Tài liệu Ứng dụng CNTT và Thông tin vào dạy học - Pdf 23


MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
BÀI 1: VAI TRÒ CỦA CNNT & TT 5
1.Máy tính, mạng Internet và thế giới ảo 5
2.Lợi ích mà thế giới ảo trên Internet mang lại 5
3.Những ứng dụng của CNTT & TT trong giáo dục 5
3.1.Thực trạng ứng dụng CNTT & TT trong nhà trường 5
3.2.Một số giải pháp, đề xuất 6
3.3.Tích cực sử dụng các bài giảng điện tử trong giảng dạy 7
4.Bài giảng điện tử và giáo án điện tử 8
5.Những yêu cầu đối với người giáo viên về ứng dụng CNTT 9
5.1.Kỹ năng sử dụng Internet 9
5.1.1.Tìm kiếm thông tin Internet 9
5.1.2.Gửi và nhận thông tin qua Internet 9
5.1.3.Kỹ năng giao tiếp, hợp tác thông qua Internet 9
5.2.Kỹ năng diễn đạt ý tưởng bằng công cụ CNTT 10
5.3.Kĩ năng sử dụng các phần mềm dạy học trong chuyên môn 10
5.4. Biết sử dụng các công cụ trợ giúp để tạo ra các sản phẩm PMDH cá nhân 10
5.5.Biết ứng dụng CNTT khi giao tiếp trong chuyên môn 10
5.6. Tăng cường nâng cao trình độ, học từ xa 11
5.7.Giáo viên cần ham hiểu các quy định về đạo đức, luật pháp,… trong quá trình ứng
dụng công nghệ thông tin 11
BÀI 2: PHẦN MỀM DẠY HỌC 11
1.Giới thiệu phần mềm phục vụ dạy học 11
2.Các loại phần mềm, sách điện tử 11
2.1.Phần mềm dạy học 11
2.2.Phần mềm phổ thông 12
2.3.Phần mềm chuyên dụng 12
2.4.Phần mềm miễn phí 12
3.Các thiết bị dạy học mới 13

1.4.Định dạng Bullets and numbering trên slide 29
1.5.Bổ sung các lời bình luận (comment) 30
1.6.Bổ sung các hình mẫu (clipart) vào slide 30
1.7.Chèn bảng vào trong slide 31
1.8.Tạo một biểu đồ 31
1.9.Tạo và định dạng các đối tượng trong slide 32
1.10.Chèn các file phim ảnh và âm thanh cho slide 32
1.11.Tạo các siêu liên kết 34
1.12.Tạo các hiệu ứng hoạt hình 34
1.12.1.Tạo các hiệu ứng chuyển tiếp slide 34
1.12.2.Tạo các hiệu ứng hoạt hình riêng cho từng đối tượng 35
1.13.Trình diễn slide 35
1.13.1.Chọn kiểu trình diễn thích hợp 35
1.13.2.Tạo các phương án trình diễn riêng (custom show) 35
1.14.Đóng gói trình diễn 35
1.15.Tạo và in các tài liệu trình diễn 36
1.15.1.In các slide 36
1.15.2.In các bảng thuyết minh (handouts) 36
1.15.3.In phần Outlines của slide 37
2.Soạn giáo bài giảng điện tử với ViOLET 37
2.1.Giới thiệu phần mềm 37
2.1.1.Mục đích sử dụng: 37
2.1.2.Các đặc điểm chính: 37
2.2.Cài đặt và giới thiệu giao diện, bài giảng mẫu 37
2.2.1.Cài đặt và chạy chương trình 37
2.2.2.Giới thiệu giao diện chương trình 38
2.3.Giới thiệu giao diện bài giảng bài giảng 39
2.4.Tạo một trang đề mục 40
2.5.Sửa đổi thông tin của đề mục 40
2.6.Đưa ảnh, phim, flash vào ViOLET 40

2.13.1.Sao chép, cắt dán: 70
2.13.2.Chọn, sắp xếp đối tượng 70
2.13.3.Tạo hình nền 71
2.13.4.Tạo trang bìa: 72
2.13.5.Chọn giao diện: 73
2.14.Đóng gói bài giảng 73
2.14.1.Thao tác đóng gói: 74
2.14.2.Trình chiếu bài giảng đã đóng gói 74
2.14.3.Giao diện và các phím tắt khi trình chiếu 74
2.15.Nhúng violet vào Powerpoint 75
2.15.1.Thao tác cơ bản: 75
2.15.2.Chỉnh sửa nội dung sau khi nhúng vào Powerpoint 77
2.16.Phụ lục: 77
3.Tạo tư liệu giáo dục minh họa với Flash 79
3.1.Giới thiệu chung 79
3.1.1.Giới thiệu 79
3.1.2.Cài đặt 80
3.1.3.Khởi động Flash 81
3.1.4.Thoát khỏi Flash 82
3.2.Các khái niệm cơ bản 82
3.2.1.Stage (sân khấu) 82
3.2.2.Toolbox (hộp công cụ) 82
3.2.3.Panels (bảng chức năng) 82
3.2.4.Timeline (trục thời gian) 82
3.2.5.Layers (các lớp) 82
3.2.6.Library (thư viện) 83
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 3/121

3.2.7.Properties (bảng thuộc tính) 83

2.1.6.Sử dụng các chức năng quản trị website 110
2.1.7.Tạo menu cho trang web 112
2.1.8.Quản lý tài nguyên của trang 116
2.1.9.Tạo phiếu điều tra ý kiến trên trang web 117
2.1.10.Phân công hỗ trợ trực tuyến 118
2.2.Chia sẻ thông tin, dạy học trực tuyến 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 4/121

BÀI 1: VAI TRÒ CỦA CNNT & TT
1. Máy tính, mạng Internet và thế giới ảo.
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứng dụng trong
mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Tuy nhiên nếu như công dụng của máy là tính là
có thể đo đếm được thì sự ra đời của mạng máy tính toàn cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô
cùng lớn, không thể đo đếm được. Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến thuật ngữ
CNTT&Truyền thông (ICT) thay vì CNTT (IT).
Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửi email mà nó là
kênh kết nối chúng ta với tất cả thế giới. Chúng ta có thể tiếp cận toàn bộ tri thức nhân loại, có thể làm
quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia những tổ chức ở xa nửa vòng trái đất. Mạng máy tính toàn cầu
(Internet) thực sự đã tạo ra một thế giới mới trong đó có gần như mọi hoạt động của thế giới thực:
thương mại điện tử (ecommerce), giáo dục điện tử (elearning), trò chơi trực tuyến (game online), các
diễn đàn (forum), các mạng xã hội (social network), các công dân điện tử (blogger),…
2. Lợi ích mà thế giới ảo trên Internet mang lại
Tuy gọi là thế giới ảo nhưng nó đem lại lợi ích thực sự cho những người tham gia, thậm chí
những lợi ích đem lại còn nhiều hơn so với trong thế giới thật. Ví dụ những cá nhân tham gia thương
mại điện tử có thể ngồi ở nhà, thông qua máy tính nối mạng để buôn bán trao đổi và có thể thu được
rất nhiều lợi nhuận. Học sinh có thể tham gia các hệ thống học trực tuyến trên mạng mà không phải
tốn một đồng học phí, mà kiến thức thu được còn nhiều hơn là theo lớp học thật. Một học sinh ở Hà
Nội có thể thông qua một hệ thống học trực tuyến để theo học một thầy giáo ở tận TP HCM. Một thầy

Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 5/121

tỏ ra nổi trội hơn SGK truyền thống, Website đào tạo từ xa khó triển khai rộng được vì Internet ở VN
còn là một vấn đề lớn. Các phần mềm dạy học cho học sinh, dù đã có rất nhiều cố gắng về mặt hình
thức và nội dung, tuy nhiên sự giao tiếp giữa máy với người chắc chắn không thể bằng sự giao tiếp
giữa thầy với trò
Hiện nay, các công ty thiết bị giáo dục cũng thường xây dựng các video quay các tiết giảng
mẫu để đưa về các trường. Tuy nhiên định hướng này khó phát huy được hiệu quả, vì sản phẩm cũng
chỉ như một giáo án tham khảo trong khi chi phí để xây dựng rất lớn (vài chục triệu đồng/tiết dạy) mà
hầu như không thể chỉnh sửa về sau được. Nó thậm chí còn có thể gây phản tác dụng khi tạo ra sự áp
đặt cho giáo viên, tạo ra tư duy lười suy nghĩ vì chỉ cần dạy theo giáo án mẫu, làm giảm đi sự sáng tạo
của giáo viên trong việc giảng dạy
3.2. Một số giải pháp, đề xuất
Hiện nay, trên thế giới người ta phân biệt rõ ràng 2 hình thức ứng dụng CNTT trong dạy và
học, đó là Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựa vào máy tính), và e-learning (học dựa vào
máy tính). Trong đó:
- CBT là hình thức giáo viên sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trang thiết bị như
máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến học
sinh, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh
động, các tư liệu phim, ảnh, sự tương tác người và máy.
- E-learning là hình thức học sinh sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà giáo viên đã
soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của giáo viên, hoặc có thể trao đổi trực tuyến với
giáo viên thông mạng Internet. Điểm khác cơ bản của hình thức E-learning là lấy người học làm trung
tâm, học viên sẽ tự làm chủ quá trình học tập của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập
cho học viên.
Như vậy, có thể thấy CBT và e-learning là hai hình thức ứng dụng CNTT vào dạy và học
khác nhau về mặt bản chất. Một bên là hình thức hỗ trợ cho giáo viên, lấy người dạy làm trung tâm và
cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ. Còn một bên là hình thức học hoàn toàn mới, lấy người học
làm trung tâm, trong khi giáo viên chỉ là người hỗ trợ. Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều người vẫn bị

Phù hợp hơn với giáo dục phổ thông, vì là
ở đây, giáo viên không chỉ dạy kiến thức
mà còn phải theo dõi hướng dẫn cách tư
duy. Vả lại học sinh nhỏ tuổi chưa đủ khả
năng để làm chủ được quá trình học tập
Phù hợp hơn với giáo dục Đại học, Sau đại học và
những người đã đi làm.
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 6/121

của mình.
Đây là phương pháp mà các giáo viên ở
Việt Nam hay dùng phổ biến hiện nay như
dùng Powerpoint, Violet để thiết kế bài
giảng và dạy học dùng máy chiếu. Những
kết quả thu được là rất đáng kể.
Chưa phải là hình thức phổ biến lắm ở Việt Nam.
Mới chỉ có một số trường ĐH có hệ thống e-learning
riêng như ĐH Sư phạm HN, ĐH Xây dựng HN, ĐH
Cần Thơ,
Các công cụ tạo bài giảng cho CBT gọi là
các Authoring Tools như là Powerpoint,
Violet, Impress, Author-ware
Các công cụ tạo bài giảng cho e-learning thì tuân
theo một chuẩn chung để đưa lên mạng, trong đó nổi
tiếng nhất là chuẩn SCORM.
3.3. Tích cực sử dụng các bài giảng điện tử trong giảng dạy
Từ nhiều năm nay, ở các trường phổ thông cũng đã tương đối phổ biến mô hình giảng dạy sử
dụng bài giảng điện tử cùng với các trang thiết bị khác như máy tính, máy chiếu (projector), Bài
giảng điện tử và các trang thiết bị này có thể coi là những công cụ dạy học đa năng vì nó có thể thay

giáo viên trực tiếp đứng lớp quyết định, không phải một người khác sáng tác ra để áp đặt cho họ.
Thậm chí việc áp đặt còn có thể gây ra hiệu quả xấu khi tạo cho người giáo viên tính lười soạn bài,
không phát huy tính sáng tạo trong giảng dạy và cũng không nắm rõ được những ý đồ sư phạm trong
một bài giảng.
Chỉ có một cách duy nhất là phải hướng dẫn, tập huấn các giáo viên để có thể tự xây dựng các
bài giảng cho riêng mình. Tuy nhiên, việc tập huấn cũng chỉ dừng lại ở mức độ sử dụng thành thạo
một vài công cụ thiết kế bài giảng như Powerpoint hay Violet, cách tìm kiếm các tư liệu qua mạng
Internet, sử dụng máy quay phim, máy ảnh số, máy quét
Ở mức độ này, giáo viên mới chỉ có thể tạo được bài giảng ở mức cơ bản, chất lượng trung
bình. Chẳng hạn như họ không thể tự vẽ thêm một bức tranh, tự xây dựng một hình ảnh động hoặc lập
trình tạo ra một thí nghiệm mô phỏng, hoặc cũng không thể tự chỉnh sửa được các tư liệu hình ảnh sau
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 7/121

khi quét ảnh hoặc lấy về từ Internet cho đẹp hơn, biên tập lại các đoạn phim, dịch thuyết minh các tư
liệu của nước ngoài thành tiếng Việt, v.v đặc biệt rất khó có thể tìm kiếm thu thập được những phim
ảnh tư liệu quý hiếm. Tất cả những việc này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, họa sĩ, kỹ thuật viên
tin học chuyên nghiệp thì mới đảm nhiệm tốt được.
Hiện nay, nhiều chuyên gia giáo dục đã cảnh báo tình trạng “lạm dụng CNTT” khi các giáo
viên tự xây dựng bài giảng. Do hạn chế về định hướng, công nghệ nên giáo viên thường hay xây dựng
những bài giảng mang nặng tính trình chiếu, ví dụ như sử dụng Powerpoint “bắn” rất nhiều chữ ra
màn hình và khi giảng bài thì gần như đọc lại nội dung đó. Phương pháp này thậm chí sẽ làm cho học
sinh giảm hiệu quả tiếp thu khi phải đồng thời nghe giảng, vừa đọc chữ, chưa kể là còn bị cuốn hút
vào những hiệu ứng chữ chạy nhảy và âm thanh kèm theo.
Một trong những lý do của tình trạng trên là do các giáo viên chưa hiểu được rằng: cách sử
dụng hiệu quả của ứng dụng phần mềm dạy học là phải khai thác triệt để các nội dung tư liệu, đặc biệt
là các tư liệu multimedia (âm thanh, hình ảnh, phim, Flash, ). Một lý do quan trọng nữa là kể cả khi
hiểu được như vậy thì cũng khó có thể thực hiện, vì việc giáo viên đưa một đoạn văn bản vào phần
mềm thì dễ, chứ nếu tự vẽ hình, tự tạo ảnh động hay tìm kiếm tư liệu bên ngoài thì sẽ rất khó khăn.
Chính vì vậy, giáo viên nên sử dụng các công cụ tìm kiếm trên Internet tư liệu như Google


hiệu ứng, bao gồm 1 hiệu ứng chuyển trang và vài hiệu ứng cho các đối tượng cần nhấn mạnh trong
bài.
5. Những yêu cầu đối với người giáo viên về ứng dụng CNTT
Vai trò của giáo viên (GV) trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học ở
trường phổ thông có ý nghĩa hết sức quan trọng. Câu hỏi đặt ra: người giáo viên cần có những kiến
thức và kĩ năng CNTT nào để có thể tích hợp CNTT vào quá trình dạy học một cách hiệu quả. Việc
xác định những năng lực ứng dụng CNTT cần có ở người giáo viên sẽ giúp các cơ sở giáo dục có thể
thấy được thực trạng trình độ CNTT của đội ngũ giáo viên, từ đó có những biện pháp bồi dưỡng GV
hợp lý. Trong bối cảnh CNTT phát triển rất nhanh và có tác động mạnh mẽ tới đời sống hiện đại, các
yêu cầu này càng cao và cũng luôn đổi mới.
Muốn sử dụng được CNTT để phục vụ tốt công việc sáng tạo của mình trước hết người giáo
viên cần nắm chắc công cụ đó. Như vậy, GV cần có những kiến thức cơ bản về tin học, các kĩ năng
sử dụng máy tính và một số thiết bị CNTT thông dụng nhất.
Chẳng hạn, cần biết sơ bộ về cấu tạo máy tính, một số kiến thức ban đầu về tin học như; khái
niệm về hệ điều hành, tập tin, thư mục, đường dẫn, ổ đĩa… GV cần có kĩ năng sử dụng các lệnh của
một hệ điều hành cụ thể (như hệ điều hành windows chẳng hạn) để điều khiển máy tính phục vụ công
việc của mình; các lệnh xem thư mục, tạo lập thư mục mới, chép và xoá tệp, chép và xoá thư mục,
lệnh duyệt đĩa, lệnh định dạng đĩa, … Các kĩ năng sử dụng một vài phần mềm tiện ích trợ giúp xử lý
đĩa và các thông tin trên đĩa, biết sử dụng các chương trình chống virus để bảo vệ máy tính.
Các kĩ năng sử dụng bộ phần mềm trợ giúp công việc văn phòng.
Máy tính sẽ thực sự là một người trợ giúp hoàn hảo, nếu người GV biết sử dụng nó để thực
hiện một số công việc thường nhật như tính toán, thống kê số liệu, soạn thảo văn bản, lập kế hoạch và
kiểm soát kết quả thực hiện kế hoạch,… muốn vậy, GV cần có kĩ năng sử dụng các phần mềm quan
trọng như: soạn thảo văn bản, phầm mềm trình diễn Powerpoint, bảng tính điện tử, phần mềm quản lí
công việc, …
5.1. Kỹ năng sử dụng Internet
Trong thế giới hiện đại, Internet đã trở nên một công cụ không thể thiếu trong hoạt động nghề
nghiệp của người GV. Các kỹ năng sử dụng Internet sẽ giúp người giáo viên trong tìm kiếm thông tin
trao đổi với học sinh, đồng nghiệp, …

các kỹ năng tốt để trình diễn một tài liệu điện tử - một vài tài liệu tích hợp thành các thành phần khác
nhau: Văn bản, ảnh đồ hoạ, âm thanh, video.
Các kỹ năng tạo ra các sản phẩm tích hợp dạng multimedia bao gồm nhiều dạng tài liệu như
văn bản, video, hình ảnh, âm thanh cũng hết sức cần thiết.
Các tài liệu văn bản và các sản phẩm khác như đồ thị, hình ảnh, đoạn phim. âm thanh thường
được tích hợp trong một tài liệu,… các sản phẩm này thường là kết quả nghiên cứu trong quá trình
dạy học hoặc trong các sinh hoạt nhóm chuyên môn. Như vậy, ngoài khả năng tạo ra văn bản, GV cần
biết cách thu thập các dữ liệu cần thiết như các đoạn phim video, các đoạn âm thanh, hình ảnh và tích
hợp nó trong một sản phẩm trình diễn.
5.3. Kĩ năng sử dụng các phần mềm dạy học trong chuyên môn
Phần mềm dạy học (PMDH) tạo ra môi trường học tập mới cho học sinh giúp học sinh khám
phá, giải quyết vấn đề, sáng tạo. Có nhiều PMDH khác nhau được bán trên thị trường, người giáo viên
cần biết được PMDH nào là tốt cần thiết cho môn học của mình. Với từng PMDH, cần biết lựa chọn
tình huống sử dụng phần mềm để dạy học có hiệu quả. Hiện nay, nhiều PMDH bị lạm dụng quá
nhiều. Trong nhiều tình huống, chỉ cần các thiết bị rẻ tiền thông thường thì giáo viên lại sử dụng
phương tiện trình chiếu Powerpoint kèm theo các thiết bị đắt tiền như máy tính, máy chiếu đa năng
đắt tiền tốn đến vài chục triệu đồng, nhưng hiệu quả sư phạm lại không cao. Hiện tượng trên xảy ra do
giáo viên chưa am hiểu về các yêu cầu sư phạm đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học.
Mặt khác GV cần biết cách tổ chức hoạt động học tập cho học sinh trong môi trường CNTT.
Vấn đền liên quan đến bố trí hoạt động học tập phòng máy thiết kế hệ thống nhiệm vụ học tập của
từng học sinh. Cần hình dung nếu sử dụng các PMDH, việc dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề,
dạy học kiến tạo, dạy học theo dự án sẽ như thế nào. Các hình thức tổ chức dạy học khi sử dụng từng
PMDH cụ thể như dạy đồng loạt, dạy học theo nhóm, tổ chức hoạt động cá nhân sẽ có những nét
khác biệt riêng, cần tới sự am hiểu của giáo viên. Giáo viên từng môn học cũng cần có kỹ năng sử
dụng CNTT trong các tinh huống sư phạm điển hình của môn học. Chẳng hạn với môn toán, do đặc
thù riêng của mình có các tình huống điển hình cần quan tâm như: Sử dụng PMDH để dạy học định
nghĩa toán, sử dụng PMDH để dạy học định lý toán, sử dụng PMDH để dạy học giải toán,… Với các
môn học vật lý và hoá học, cần lưu ý đến tình huống sử dụng các phần mềm mô phỏng, sử dụng các
thí nghiệm ảo trong dạy học,….
GV cũng cần quan tâm tới khả năng kết hợp tối ưu các trang thiết bị dạy học truyền thống với

tăng. GV cần tham gia các khoá học nâng cao trình độ thường xuyên. Tuy vậy, do điều kiện công tác
của mình, GV không thể tham gia các khoá bồi dưỡng tập trung dài hạn. Hiện nay đã có nhiều cổng
đào tạo trong nước có các khoá học được đưa lên Internet, GV có thể theo học các khoá học trên.
5.7. Giáo viên cần ham hiểu các quy định về đạo đức, luật pháp,… trong quá
trình ứng dụng công nghệ thông tin
Cuối cùng giáo viên cần ham hiểu các quy định về đạo đức, luật pháp,… trong quá trình ứng
dụng công nghệ thông tin nói chung như sở hữu trí tuệ, luật cơ bản quyền,…
Những yêu cầu đặt ra về CNTT với người GV là nhiều, bước đầu tiên đặt ra các yêu cầu đối
tối thiểu, sau đó từng bước bổ sung, nâng cao yêu cầu. Cần có các lớp tập huấn cho GV nhằm giải
quyết dứt điểm một số kiến thức và kỹ năng nhất định.
Đặc biệt, các trường Sư phạm cần đặt vấn đề rèn luyện năng lực ứng dụng CNTT trong dạy
học cho giáo sinh như một yêu cầu bắt buộc.
BÀI 2: PHẦN MỀM DẠY HỌC.
1. Giới thiệu phần mềm phục vụ dạy học
Ngày nay, công nghệ thông tin có những bước tiến vượt bậc, thâm nhập vào mọi mặt của đời
sống xã hội, mang lại lợi ích to lớn thiết thực trong mọi lĩnh vực, riệng trong lĩnh vực giáo dục đã làm
thay đổi quan niệm dạy học và có những ảnh hưởng tích cực trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục và
đào tạo.
Một trong các công cụ của công nghệ thông tin mang lại hiệu quả cho quá trình dạy học là các
phần mềm dạy học. Phần mềm dạy học là các chương trình tin học được cài đặt trên máy vi tính nhằm
hỗ trợ quá trình dạy học, nâng cáo hiệu quả dạy học, tạo động cơ và gây hứng thú trong học tập.
Các phần mềm trình diễn và các phần mềm chuyên dụng là công cụ đắc lực trong việc truyền
thụ kiến thức.
2. Các loại phần mềm, sách điện tử.
2.1. Phần mềm dạy học
Phần mềm dạy học có nhiều loại. Sau đây là một số phần mềm dạy học thường gặp có tính
năng, hoặc cách sử dụng đáng chú ý:
- Phần mềm mô phỏng trong dạy học, thí nghiệm ảo.
- Trò chơi học tập, tạo phản ứng và kích thích khám phá, tìm tòi sáng tạo.
- Phân mềm trình diễn, dùng để thiết kế bài dạy, hướng dẫn học tập.

thì dùng mã VNI.
Adobe Photoshop: Là phần mềm xử lý ảnh thông dụng nhất, với rất nhiều tính năng từ
nghiệp dư đến chuyên nghiệp đều có thể sử dụng được. Với những chức năng cơ bản thì giáo viên và
cán bộ quản lý cũng nên sử dụng được, vì nó hiện nay dù làm bài giảng hay báo cáo, kế hoạch cũng ít
nhiều sử dụng các tư liệu ảnh (ảnh chụp hoặc hình vẽ).
2.3. Phần mềm chuyên dụng
Đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, chúng tôi khuyến khích học và sử dụng các
phần mềm sau vì sẽ rất có ích trong việc xây dựng các bài giảng hỗ trợ cho việc giảng dạy.
Microsoft Powerpoint: Phần mềm cho phép soạn các bài trình chiếu hấp dẫn để làm bài
giảng điện tử. Powerpoint có thể sử dụng được các tư liệu ảnh phim, cho phép tạo được các hiệu ứng
chuyển động khá hấp dẫn và chọn các mẫu giao diện đẹp.
Hiện nay, phần lớn các bài giảng điện của giáo viên ở Việt Nam đều sử dụng phần mềm
Powerpoint, tuy nhiên, xu hướng đang chuyển dần sang các phần mềm khác hiện đại hơn, dễ dùng
hơn và không gặp phải vấn đề bản quyền.
Phần mềm Violet: Dùng cho giáo viên có thể tự thiết kế và xây dựng được những bài giảng
điện tử sinh động, hấp dẫn, để trợ giúp cho các giờ dạy học trên lớp (sử dụng với máy chiếu projector
hoặc ti vi), hoặc để đưa lên mạng Internet. Tương tự như Powerpoint nhưng Violet có nhiều điểm
mạnh hơn như giao diện tiếng Việt, dễ dùng, có những năng chuyên dụng cho bài giảng như tạo các
loại bài tập, chức năng thiết kế chuyên cho mỗi môn học, và đặc biệt là khả năng gắn kết được với các
phần mềm công cụ khác.
Macromedia Flash: Đây là phần mềm cho phép vẽ hình, tạo ra hình ảnh động, các hiệu ứng
chuyển động và biến đổi, lập trình tạo ra các hoạt động mô phỏng và tương tác sinh động, hấp dẫn. Để
sử dụng tốt Flash đòi trình độ người sử dụng cũng phải ở mức khá và phải thực hành nhiều. Thông
thường không dùng Flash để tạo cả một bài giảng vì nó sẽ tốn khá nhiều công sức, mà chỉ dùng để tạo
ra các tư liệu rồi kết hợp với Violet hoặc Powerpoint để tạo thành một bài giảng hoàn chỉnh.
2.4. Phần mềm miễn phí
Ngày nay, trong xu hướng hội nhập, việc tôn trọng bản quyền đang trở nên một vấn đề không
thể không quan tâm. Hầu hết ở Việt Nam hiện nay chúng ta đang sử dụng các phần mềm vi phạm bản
quyền, thậm chí vi phạm mà cũng không biết rằng mình đang vi phạm. Giá thành của một phần mềm
là không nhỏ, thậm chí còn cao hơn cả giá thành của chiếc máy tính. Vì vậy với một chiếc máy tính,

liệu có định dạng PDF trực tiếp, tạo các thư mục tài liệu tham khảo, v.v…
+ Impress: Chương trình tạo các bài trình diễn (chức năng giống chương trình Microsoft
PowerPoint). Impress cho phép chúng ta tạo các bài trình diễn hấp dẫn và các hiệu ứng sinh động
dùng để giảng dạy hay thuyết trình.
+ Calc: Chương trình làm việc và quản lý dữ liệu trong các bảng (chức năng giống chương
trình Microsoft Excel). Calc cho phép chúng ta xử lý, tính toán và sắp xếp dữ liệu, tạo đồ thị, v.v…
+Base: Chương trình làm việc, quản lý cơ sở dữ liệu, tạo các truy vấn (chức năng giống
chương trình Microsoft Access).
+ Draw: Chương trình cho phép chúng ta tạo, chỉnh sửa các hình vẽ từ đơn giản đến phức tạp,
2 chiều hoặc 3 chiều, logo, các lưu đồ,v.v…Sau đó chúng ta có thể xuất các hình vẽ này ra các định
dạng ảnh thông thường như BMP, GIF, JPG, PNG.
+ Math: Chương trình giúp soạn thảo các công thức toán học và các phương trình (chức năng
tương tự Microsoft Equation hay MathType Equation).
- FireFox: là chương trình dùng để duyệt các trang Web. Chương trình này có tính năng
tương tự như Internet Explorer (IE - chương trình tích hợp sẵn trong Windows mà các bạn vẫn quen
dùng để truy cập đến các trang Web). Tuy nhiên, so với Internet Explorer, FireFox nhanh hơn, mạnh
hơn và an toàn hơn rất nhiều.
3. Các thiết bị dạy học mới
Hiện nay có một số thiết bị dạy học hiện đại đă và đang được trang bị trong các trường học ở
nước ta. Một số trang thiết bị dạy học chính là:
3.1. Máy chiếu overhead
Máy chiếu overhead là một thiết bị cho phép chiếu các tài liệu ghi trên giấy phim (trong suốt)
lên màn hình.
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 13/121

Máy chiếu overhead
Công dụng của các bộ phận chính như sau:
+ Thấu kính A: Tiếp nhận, hội tụ và phóng chiếu nguồn sáng từ bóng đèn công suất lớn.
+ Gương hắt B: Tiếp nhận hình chiếu và giúp điều chỉnh góc chiếu thích hợp trên màn hình.

cấp tư liệu cho việc minh họa bài giảng.

Máy chụp hình kỹ thuật số
3.5. Máy quay phim kỹ thuật số (Camcoder)
Camcoder là thiết bị kỹ thuật hiện đại cho pép ghi lại
một đọan phim dài có tính chuyên nghiệp dùng là tư liệu giáo
dục, như ghi lại một buổi hội thảo hay một tiết dạy giỏi.
Máy quay phim kỹ thuật số (Camcoder)
3.6. Máy quét hình (Scanner)
Scanner là thiết bị kỹ thuật số để quét văn bản, hình
ảnh, vật thể, phim âm bản để đưa vào máy vi tính. Tài liệu
được quét được lưu dưới dạng file ảnh JPG hay Bitmap, lưu
trên máy vi tính, có thể dùng phần mềm nhận dạng để chuyển
thành file văn bản (để chỉnh, sửa, xóa như văn bản trong
Word).
Máy quét hình (Scanner)
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 15/121

3.7. Máy in, máy photo
Máy in dùng cho văn phòng nhỏ và gia đình: Máy in
kim, máy in Laser, in phun, có thể in đen trắng, hay in mầu với
độ phân giải cao và tốc độ trung bình 20 trang/phút, giá máy
và giá in mỗi trang ngày càng hạ, giúp cho việc cung cấp tài
liệu tức thời cho sinh viên, học sinh.
Máy in (Printer)
3.8. Sử dụng máy vi tính và các thiết bị dạy học mới trong trường học
Hiện nay phương pháp giảng dạy của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường Cao đẳng và
Đại học còn hạn chế. Về vấn đề này nguyên Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạoTrần Hồng Quân đã
tổng kết: “Về phương pháp chúng ta còn yếu kém nhiều. Chúng ta vẫn dùng phương pháp của hàng

giáo dục, khoa học công nghệ, …
- Các thông tin sở hữu riêng: các hệ thống dữ liệu của cá nhân, các tổ chức thiết lập để
phục vụ cho riêng họ, được bảo mật và chỉ có ít người được phép truy cập và khai thác.
Chúng ta có thể tự xây dựng một kho tài nguyên dạy học với vài nghìn tư liệu, nhưng như vậy
liệu đã đủ chưa. Thực ra, việc đó giờ không còn là vấn đề cần lo lắng vì Internet đã chính là một thư
viện không lồ, là nơi lưu chứa tri thức của toàn nhân loại với hàng tỷ tư liệu và các bài viết của mọi
lĩnh vực, đặc biệt các thông tin trên đó luôn được cập nhật từng ngày, từng giờ. Như vậy một vấn đề
quan trọng và bắt buộc đối với giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học là phải biết khai
thác nguồn tài nguyên phong phú trên Internet.
Có 3 phương pháp để khai thác các thông tin phục vụ việc giảng dạy như sau:
1. Truy cập các thư viện tài nguyên trực tuyến
Thông thường hiện nay, các thư viện lớn đều được phát triển theo mô hình xã hội, nội dung sẽ
do chính người sử dụng cùng xây dựng lên với số lượng người tham gia xây dựng lên đến hàng triệu.
Trên thế giới đã xuất hiện các thư viện nổi tiếng như:
- Wikipedia.org (trang tiếng Việt là vi.wikipedia.org) là hệ thống bách khoa toàn thư khổng
lồ với đầy đủ tri thức nhân loại từ xưa đến nay, do hàng chục triệu tình nguyện viên trên thế giới đóng
góp xây dựng. Có thể tìm ở đây từ các kiến thức khoa học phổ thông đến các nghiên cứu khoa học
chuyên ngành, tìm hiểu về tiểu sử những người nổi tiếng cho đến những vấn đề thời sự được cập nhật
hàng ngày v.v
Hình 1-2: Bài viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên Wikipedia
Một đặc điểm nổi bật của Wikipedia là khả năng liên kết giữa các bài viết, ví dụ trong bài viết
về đại tướng Võ Nguyên Giáp, người dùng có thể click vào những chữ màu xanh, ví dụ click vào chữ
“quân đội nhân dân Việt Nam” thì sẽ chuyển đến một bài viết về Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Youtube.com, là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới, ở đây chúng ta có thể dễ dàng
tìm được những tư liệu phim phù hợp với mục đích dạy học. Ở Việt Nam cũng có trang chia sẻ video
riêng ở địa chỉ Clip.vn
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 17/121

Hình 1-3: Tìm kiếm phim tư liệu vụ ném bom Hiroshima trên YouTube

thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng được.
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 18/121

Các công cụ tìm kiếm thực chất đã làm thay đổi một phần của thế giới, con người không cần
phải nhồi nhét những kiến thức khoa học và đời sống để trở thành những học giả uyên thâm, mà chỉ
cần là người có tư duy tốt, nhạy bén, sáng tạo thì mới phát huy được hiệu quả trong công việc và nâng
cao chất lượng cuộc sống. Hiểu được điều này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn những vấn đề cần làm trong
giáo dục hiện nay, nhất là giáo dục phổ thông.
Vài nét về Google:
Google (đọc là gu-gồ) đang là công cụ tìm kiếm thông tin hàng đầu trên thế giới hiện nay,
những người dùng Internet có lẽ không ai không biết. Tên "Google" là một lối chơi chữ của từ googol,
bằng 10100. Google chọn tên này để thể hiện sứ mệnh của công ty là sắp xếp một khối lượng thông
tin khổng lồ trên mạng. Ở Việt Nam, Google vẫn đang chiếm vị trí số một trong thị trường tìm kiếm
trên Internet.
Google là một trong 2 công ty CNTT hàng đầu thế giới hiện nay (bên cạnh Microsoft), được
sáng lập năm 1998 bởi 2 chàng kỹ sư trẻ tuổi Sergey Brin (người Nga, sinh năm 1974) và Larry Page
(người Mỹ, sinh năm 1973). Trong khi Mircosoft làm bá chủ thị trường phần mềm ứng dụng trên máy
tính thì Google lại làm chủ thế giới Internet với rất nhiều các dịch vụ trực tuyến miễn phí, với hàng tỷ
người dùng.
Hình 2-4: Larry Page và Sergey Brin, 2 ông chủ của Google
Công cụ tìm kiếm của Google có có thể tìm kiếm các thông tin cực nhanh qua hàng tỷ trang
web chỉ trong vòng vài giây. Để làm được điều đó Google phải có một đội ngũ nghiên cứu gồm hàng
trăm Tiến sĩ để xây dựng những thuật toán tìm kiếm vô cùng mạnh mẽ mà các công ty đối thủ hoặc
các nhà khoa học trên thế giới cũng chưa thể tìm ra. Giao diện của Google gồm trên 100 ngôn ngữ, kể
cả tiếng Việt, phiên bản tiếng Việt của google tại hỗ trợ rất tốt cho việc tìm
kiếm các thông tin bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Cách thức tìm kiếm như sau:
2.1.1. Thao tác tìm kiếm
Để tìm kiếm thông tin, hình ảnh trên mạng, các bạn có thể dùng công cụ google để tìm như
sau:

2.1.2. Cách xem và tải tư liệu
Để tải một bức ảnh cần tìm, các bạn click chuột vào bức ảnh đó (click 2 lần để xem bức ảnh
đúng cỡ của nó).
Hình 2-12: Tải hình ảnh về máy của mình
Công ty Cổ phần Tin học Bạch Kim
Trang 21/121

Sau đó click phải chuột vào bức ảnh, chọn Save Picture As. Một hộp thoại xuất hiện cho
phép lưu bức ảnh đó vào máy tính của mình. Ví dụ: chọn My Document→My Picture, đặt lại tên
(nếu cần) cho bức ảnh. Nhấn Save để lưu lại.
Click nút Back để trở về trang tìm kiếm của google. Tiếp tục chọn những bức ảnh khác. Với
mỗi chủ đề, bạn nên tìm và tải về máy khoảng 3 đến 5 bức ảnh ưng ý, sau đó lựa chọn trong đó ra 1
bức ảnh đẹp nhất để sử dụng.
Ghi chú, thủ thuật
Cũng cần lưu ý là Google tìm kiếm không phân biệt chữ hoa và thường và có thể nhập tiếng
việt theo chuẩn Unicode.
Google sẽ loại bỏ các từ thông dụng trong các từ khóa, ví dụ như "where", "how", "a", "the"
để tăng tốc độ tìm kiếm. Do đó nếu muốn kết quả có các từ này, hãy thêm khoảng trắng và dấu cộng "
+" trước từ khóa đó, ví dụ: "computer +how". Nếu muốn tìm chính xác 1 chuỗi nào đó, hãy thêm
ngoặc kép, Ví dụ: "where are you".
Google cho phép dùng từ khóa "OR" (chữ hoa) và AND giữa các từ khóa cần tìm để nối các
từ khóa.
Ghi nhớ
Địa chỉ truy cập trang goole là:
Để tìm kiếm tư liệu, bạn phải nhập từ khóa vào hộp thoại tìm kiếm của google.
Có thể tìm kiếm thông tin trên web hay tìm kiếm hình ảnh bằng google
Câu hỏi bài tập
Câu 1: Tìm những thông tin và hình ảnh của nhà văn là tác giả cuốn tiểu thuyết “Tấn trò đời”.
Câu 2: Tìm những hình ảnh liên quan đến chủ đề môn học mà bạn đang dạy.
2.2. Tra từ điển từ trang Baamboo.com


Hình 2-16: Tìm kiếm hình ảnh về Kim tự tháp bằng từ khóa tiếng Anh
Trang web sẽ hiển thị nhưng hình ảnh về Kim tự tháp. Để tải về các bạn làm theo hướng dẫn
như Mục 2.1.3.
Ghi chú, thủ thuật
Khi gõ từ tìm cần tra, hãy chú ý đến những từ hiện ra ở phía dưới trong khi bạn gõ. Có thể từ
cần tra sẽ hiện ra trong danh sách và bạn chỉ việc chọn từ đó mà không cần gõ hết.
Hãy sử dụng phím tắt trên bàn phím khi bạn thực hiện thao tác copy (Ctrl + C) và dán (Ctrl
+ P).
Một số từ khóa tiếng việt có thể không tra được từ tiếng anh mong muốn, các bạn hãy sử dụng
những từ đồng nghĩa khác.
Bạn cũng có thể tra từ tiếng anh bằng cách chọn từ điển Anh- Việt, hay tra các ngôn ngữ khác
tùy vào các từ điển hỗ trợ được hiển thị.
Ghi nhớ
Để tra từ trực tuyến bạn vào địa chỉ trang web: sau đó chọn Tra từ.
Gõ từ khóa cần tra và hãy chọn loại từ điển mà bạn sử dụng để tra từ trước khi click chọn
Tra từ.
Câu hỏi, bài tập
Hãy tìm từ tiếng anh của các cụm từ tiếng việt sau: thư viện, bài giảng, giáo án, núi lửa, động
đất, sóng thần… Sau đó dùng các từ tiếng anh tra được để tìm kiếm thông tin về nó trên google.
2.3. Tìm kiếm và tải phim từ Youtube.com
2.3.1. Giới thiệu về Youtube.com
YouTube, trang web đăng tải nội dung video đang được ưa chuộng nhất thế giới. Trang web
này được ưa chuộng phần lớn do các đoạn video trên này đều được trình chiếu miễn phí.
Các đoạn video trên YouTube chỉ dài khoảng hai phút. Đây là những đoạn phim do các thành
viên của trang web sưu tầm được và chia sẻ tại đây. Ngoài ra, lượng phim tự quay, tự biên tập cũng
đang ngày càng phát triển. Để sử dụng YouTube, bạn phải dùng Internet băng thông rộng để đảm bảo
xem hình ảnh rõ nét, liên tục và không bị giật.
2.3.2. Thao tác tìm kiếm phim
Mở trình duyệt web Internet Explore và nhập địa chỉ . Màn hình của trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status