nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Ngân hàng
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH
NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Đỗ Diệu Linh
Mã sinh viên : 0853030094
Lớp : Anh 4 – Khối 2 TC
Khóa : 47
Người hướng dẫn khoa học : Thạc sĩ Lê Thành Tuyên
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Ngân hàng
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH
NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Đỗ Diệu Linh
Mã sinh viên : 0853030094
Lớp : Anh 4 – Khối 2 TC
Khóa : 47
Người hướng dẫn khoa học : Thạc sĩ Lê Thành Tuyên
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
MỤC LỤC

24. TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
25. USD : United States Dollars – Đô la Mỹ
26. VAS : Vietnam Accounting Standard – Chuẩn mực kế toán Việt
Nam
27. VBARD : Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development –
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
28. VCCI : Vietnam Chamber of Commerce and Industry – Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
29. VNĐ : Đồng Việt Nam
30. VPĐD : Văn phòng đại diện
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
Danh mục bảng:
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của BIDV giai đoạn 2006 – 2011 32
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2006 – 2011 37
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu giai đoạn 2006 – 2011 39
Danh mục hình vẽ:
Hình 2.1: Mô hình tổ chức của NHTMCP BIDV 28
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức tại Hội sở chính NHTMCP BIDV 29
Hình 2.3: Biểu đồ tăng trưởng vốn huy động giai đoạn 2006 – 2011 33
Hình 2.4: Biểu đồ cơ cấu tín dụng theo loại hình năm 2010 34
Hình 2.5: Biểu đồ cơ cấu tín dụng theo loại hình năm 2011 35
Hình 2.6: Biểu đồ cho vay và tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2006 – 2011 36

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là loại hình DN đặc biệt có liên quan đến tất cả các lĩnh vực hoạt
động kinh doanh của nền kinh tế và toàn bộ đời sống xã hội. Hoạt động ngân hàng
phát triển không ngừng cùng với công nghệ thông tin, phục vụ hầu hết các tiện ích,
nhu cầu của con người. Cùng với các ngành kinh tế khác, ngân hàng có nhiệm vụ
tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công ăn việc

1
.
Đối với BIDV, hoạt động tín dụng nói chung và công tác thẩm định nói riêng
trong những năm gần đây khá tốt, dư nợ tín dụng cao, tỷ lệ nợ quá hạn giảm. Tuy
nhiên, hiệu quả hoạt động tín dụng vẫn chưa được như mong muốn. Trong lộ trình
cổ phần hóa, Ngân hàng cần nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng để phù hợp với
xu thế hội nhập cũng như thị trường đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt như hiện
nay.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng thẩm
định tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” nhằm mục đích đưa ra những giải pháp có
căn cứ khoa học và thực tiễn, góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế để
nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định tín dụng tại BIDV.
Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
2
, hoạt động tín dụng bao gồm nhiều
hoạt động như chiết khấu, bảo lãnh, cho vay, cho thuê…Song trong khóa luận này
tôi chỉ đề cập tới chất lượng thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay khách
hàng doanh nghiệp.
2. Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu
– Mục đích:
Nghiên cứu và đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng DN, thực trạng hoạt
động thẩm định tín dụng DN của BIDV trong điều kiện hiện nay.
Một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng DN
từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
– Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận tập trung chủ yếu vào các yếu tố nội tại cũng như các yếu tố môi
trường tác động đến chất lượng thẩm định tín dụng DN của BIDV.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận: Khóa luận tập trung nghiên cứu thực
trạng, các giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng DN mà Ngân hàng

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng trong
hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam.
Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo.
3

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG
THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
 Khái niệm:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp
và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn
trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
3
.
Trong nền kinh tế thị trường, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân
hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các DN và cá nhân. TDNH không
những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các DN và
cá nhân mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ
thuật, công nghệ sản xuất. Ngoài ra TDNH còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu
tiêu dùng của cá nhân. TDNH là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị
trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế rất linh hoạt và kịp thời.
Như vậy: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn
hoặc tài sản từ NHTM cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản
chi phí nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho
bên cho vay (NHTM) khi đến hạn thanh toán

– Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng qua đêm (overnight credit): Là loại tín dụng có thời hạn rất ngắn,
chỉ qua đêm đã phải trả. Lý do ra đời tín dụng O/N là sự chênh lệch múi giờ giữa
các quốc gia.
Tín dụng Tomorrow Next và Second Next (T/N and S/N credit): Là loại tín
dụng có thời hạn là một ngày và hai ngày, xuất phát từ chế độ nghỉ của các ngân
hàng trong ngày thứ 7 và chủ nhật.
Tín dụng ngắn hạn có thời hạn 60 ngày, 90 ngày, 180 ngày, 360 ngày: Là
loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu
động tạm thời của các DN, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.
– Tín dụng trung hạn
Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm và sử dụng chủ yếu để
đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất
và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Tín dụng trung
dài hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các
DN, đặc biệt là đối với các DN mới thành lập.
– Tín dụng dài hạn
Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn
như: xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển, sân bay…), cải tiến và mở rộng
sản xuất có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư thường kéo dài, nên tín dụng dài hạn
thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án. Nhìn chung, tín
dụng dài hạn chịu rủi ro rất lớn, bởi vì thời hạn tín dụng càng dài thì những biến
5

động không dự tính có thể xảy ra càng lớn.
 Căn cứ vào mục đích tín dụng:
– Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản,
bao gồm:
Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai.
Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại và

những khoản vay lớn và có thời hạn dài.
– Tín dụng hoàn trả một lần: Là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả
vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản
vay nhỏ và có thời hạn ngắn.
 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng:
– Tín dụng tiền tệ: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền. Tín
dụng bằng tiền gọi là cho vay. Đây là loại tín dụng chủ yếu của các ngân hàng và
được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: Tín dụng ứng trước, thấu chi, tín
dụng thời vụ, tín dụng trả góp…
– Tín dụng thuê mua: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản.
Hình thức tín dụng này chính là cho thuê tài chính. Cho thuê tài chính là hoạt động
tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện
vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê. Bên cho thuê là các
tổ chức tín dụng phi ngân hàng và bên thuê là khách hàng
6
.
 Căn cứ vào chủ thể vay vốn:
– Tín dụng DN (tín dụng bán buôn): Gọi là bán buôn vì những DN thường
vay với những khoản vay có giá trị lớn.
– Tín dụng cá nhân, hộ gia đình (tín dụng bán lẻ): Gọi là bán lẻ vì những cá
nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng.
– Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
Những khoản đi vay này trở thành nguồn vốn của ngân hàng đi vay nên chúng có
thể dùng để trả nợ hay cho vay lại.
 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
– Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng cấp vốn trực
tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực
tiếp cho ngân hàng.
– Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như tín

của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của
một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, để
đánh giá được ngân hàng đó mạnh hay yếu thì phải đánh giá được chất lượng tín
dụng. Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, có chỉ tiêu mang tính định
lượng và có chỉ tiêu mang tính định tính.
– Các chỉ tiêu định tính
Trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng, ngoài những chỉ tiêu có thể
lượng hóa được thì có rất nhiều yếu tố không thể lượng hóa. Các chỉ tiêu định tính
7
Hồ Diệu, TS, Giáo trình tín dụng ngân hàng, Học viện Ngân Hàng, Nhà xuất bản Thống
kê.
8

được thể hiện qua: Quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, qua độ thỏa mãn của khách
hàng đối với các sản phẩm của ngân hàng, độ tín nhiệm của khách hàng thông qua
thương hiệu, uy tín, hình ảnh mà ngân hàng đã tạo dựng với đại chúng. Như vậy,
dựa vào các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào chất lượng tín dụng
của các NHTM.
– Các chỉ tiêu định lượng
8
+ Chỉ tiêu: Dư nợ
Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Tổng dư nợ = Dư nợ (VNĐ) + Dư nợ (ngoại tệ quy VNĐ)
Dư nợ thường được phân loại theo: (i) Loại tiền (thường quy ra VNĐ và
USD); (ii) Thời gian tín dụng; (iii) Cơ cấu khách hàng.
Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả
năng mở rộng, khả năng tiếp thị chưa tốt, trình độ cán bộ công nhân viên chưa cao.
Tuy nhiên, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng tốt
bởi vì đằng sau đó tiềm ẩn những rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phải gánh
chịu.

x 100%
Tổng nguồn vốn huy động
Đây là chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho
vay trực tiếp khách hàng. Năng lực cho vay của một NHTM thường bị giới hạn bởi
năng lực huy động vốn. Tuy nhiên, không phải lúc nào và ở đâu ngân hàng cũng tự
cân đối được nguồn vốn huy động để đáp ứng nhu cầu cho vay. Giải pháp tốt nhất
cho ngân hàng là phải từng bước chủ động cải thiện nguồn vốn huy động và chủ
động tìm đầu ra để nâng cao hiệu suất sử dụng vốn.
+ Chỉ tiêu: Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng =
Doanh số thu nợ trong kỳ
x 100%
Dư nợ bình quân trong kỳ
Đối với kinh doanh ngân hàng, lợi nhuận được tạo ra trên cơ sở số dư, mức
lãi suất và thời gian. Vòng quay nhanh hơn, lợi nhuận tạo ra chưa hẳn đã nhiều hơn.
Tỷ số này chỉ phản ánh một khía cạnh của chính sách tín dụng là thiên về cho vay
ngắn hạn hay dài hạn. Nếu vòng quay càng mau, chứng tỏ ngân hàng thiên về cho
vay ngắn hạn, còn nếu vòng quay thưa, chứng tỏ ngân hàng thiên về cho vay trung,
dài hạn. Ngoài ra xét từ giác độ kế toán thì chênh lệch giữa doanh số cho vay và
doanh số thu nợ sẽ là dư nợ cuối kỳ.
9
Việc phân loại nhóm nợ theo Điều 6, Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN (Sửa đổi, bổ
sung Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN) về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng.
10

+ Chỉ tiêu: Khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng
Tỷ lệ lợi nhuận từ tín dụng =
Lãi từ tín dụng
x 100%

Thẩm định tín dụng là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm
tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc dự án mà khách
10
Thông tư số 05/2011/TT-NHNN quy định về thu phí cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng.
11

hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng
11
.
Cho vay là hình thức cấp tín dụng chủ yếu của NHTM, theo đó bên cho vay
giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích
xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
cả gốc và lãi
12
.
Trong quy trình cho vay thì thẩm định tín dụng là một nghiệp vụ rất quan
trọng. Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định tín dụng cố gắng phân tích và hiểu
được tính chất khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế đứng trên góc độ ngân hàng.
Khi lập dự án, khách hàng mong muốn được vay vốn nên có thể thổi phồng và quá
lạc quan về hiệu quả kinh tế của dự án. Do vậy, thẩm định tín dụng cần phải xem
xét đánh giá đúng thực chất của dự án. Tuy nhiên, không phải vì thế mà thẩm định
tín dụng ước lượng dự án một cách quá bi quan khiến cho hiệu quả dự án bị giảm
sút dẫn đến quyết định không cho vay.
 Mục đích và ý nghĩa của thẩm định tín dụng:
Mục đích của thẩm định tín dụng là đánh giá một cách chính xác và trung
thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm quyết định cho vay. Thẩm định là một
trong những khâu rất quan trọng trong toàn bộ quy trình tín dụng. Tầm quan trọng
của nó được thể hiện ở những điểm sau:
Giúp đánh giá được mức độ tin cậy của phương án sản xuất hoặc dự án đầu

trả vốn vay: Báo cáo tài chính trong 3 kỳ gần nhất – Đối với pháp nhân; Các bản kê
về vốn chủ sở hữu, tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn, nợ phải thu…– Đối với thể
nhân. (iv) Những tài liệu liên quan đến đảm bảo tiền vay (các giấy chứng nhận
quyền sở hữu các tài sản thế chấp, cam kết của bên bảo lãnh…).
Thông tin do cán bộ thẩm định tự điều tra từ các nguồn thông tin khác: thông
tin điều tra nơi hoạt động kinh doanh của khách hàng, hồ sơ dự trữ tại ngân hàng,
CIC, phương tiện truyền thông từ các bộ, ngành, hiệp hội ngành nghề, các đơn vị có
quan hệ với khách hàng…
1.2.3. Nội dung thẩm định khách hàng
 Đánh giá về năng lực pháp lý của khách hàng:
Khách hàng xin cấp tín dụng phải có đủ năng lực pháp lý theo quy định của
pháp luật, phải có đủ hồ sơ chứng minh năng lực pháp lý theo quy định của pháp
luật hiện hành.
Đối với khách hàng xin cấp tín dụng là pháp nhân phải kiểm tra tính pháp lý
của người đại diện pháp nhân theo quy định của pháp luật như: Giấy phép thành
lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép hành nghề (nếu có), giấy phép
hoặc hạn ngạch xuất nhập khẩu (nếu pháp luật quy định phải có), điều lệ tổ chức và
hoạt động, quyết định bổ nhiệm người điều hành, kế toán trưởng, quy chế tài chính
(đối với tổng công ty và các đơn vị thành viên)…
Trong một số trường hợp, theo yêu cầu của loại hình cấp tín dụng, phải xem
khách hàng có thỏa mãn các điều kiện thuộc đối tượng cấp tín dụng hay không.
Đối với khách hàng xin cấp tín dụng là thể nhân, hồ sơ pháp lý bao gồm:
chứng minh thư nhân dân của người đề nghị vay vốn và vợ/chồng của người đề
13

nghị vay vốn, sổ hộ khẩu, giấy phép kinh doanh hoặc các giấy tờ tương đương
khác…
 Đánh giá năng lực tài chính của khách hàng:
Đánh giá năng lực tài chính của khách hàng nhằm xác định sức mạnh về tài
chính, khả năng độc lập, tự chủ tài chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và

phép giao dịch và không có tranh chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm; (iv)
Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản dùng
làm bảo đảm tiền vay.
 Ước lượng và kiểm soát rủi ro:
Thẩm định tín dụng là công việc được tiến hành trước khi quyết định cho
vay, thu hồi nợ là công việc được thực hiện sau khi cho vay. Do đó thẩm định tín
dụng, dù có được thực hiện kỹ lưỡng và chuyên nghiệp đến đâu vẫn không thể hoàn
toàn tránh khỏi sai sót. Các kỹ thuật phân tích và kiểm soát rủi ro tín dụng có thể áp
dụng bao gồm: phân tích độ nhạy, phân tích tình huống và phân tích mô phỏng.
 Thái độ của khách hàng trong việc trả nợ:
Cán bộ tín dụng đánh giá tư cách, thái độ, thiện chí của khách hàng trong
việc trả nợ làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay. Nội dung phân tích này nằm
trong các chỉ tiêu phân tích định tính như: tiêu chuẩn 6C, 5P hay tiêu chuẩn
CAMPARI
14
.
1.2.4. Các phương pháp phân tích
 Phân tích định tính:
– Tiêu chuẩn 6C:
Capacity – Năng lực của người vay nợ: Năng lực đề cập đến khả năng điều
hành hoạt động SXKD và hoàn trả khoản vay thành công của khách hàng. Đánh giá
năng lực được dựa trên việc đánh giá các yếu tố: Kinh nghiệm điều hành, BCTC
trong quá khứ, sản phẩm, tình hình hoạt động trên thị trường và khả năng cạnh
tranh. Từ đó ngân hàng dự tính được luồng tiền sẽ được dùng để trả nợ, thời gian trả
nợ và xác suất trả nợ thành công của khách hàng. Việc đánh giá lịch sử các khoản
vay và thanh toán các khoản vay, dù là của cá nhân hay DN cũng được coi là chỉ
báo cho khả năng chi trả trong tương lai.
Character – Uy tín và tính cách của người vay: Là ấn tượng chung khách
hàng để lại đối với ngân hàng. Ấn tượng này có thể là khá chủ quan. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp, đối với nhiều ngân hàng, thái độ của khách hàng quyết định

kinh doanh DN đang hoạt động cũng như các ngành hoạt động liên quan có thể ảnh
hưởng đến DN.
Control – Khả năng kiểm soát các khoản vay: (i) Các luật, quy định, quy chế
hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đang được xem xét; (ii) Đủ hồ sơ, giấy tờ
phục vụ cho công việc kiểm soát; (iii) Hồ sơ, giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy
đủ và phải được ký bởi các bên; (iv) Mức độ phù hợp của khoản vay đối với quy
chế, quy định của ngân hàng; (v) Ý kiến của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật về môi
trường của ngành, về sản phẩm, về các yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng đến
khoản vay.
17

 Phân tích định lượng
15
:
Theo mô hình cổ điển thì việc phân tích tình hình tài chính của khách hàng
theo 5 nhóm chỉ tiêu riêng biệt:
1. Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để
đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ trong ngắn hạn của DN.
• Tỷ số khả năng thanh toán hiện thời:
Đối với ngân hàng, khi cho vay ngắn hạn, tỷ lệ này càng cao càng tốt vì nó
phản ánh khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi trả của DN. Tuy nhiên đối với
DN, khi tỷ lệ này quá cao thì có thể là một dấu hiệu cho thấy việc đầu tư vào các tài
sản lưu động còn thiếu hiệu quả. Tuy nhiên cần so sánh thêm tỷ lệ này với các tỷ lệ
trong quá khứ và tỷ lệ bình quân ngành để có đánh giá chính xác.
• Chỉ tiêu vốn lưu động:
Vốn lưu động thường xuyên thuần = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Vốn lưu động thuần là phần tài sản lưu động được tài trợ bằng nguồn vốn có
tính chất trung và dài hạn. DN luôn cần tới khoản vốn này để đảm bảo khả năng
thanh toán các khoản nợ tới hạn. Do đó nó chính là một yếu tố đánh giá tính thanh
khoản của DN.

• Tỷ số nợ trên tổng tài sản:
Tỷ số nợ =
Tổng nợ phải trả
Tổng tài sản
Tỷ số càng thấp thì khoản nợ của ngân hàng càng được bảo đảm. Các chủ sở
hữu DN thì ưa thích tỷ số này cao vì sẽ giúp tạo ra tấm chắn thuế lãi vay một cách
hiệu quả song nếu tỷ lệ quá cao DN rất dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh
toán. Thông thường, tỷ số này ở mức vừa phải là hợp lý nhất, vừa phải ở mức nào
thì còn tùy thuộc vào loại hình kinh doanh của từng DN.
• Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu:
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu =
Tổng nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng nợ của DN và qua đó còn đo lường được
khả năng tự chủ tài chính của DN.
• Hệ số tự tài trợ:
Hệ số tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản
Đối với ngân hàng, tỷ suất này của khách hàng tối thiểu phải 30% mới gọi là
có khả năng tự chủ về tài chính.
19

3. Nhóm các tỷ số hoạt động: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc đánh
giá hiệu quả sử dụng tài sản trong quá trình tạo ra doanh thu.
• Hiệu quả sử dụng tài sản:
Vòng quay tổng tài sản =
Doanh thu thuần
Tổng giá trị tài sản bình quân
Tỷ số này cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra cho DN bao nhiêu đồng doanh

Trích đoạn Lịch sử hình thành và chức năng nhiệm vụ của BID Môi trường hoạt động kinh doanh Tình hình hoạt động kinh doanh Kết quả kinh doanh chủ yếu của BID Thực tế quy trình thẩm định tín dụng tại BID
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status