sử dụng bài tập để nâng cao chất lượng dạy học chương tính quy luật của hiện tượng di truyền (sinh học 12) - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
 NGUYỄN THU TRANG
SỬ DỤNG BÀI TẬP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC
CHƢƠNG "TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN TƢỢNG DI TRUYỀN"
(SINH HỌC 12)
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Sinh học
Mã số: 60.14.10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
MỤC LỤC
Trang

Lời cam đoan i
Mục lục ii
Mở đầu 1
CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1.Tổng quan về tình hình nghiên cứu và sử dụng bài tập 6
1.1.1. Trên thế giới 6
1.1.2. Ở Việt Nam 7
1.2. Cơ sở lý luận 9
1.2.1. Khái niệm về bài tập 9
1.2.2. Các loại bài tập, vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy - học 10
1.2.3. Nâng cao chất lượng dạy - học bằng cách sử dụng bài tập vào các
khâu trong quá trình dạy - học 15
1.3. Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
1.3.1. Thực trạng sử dụng bài tập của giáo viên phổ thông 17
1.3.2. Khả năng giải bài tập sinh học của học sinh phổ thông 19
CHƢƠNG 2: SỬ DỤNG BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG DẠY HỌC CHƢƠNG "TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN
TƢỢNG DI TRUYỀN" (Sinh học 12) 22
2.1. Cấu trúc nội dung phần Di truyền học (Sinh học 12) 22
2.2. Chương II ''Tính quy luật của hiện tượng di truyền'' 24
2.3. Tiêu chuẩn của bài tập trong dạy - học phần "Tính quy luật của hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học
Thế giới đang chuyển dần sang kinh tế tri thức, xã hội tri thức là xã hội
dựa vào tư duy sáng tạo, tài năng của con người. Để có thể xây dựng được
nền kinh tế tri thức, giáo dục phải đào tạo được những người lao động chủ
động, năng động và sáng tạo. Nghị Quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996)
đã khẳng định "Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối
dạy truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học,
từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá
trình dạy học". Định hướng trên đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục
(12/1998) điều 24.2 đã nghi rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, của học sinh phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui hứng thú trong học tập cho học sinh" [34].
Thế kỷ 21 là thế kỷ của hội nhập quốc tế sâu rộng, thế kỷ của khoa học
và công nghệ hiện đại. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy - học của ngành
giáo dục Việt Nam nói chung và của bậc học THPT nói riêng là một việc làm
cần thiết để giáo dục có thể đào tạo ra những con người đáp ứng đòi hỏi ngày
càng cao của xã hội.
1.2. Xuất phát từ ƣu điểm của bài tập trong dạy học sinh học
Trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng có thể nâng cao
chất lượng dạy - học và phát triển năng lực nhận thức của học sinh bằng nhiều

Ngôi trường tôi giảng dạy hiện nay chính là ngôi trường tôi đã học thời
THPT. Vừa là học sinh, giờ đây là giáo viên của trường, tôi hiểu rõ thực trạng
giảng dạy trong nhà trường, đặc biệt là trong bộ môn Sinh học. Thực tế việc sử
dụng bài tập trong dạy học Sinh học còn rất ít, giáo viên vẫn chủ yếu sử dụng
phương pháp truyền thống giảng dạy lý thuyết, việc giải bài tập chỉ được sử
dụng trong khâu ôn tập củng cố, hay trong khâu kiểm tra, đánh giá. Tuy vậy việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
sử dụng bài tập trong hai khâu này vẫn còn ở mức thấp. Chính vì vậy kỹ năng
vận dụng lý thuyết để giải các bài tập Sinh học, và để khắc sâu kiến thức cũng
như vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống của học sinh còn yếu.
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Sử
dụng bài tập để nâng cao chất lượng dạy học chương Tính quy luật của hiện
tượng di truyền" (Sinh học 12).
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận để sử dụng bài tập nhằm năng cao chất lượng dạy
học chương II "Tính quy luật của hiện tượng di truyền" (Sinh học 12).
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về về bản chất, vai trò, ý nghĩa của việc dạy
- học bằng bài tập.
- Khảo sát thực trạng, tình hình dạy học phần "Tính quy luật của hiện
tượng di truyền" (Sinh học 12).
- Xây dựng hệ thống bài tập phù hợp trong dạy - học chương "Tính quy
luật của hiện tượng di truyền" (Sinh học 12).
- Đề xuất biện pháp sử dụng bài tập để nâng cao chất lượng dạy - học
phần Quyn luật di truyền.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng bài tập
góp phần nâng cao chất lượng dạy - học.

luật của hiện tượng di truyền" nói riêng của một số giáo viên ở trường THPT.
6.2.2. Điều tra học tập của học sinh
Thông qua dự giờ và sử dụng test để tìm hiểu chất lượng học tập phần
"Tính quy luật của hiện tượng di truyền" (Sinh học 12) THPT của học sinh.
6.3. Phƣơng pháp chuyên gia
Học hỏi kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực Sinh học, các
tác giả đã có các công trình nghiên cứu trong phương pháp dạy - học nói
chung và phương pháp dạy - học Sinh học nói riêng.
6.4. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Thực nghiệm sư phạm ở một số trường phổ thông nhằm kiểm định
những giả thuyết của đề tài đã đặt ra. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
được trình bày trong chương 3.
7. Những đóng góp mới của đề tài
7.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sử dụng bài tập để tích cực hóa hoạt động
của học sinh trong dạy học nói chung và dạy - học Sinh học nói riêng.
7.2. Xây dựng hệ thống bài tập, đề xuất các biện pháp sử dụng bài tập tổ
chức dạy - học chương "Tính quy luật của hiện tượng di truyền" (Sinh học 12).
7.3. Xây dựng giáo án mẫu theo hướng nghiên cứu của đề tài, để dạy
học chương "Tính quy luật của hiện tượng di truyền" (Sinh học 12).
7.4. Thực nghiệm sư phạm để xác định tính khả thi của giả thuyết đề xuất.
8. Giới hạn của luận văn
Đề tài nghiên cứu giới hạn trong chương II "Tính quy luật của hiện
tượng di truyền" (Sinh học 12) THPT.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.

và đặt lên hàng đầu về công cuộc đổi mới phương pháp dạy - học [35].
Trong Sinh học bài tập di truyền được ra đời muộn, từ sau kết quả
nghiên cứu của Menđen bài tập di truyền mới thực sự được thiết lập. Cùng
với sự phát triển của Toán học là một môn khoa học có độ chính xác cao nó
đã nhanh chóng được các nhà Sinh học ứng dụng trong việc mô hình hóa
nhiều nội dung Sinh học bằng các biểu thức toán học. Điều này đã giúp khám
phá những điều bí ẩn của vật chất di truyền và cơ chế truyền đạt của chúng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
cho thế hệ sau. Bài tập di truyền trong Sinh học đã được nhiều nước trên thế
giới quan tâm đưa vào quá trình dạy học.
Tuy nhiên những vấn đề về cơ sở lý luận dạy - học của bài tập còn ít
được đặt vấn đề một cách có hệ thống, kể cả những vấn đề phân loại bài tập
làm định hướng cho việc xác định phương pháp sử dụng chúng cũng chưa
được quan tâm thỏa đáng, nên phần nào đã hạn chế vai trò tác dụng và giá trị
dạy - học của bài tập.
Mục đích của phương pháp nghiên cứu bài tập là xác định hệ thống
các dạng bài tập cho phép hình thành được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về
phương pháp dạy - học trong quá trình điều khiển hoạt động nhận thức ở
học sinh phổ thông.
1.1.2. Ở Việt Nam
Việt Nam dưới thời phong kiến đã xuất hiện kiểu dạy học cùng một lúc
thầy dạy nhiều trò với nhiều lứa tuổi và trình độ khác nhau. Kiểu dạy học này
bắt buộc người thầy phải quan tâm đến học sinh để có cách dạy phù hợp với
đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và nhu cầu của từng học sinh.
Trong những năm gần đây trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới toàn diện, đã có nhiều tác giả,
nhiều công trình nghiên cứu hướng vào người học ở tất cả các môn học, các

Năm 1981, Đinh Quang Báo đã nghiên cứu "Sử dụng câu hỏi và bài tập
trong dạy - học Sinh học" nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy -
học Sinh học [1]. Cùng đó tác giả cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về sử
dụng bài tập trong dạy - học Sinh học đăng trên tạp chí giáo dục [2], [18], [19].
Năm 1999, Dương Tiến Sĩ đã nghiên cứu "Giáo dục môi trường qua
dạy học sinh thái học lớp 11". Tác giả đã thể hiện một nét mới trong phương
pháp dạy hoc, sự tích hợp, lồng ghép giữa kiến thức sinh thái học và giáo dục
môi trường qua từng bài học và ở tất cả các môn học [31], [32], [33].
Năm 1994, Lê Đình Trung đã nghiên cứu "Thiết kế và sử dụng bài toán
nhân thức để nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di
truyền trong chương trình sinh học bậc THPT". Đây là công trình nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
đầu tiên về dạy - học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền bằng bài toán
nhận thức kết hợp với các bài tập tự lực, với sách giáo khoa, được thể hiện ở
khâu nghiên cứu tài liệu mới [23].
Năm 1994, Vũ Đức Lưu đã nghiên cứu "Dạy học các quy luật di truyền ở
THPT bằng bài toán nhận thức" là công trình nghiên cứu đầu tiên về dạy - học các
quy luật di truyền bằng bài toán nhận thức ở khâu nghiên cứu tài liệu mới [11].
Năm 1989, Nguyến Đức Thành đã nghiên cứu "Góp phần nâng cao
chất lượng giảng dạy các định luật di truyền". Tác giả đã thành công trong
việc sử dụng câu hỏi, bài tập để tích cực hóa hoạt động học tập, củng cố, hoàn
thiện kiến thức [16].
Năm 2003, Lê Thanh Oai đã nghiên cứu "Sử dụng câu hỏi và bài tập
tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy - học Sinh thái học
lớp 11 THPT". Tác giả đã xác định được các nguyên tắc, các quy trình thiết
kế sử dụng câu hỏi và bài tập như một phương pháp để tổ chức, hướng dẫn
học sinh tự lực phát hiện kiến thức mới nhằm nâng cao chất lượng dạy - học

tập có giáo viên thấy được ưu điểm, nhược điểm của người học trong nội
dung kiểm tra nhận thức. Trên cơ sở đó người học có thể đề ra phương án
khắc phục, còn người dạy có thể tự bổ sung hoàn chỉnh lại phương pháp.
Bài tập cần được thiết kế từ tài liệu sách giáo khoa mà học sinh phải
vận dụng những điều đã học để tìm tòi lời giải nhằm hình thành kiến thức
mới. Bài tập cũng dùng trong khâu củng cố, hoàn thiện hay kiểm tra đánh giá
mức độ nhận thức của học sinh về những kiến thức đã học.
1.2.2. Các loại bài tập, vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy - học
1.2.2.1. Các loại bài tập
Có nhiều cách khác nhau để phân loại bài tập trong dạy học.
* Phân loại theo mục đích lý luận dạy học
- Bài tập hình thành kiến thức mới
Là loại bài tập mà khi giải được bài tập đó sẽ lĩnh hội được kiến thức
mới, do vậy mỗi bài tập dùng để dạy kiến thức mới phải mã hóa được nội
dung kiến thức trong bài tập đó. Khi sử dụng bài tập này đòi hỏi người giáo
viên phải linh hoạt trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập tùy theo
từng đối tượng học sinh.
- Bài tập củng cố hoàn thiện kiến thức
Là loại bài tập mà học sinh khi giải được sẽ có tác dụng củng cố kiến
thức đã học đồng thời khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức đó. Nó được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
xây dựng dựa trên cơ sở những kiến thức đã có của học sinh. Làm bài tập này
giúp học sinh có kiến thức vững chắc hơn, mở rộng hơn với kiến thức đó khi
mới được hình thành.
- Bài tập dùng để kiểm tra đánh giá
Là loại bài tập khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh sau khi học
xong một bài học, hay một chương nào đó và khi giải mã học sinh tự mình

- Bài tập tổng hợp
Là loại bài tập phản ánh nhiều mối quan hệ, đòi hỏi phải vận dụng
nhiều mối quan hệ, đòi hỏi tìm ra mối quan hệ bản chất bên trong để tìm ra
đáp số. Đáp số là kiến thức mới mẻ đối với học sinh.
* Phân loại theo phƣơng pháp hình thành kỹ năng giải bài tập
- Bài tập mẫu
Đây là bài tập cụ thể đầu tiên mà học sinh tiến hành giải dưới sự hướng
dẫn của giáo viên hoặc giáo viên giải một cách chi tiết để từ đó học sinh có
thể tự giải được các bài tập cùng loại.
- Bài tập tƣơng tự
Là những bài tập cùng dạng với bài tập mẫu, vận dụng cách giải tương
tự các bài tập mẫu.
- Bài tập biến đổi
Đây là bài tập mẫu được thêm yêu cầu hoặc điều kiện ta được bài tổng hợp.
1.2.2.2. Vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy - học
Bài tập được xem là sản phẩm của tư duy ở đó vừa chứa đựng kiến thức
khoa học vừa chứa đựng "một thế năng tâm lý" để trở thành một động lực
thúc đẩy sự tìm tòi, sáng tạo. Đặc điểm cấu trúc và quan hệ giữa các yếu tố
biết, chưa biết là dấu hiệu quan trọng làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu
thiết kế và sử dụng bài tập trong dạy - học và làm định hướng lôgic tìm ra lời
giải đáp.
Khi xác định mục tiêu dạy - học, bài tập góp phần cụ thể hóa mục tiêu
và cũng là phương tiện để thực hiện mục tiêu dạy - học giúp lượng hóa mức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
độ đạt được của mục tiêu đề ra, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của
mục tiêu đề ra và điều chỉnh quá trình tiến tới mục tiêu dạy - học.
Để xác định được mục tiêu dạy - học, giáo viên phải nắm vững nội

trong quá trình học tập, để có thể phát huy được tính tích cực chủ động, sáng
tạo của học sinh thì người giáo viên nên:
* Đối với bài dạy:
- Tổ chức, hướng dẫn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề của bài
- Hạn chế truyền đạt kiến thức có sẵn
- Hướng dẫn học sinh tự phát hiện vấn đề của bài học rồi tổ chức cho
học sinh huy động những hiểu biết của bản thân (hoặc của một nhóm học
sinh) lập mối liên hệ giữa vấn đề mới phát hiện với các kiến thức thích hợp đã
biết, từ đó tìm cách giải quyết vấn đề.
- Trân trọng, khuyến khích mọi cách giải quyết của học sinh, giúp các
em lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất.
- Tổ chức cho học sinh thực hành, vận dụng kiến thức mới ngay trong
tiết dạy bài mới để học sinh "học qua làm" góp phần giúp học sinh tự chiếm
lĩnh kiến thức mới, bằng cách sử dụng bài tập trong sách giáo khoa để tổ chức
cho học sinh làm theo năng lực của mình.
* Đối với bài luyện tập thực hành ôn tập.
- Giúp học sinh tự phát hiện ra mối liên hệ giữa bài tập và kiến thức đã học.
- Giúp học sinh luyện tập thực hành theo khả năng của từng em, không
dạy học "đồng loạt", "bình quân" khi chữa bài, chọn bài giáo viên phải quan
tâm đến từng đối tượng học sinh.
- Khuyến khích sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh bằng
cách phối hợp giữa bài làm của từng cá nhân với trao đổi ý kiến trong nhóm về
cách giải của các bạn để rút ra kinh nghiệm, tự hoàn chỉnh cách giải của mình.
- Tập cho các em thói quen kiểm tra, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm
khi làm bài và chữa bài.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
- Tập cho học sinh thói quen tìm nhiều cách giải một bài (nếu có thể)


16
đó giúp thày đánh giá đúng hiệu quả của phương pháp dạy còn trò rút ra được
kinh nghiệm học, tự bổ sung đào sâu kiện thức.
- Bài tập có vai trò định hướng nhận thức, định hướng nghiên cứu sách
giáo khoa.
- Bài tập có vai trò củng cố và nâng cao kiến thức, giúp học sinh hệ
thống hóa, khái quát hóa các kiến thức đã học một cách hệ thống.
- Chính những vai trò quan trọng của bài tập di truyền trong dạy học
mà việc sử dụng bài tập trong các khâu của quá trình dạy - học là rất thuận lợi
và đạt hiệu quả cao.
1.2.3.3. Biện pháp sử dụng bài tập vào các khâu của quá trình dạy - học
để nâng cao chât lƣợng dạy - học
- Sử dụng bài tập kết hợp với nghiên cứa sách giáo khoa.
Sách giáo khoa được sử dụng như một phương tiện quan trọng để tổ
chức hoạt động học tập cho học sinh. Vì sách giáo khoa là nguồn cung cấp tri
thức quan trọng nhất, sự phong phú tri thức sách giáo khoa không phải lúc
nào cũng khai thác hết được.
- Để nâng cao giá trị dạy - học từ sách giáo khoa thì giáo viên phải xem
sách giáo khoa là công cụ để tổ chức hoạt động cho học sinh, việc giải bài tập
giúp học sinh hình thành tri thức mới. Trong hoạt động đó thì sách giáo khoa
đối với học sinh là nguồn tri thức cốt lõi, cơ bản để tra cứu, tìm tòi và tự lực
nghiên cứu. Như vậy sách giáo khoa không đơn thuần tự ôn, tự học các tri thức
đơn giản mà còn là công cụ kết hợp để tổ chức học sinh tiếp thu tri thức mới.
- Sử dụng bài tập kết hợp với câu hỏi tự lực.
Câu hỏi tự lực là câu hỏi gợi ý của giáo viên theo một định hướng sư
phạm dạy - học. Đó là câu hỏi hướng dẫn học sinh khi đọc tài liệu mới, khi
giải bài tập. Điều này có tác dụng rút ngắn thời gian nhận thức các tri thức
mới của học sinh từ tài liệu sách giáo khoa. Đặc biệt loại câu hỏi này rèn
luyện cho học sinh tác phong tự học, tự nghiên cứu tìm tòi có định hướng từ

%
Số
GV
%
Số
G
V
%
1

Sử dụng bài tập để dạy
kiến thức mới
0
0
2
7.14
26
92.86
2
Sử dụng bài tập để
củng cố, hoàn thiện,
nâng cao kiến thức
15
53.57
9
32.14
4
14.29
3
Sử dụng bài tập để

mở phát huy tính tích cực của học sinh tìm tòi khám phá kiến thức mới từ việc
giải bài tập đã cho. Vì vậy sách giáo khoa không phát huy tác dụng, trở nên
thừa, học sinh không hình thành được kỹ năng đọc sách, rèn luyện năng lực
nhận thức và hình thành phương pháp tự học, không phát huy được tính tích
cực tự lực, tìm tòi để chiếm lĩnh tri thức khoa học cho mình.
Nguyên nhân:
1. Nội dung kiến thức trong chương "Tính quy luật của hiện tượng di
truyền" khá nhiều , thời gian 45 phút trên lớp giáo viên không đủ để giáo viên
tổ chức các hình thức dạy - học khác nhau. Cùng với đó phân phối chương
trình chưa thực sự hợp lý, thời gian dành cho các tiết bài tập còn quá ít. Do đó
giáo viên không có thời gian để hướng dẫn học sinh làm bài tập trên lớp.
2. Giáo viên chưa chú ý đến việc thiết kế và sử dụng bài tập trong tổ
chức dạy - học, chưa khai thác được khả năng hợp tác nhóm của học sinh. Bởi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
lẽ đa số giáo viên vẫn quen thuộc với việc dạy học truyền thống, truyền thụ lý
thuyết sau đó học sinh vận dụng làm bài tập.
3. Do nhiều giáo viên chưa nắm vững được các quy trình, các nguyên
tắc xây dựng bài tập. Đặc biệt là các giáo viên vùng núi, xa trung tâm.
4. Nhiều giáo viên chưa thực sự tâm huyết, chưa đầu tư nhiều thời gian
để nghiên cứu chuẩn bị bài dạy, chưa cập nhật kiến thức mới và các phương
pháp dạy học tích cực.
5. Các phương tiện, đồ dùng dạy học còn thiếu, không đồng bộ hoặc
không phù hợp.
1.3.2. Khả năng giải bài tập sinh học của học sinh phổ thông
Qua thực tế giảng dạy và quan sát đối tượng học sinh phổ thông tôi
nhận thấy với bộ môn Sinh học, học sinh vẫn còn có thói quen học thuộc
lòng, không có thói quen tự giải quyết các vấn đề trong học tập. Việc giải bài

Lần kiểm tra
Tổng số bài kiểm tra
% số bài đạt yêu cầu
1
272
50.17
2
272
48.09
3
272
50.27
4
272
52.82
Tổng hợp
1088
50.34

(Các đề kiểm tra ở phần phụ lục: Mỗi đề được dùng cho một lần kiểm tra)
Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy hầu hết các em học sinh chỉ làm
được các câu hỏi học thuộc lòng, làm được các bài tập đơn giản, khả năng tư
duy lôgic, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để giải các bài tập khó còn
rất hạn chế. Điều đó cho thấy thực sự học sinh chưa hiểu được bản chất của
các quy luật di truyền, và mối quan hệ giữa các quy luật di truyền với nhau.
Đa số các em coi môn sinh học là môn phụ nên không chú trọng, chỉ
có một số ít các em học sinh tập chung vào môn sinh với mục đích để tham
gia vào kỳ thi đại học sau này, trên lớp chủ yếu các em chỉ lắng nghe và ghi
bài đầy đủ, ít tham gia phát biểu ý kiến, còn lại thời gian học ở nhà các em
dành thời gian rất ít cho môn Sinh học, việc học vẫn chỉ là hình thức chống

Trích đoạn Bài tập sử dụng trong các khâu của QTDH Bài tập củng cố, hoàn thiện kiến thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status