoá kém của enzyme pepsin dạ dày.
- Enzyme cathepsin: Là enzyme tiêu hoá protein sữa. ðối với lợn con
ở 3 tuần tuổi ñầu enzyme cathepsin có hoạt tính mạnh và sau ñó hoạt tính
giảm dần.
- Enzyme lactase: Có tác dụng tiêu hoá ñường lactose trong sữa.
Enzyme này có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới ñẻ ra và tăng cao nhất
ở tuần tuổi thứ 2, sau ñó hoạt tính của enzyme này giảm dần.
Tuy nhiên, khi thay thế sữa mẹ bằng một chế ñộ thức ăn sẽ có những rối
loạn về tiêu hoá do thiếu một số enzyme cần thiết. Khẩu phần ăn cho lợn con
cần bổ sung protein ñộng vật tới mức cần thiết vì việc tiêu hóa protein thực
vật trong giai ñoạn này khó hơn so với việc tiêu hóa protein ñộng vật. Nếu cai
sữa ở 5 tuần tuổi thì lợn con sử dụng ñược protein thực vật tương ñối dễ dàng.
Nếu cai sữa ở 2 tuần tuổi, lợn con sử dụng rất ít hoặc không sử dụng
ñược carbohydrate do thiếu enzyme amylase tuỵ và maltase ruột. Amylase
trong nước bọt cao nhất khi lợn con ñược 2 - 3 tuần tuổi, sau ñó giảm ñi 50%.
Amylase tụy lúc ñầu kém sau tăng mạnh từ tuần tuổi thứ 3 ñến tuần tuổi thứ
5. ðây là thời ñiểm thuận lợi ñể tiến hành việc cai sữa cho lợn con vì nó thích
ứng với sinh lý tiêu hóa của lợn con và ñáp ứng cho một chế ñộ ăn mới.
1.1.1.3. ðặc ñiểm về ñiều tiết thân nhiệt
Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng có thể thải ra môi
trường xung quanh, ngược lại sự thay ñổi nhiệt ñộ môi trường lại ảnh hưởng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
3 tuần tuổi, khả năng ñiều hòa thân nhiệt của lợn con có thể ổn ñịnh ñể ñáp
ứng với môi trường bình thường bên ngoài. Do khả năng ñiều hòa thân nhiệt
kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bện tật, nhất là bệnh ỉa phân trắng.
Trên cơ thể lợn con, phần thân có nhiệt ñộ cao hơn phần chân và phần
tai. Ở phần thân thì nhiệt ñộ phần bụng là cao nhất, cho nên khi bị lạnh thì
phần bụng bị mất nhiều nhiệt nhất (Siler và cs, 1965).
Sau 3 tuần tuổi cơ năng ñiều tiết nhiệt của lợn con mới tương ñối hoàn
chỉnh và thân nhiệt của lợn con ñược ổn ñịnh hơn 39,00 - 39,45
0
C. Lúc mới
sinh thân nhiệt của lợn con là 38,5 – 39,0
0
C. Chuồng lạnh là nguyên nhân trực
tiếp và gián tiếp (mẹ ñè chết con) của tỷ lệ tử vong lợn con nuôi ñến cai sữa.
Lợn chết trong 48 giờ là 12,1% khi nhiệt ñộ chuồng nuôi là 20 - 25
0
C so với
7,7% khi nhiệt ñộ chuồng lớn hơn 25
0
C (Vũ Duy Giảng, 2001).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 10
Thân nhiệt của lợn con sau khi ñẻ khoảng 38
0
C, sau 10 ngày tăng lên
39,5
0
ñương với 1 lít sữa. Ở nhiệt ñộ trung hoà, năng lượng này chỉ ñủ cho 2
ngày.Sống trong chuồng lạnh năng lượng tiêu hao nhanh, glycogen huyết lúc
ñầu cao sau ñó cũng giảm nhanh, nguy cơ tử vong rất lớn vì không còn năng
lượng dự trữ khi gặp những bất lợi khác. Khi phải chống chịu với lạnh,
glycogen nhanh chóng bị cạn kiệt. Ở nhiệt ñộ 30
0
C, lợn con tiêu thụ lượng
glycogen là 11,2g/kg khối lượng. Lợn con mất 9,5 kcal/giờ ở nhiệt ñộ chuồng
30
0
C và mất 15,7kcal/giờ ở nhiệt ñộ 20
0
C. Hơn nữa, ở ñiều kiện chuồng lạnh
thì việc bú sữa ñầu cũng giảm. Lợn nuôi ở 18 - 20
0
C lượng sữa ñầu tiêu thụ
giảm 27% so với lợn nuôi ở 30 - 32
0
C. Lợn nhẹ cân lượng sữa ñầu tiêu thụ
giảm. Ngoài ra, lợn 400g phải mất 41 phút mới tìm ñược vú mẹ còn lợn lớn
hơn 1000g chỉ cần 31 phút (Vũ Duy Giảng, 2001).
Các kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy rằng khả
năng chịu ñựng và sự thích nghi của lợn con ñối với môi trường bên ngoài
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 11
còn thấp, làm cho khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con bị hạn chế và
có thể dễ nhiễm bệnh dẫn ñến tỷ lệ nuôi sống thấp.Trong chăn nuôi, thường
12
Nguồn thức ăn cung cấp năng lượng: Là những loại giàu năng lượng, dễ
tiêu hóa như : ngô, gạo, cám mì, cám gạo loại 1. Những loại thức ăn tinh này
cũng cần chế biến thành dạng dễ tiêu cho lợn. Ngoài ra trong chăn nuôi bán
thâm canh có thể bổ sung thêm rau xanh ñể tăng tính ngon miệng cho lợn con.
Tuy nhiên, tránh cho lợn con ăn quá nhiều xơ (hàm lượng xơ <5% so với
VCK khẩu phần) .
1.1.2.2. Nhu cầu về protein và các axit amin
Protein là nguyên liệu quan trọng cấu tạo nên tế bào. Cơ của lợn chiếm
35 – 40% protein, lợn con có tốc ñộ phát triển mạnh về hệ cơ, khả năng tích
luỹ protein lớn do ñó ñòi hỏi số lượng và chất lượng protein cao. Lợn con
theo mẹ cần cung cấp 21 - 23 % protein thô trong khẩu phần.
Lợn con bú sữa có tốc ñộ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy
protein lớn, do ñó ñòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao. Trong hai
tuần tuổi ñầu, lợn con hầu như ñã nhận ñầy ñủ lượng protein cần thiết cho
sinh trưởng phát triển của cơ thể từ sữa mẹ. Tới tuần tuổi thứ 3 cần bổ sung
thêm protein ñể không ảnh hưởng ñến sinh trưởng của lợn con.Trong thức ăn
gia súc người ta ñã tìm ñược thành phần cấu tạo cơ bản của protein là axit
amin. Do vậy, nhu cầu về protein cũng chính là nhu cầu về axit amin. Axit
amin ñược chia làm 2 loại: axit amin không thay thế ñược là loại axit amin rất
cần thiết cho cơ thể ñộng vật, cho quá trình sinh trưởng và phát triển của
chúng, nó không tự tổng hợp ñược mà phải lấy từ bên ngoài qua thức ăn. Có 9
axit amin mà cơ thể lợn không thể tự tổng hợp ñược là: lysine, tryptophan,
valine, leucine, isoleucine, threonine, methionine, phenylalanine, histidine.
Trong khẩu phần ăn của lợn thường thiếu một số loại axit amin nên cần phải
bổ sung thêm, trong thực tế người ta thường bổ sung các axit amin công
nghiệp (Nguyễn Thị Lương Hồng, 1999). Vì vậy, việc quan tâm ñến lượng
protein trong thức ăn là rất quan trọng, ñặc biệt, trong trường hợp chỉ sử dụng
thức ăn ăn vào của lợn ñều giảm. Nếu giảm lượng axit amin thừa khỏi khẩu
phần thì lợn sẽ nhanh chóng trở lại bình thường.
Hiện nay, xu hướng sử dụng khẩu phần ăn giảm mức protein tổng số có
bổ sung thêm các axit amin tổng hợp ñang ñược nghiên cứu nhiều trên thế
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 14
giới. ðể áp dụng vấn ñề này, chúng ta cần phải hiểu biết rõ một số nguyên tắc
cơ bản khi sử dụng các axit amin tổng hợp cho lợn như sau: thứ nhất, việc sử
dụng axit amin tổng hợp sẽ không có hiệu quả trừ khi trong thức ăn thiếu loại
axit amin ñó, nghĩa là chúng ta không nên bổ sung thêm lysine vào khẩu phần
mà ñã có ñủ lượng lysine cho nhu cầu của lợn. Tuy nhiên, khi khẩu phần có
hàm lượng protein thấp và thiếu lysine thì việc bổ sung thêm lysine sẽ làm
tăng thêm năng suất chăn nuôi. Thứ hai, việc bổ sung axit amin thiết yếu thứ
hai trong trường hợp axit amin thiết yếu thứ nhất vẫn bị thiếu cũng không có
hiệu quả, thậm chí còn gây hậu quả xấu. Việc bổ sung methionine vào khẩu
phần mà vẫn thiếu lysine sẽ không có hiệu quả ngay cả khi thiếu methionine.
Nếu trong khẩu phần mà lysine bị thiếu hụt hơn methionine thì trước hết
chúng ta phải bổ sung lysine, rồi mới bổ sung methionine. Một ñiều quan
trọng là chúng ta phải hiểu ñược thứ tự của các axit amin sẽ trở thành axit
amin thiết yếu khi giảm lượng protein trong khẩu phần. Nếu giảm 45,4kg khô
dầu ñậu tương trong 1 tấn thức ăn tương ñương với giảm 2% protein tổng số
trong khẩu phần. Tuy nhiên, khi giảm lượng protein trong khẩu phần có bổ
sung ñủ lysine nhưng sinh trưởng của lợn vẫn bị giảm; ñó là do các axit amin
khác ñã bị thiếu khi giảm khô ñậu tương. Có thể khắc phục hiện tượng này
bằng việc bổ sung thêm threonine, tryptophan và methionine tổng hợp cùng
lysine. Ưu ñiểm nổi bật của việc sử dụng khẩu phần có mức protein thấp
nhưng ñược bổ sung thêm axit amin tổng hợp cho lợn là tác ñộng tích cực ñến
non yêu cầu canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi
giảm, nhu cầu photpho tăng lên. ðể ñảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp thu
và sử dụng canxi, photpho tốt, tránh hiện tượng còi xương, ở gia súc non cần
chú ý cung cấp ñầy ñủ, cân ñối canxi, photpho (ñối với gia súc non tỷ lệ
Ca/P thích hợp là 1,5 - 2/1).
Giai ñoạn lợn con phát triển rất mạnh cả hệ cơ và hệ xương nên nhu cầu
chất khoáng cũng rất cao ở giai ñoạn này. Trong khẩu phần thức ăn, nhu cầu
các khoáng chất như sau: