Xây dựng và sử dụng graph trong dạy học chương “tính quy luật của hiện tượng di truyền”, sinh học 12 trung học phổ thông - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ XOAN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN”,
SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Sinh học)
Mã số : 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ ĐÌNH TRUNG HÀ NỘI – 2013

1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hóa
DT : Di truyền
DTLKGT : Di truyền liên kết với giới tính
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên


Trang
Bảng 1.1. Điều tra tình hình sử dụng các phương pháp dạy học của GV
25
Bảng 1.2. Kết quả điều tra về học tập của học sinh đối với môn Sinh học
26
Bảng 1.3. Điều tra tình hình sử dụng phương pháp graph trong dạy - học
chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12 THPT
27
Bảng 2.1. Graph so sánh kết quả LKG hoàn toàn với phép lai 1 cặp tính
trạng và phép lai 2 cặp tính trạng PLĐL
59
Bảng 2.2. Graph so sánh kết quả LKG hoàn toàn với kết quả LKG không
hoàn toàn trong thí nghiệm của Moocgan
60
Bảng 2.3. Graph phản ánh sự khác nhau giữa PLĐL và tương tác bổ sung
60
Bảng 2.4. Graph so sánh sự DT gen trên NST X với gen trên NST Y
60
Bảng 3.1. Thống kê số bài kiểm tra đạt các điểm từ 1 đến 10 của HS
96
Bảng 3.2. Tổng hợp điểm các bài kiểm tra của các lớp thực nghiệm và đối
chứng qua 2 lần kiểm tra trong thực nghiệm
98
Bảng 3.3. So sánh kết quả giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng qua 2 lần
kiểm tra trong thực nghiệm
98
Bảng 3.4. Phân loại trình độ HS qua kiểm tra trong thực nghiệm
99
Bảng 3.5. Tổng hợp điểm các bài kiểm tra của các lớp thực nghiệm và đối
4
DANH MỤC GRAPH TRONG LUẬN VĂN

Trang
Hình 1.1. Hai cách thể hiện khác nhau của một graph
11
Hình 1.2. Graph có hướng
16
Hình 1.3. Graph vô hướng
16
Hình 1.4. Graph khép
17
Hình 1.5. Graph mở
17
Hình 1.6. Graph đủ
18
Hình 1.7. Graph khuyết
18
Hình 1.8. Graph câm
18
Hình 1.9. Graph trong graph
18
Hình 1.10. Graph định nghĩa khái niệm “Gen”
20
Hình 1.11. Graph phân chia khái niệm “Sinh sản”
21
Hình 1.12. Graph cấu trúc của nucleotit
21

Hình 2.11. Graph kiểu tương tác giữa gen alen và không alen
46
Hình 2.12. Graph tác động đa hiệu của gen đột biến HbS gây hội chứng bệnh
hồng cầu lưỡi liềm
46
Hình 2.13.
Graph dạy học kiến thức di truyền đa hiệu
47
Hình 2.14. Bản chất sinh hóa các dạng tương tác gen
47
Hình 2.15. Bản chất sinh hóa tương tác bổ sung – Kiểu 9:7
47
Hình 2.16. Bản chất sinh hóa tương tác bổ sung – Kiểu 9:6:1
47
5
Hình 2.17. Graph các kiểu tương tác giữa 2 gen không alen và ví dụ tương ứng
48
Hình 2.18.
Graph dạy học về nội dung kiến thức tương tác gen
48
Hình 2.19.
Graph dạy học về nội dung kiến thức DT LKGT
50
Hình 2.20.
Graph dạy học kiến thức di truyền ngoài nhân
51
Hình 2.21.

59

DANH MỤC GRAPH BẢNG TRONG PHỤ LỤC

Trang
Bảng 2.1. Graph so sánh kết quả LKG hoàn toàn với phép lai 1 cặp tính trạng
và phép lai 2 cặp tính trạng PLĐL
118
Bảng 2.2. Graph so sánh kết quả LKG hoàn toàn với kết quả LKG không
hoàn toàn trong thí nghiệm của Moocgan
118
Bảng 2.3. Graph phản ánh sự khác nhau giữa PLĐL và tương tác bổ sung
118
Bảng 2.4. Graph so sánh sự DT gen trên NST X với gen trên NST Y
118

6
MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các biểu đồ

25
1.3.2. Thực trạng học của học sinh
25
1.3.3. Tình hình giáo viên sử dụng các graph trong dạy học chương “Tính
quy luật của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12 trung học phổ thông

26
1.3.4. Phân tích nguyên nhân thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp
graph như hiện nay ở trường phổ thông

29
Chương 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN”,
SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 31
2.1. Xây dựng graph dạy học
31
2.1.1. Vai trò của phương pháp graph trong dạy học
31
2.1.2. Các nguyên tắc xây dựng graph trong dạy học
34
2.1.3. Quy trình xây dựng graph dạy học
34
2.1.4. Phân tích cấu trúc nội dung chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền”,
Sinh học 12 trung học phổ thông làm cơ sở để xây dựng graph

37


95
3.6.2. Xử lý số liệu
96
3.7. Kết quả thực nghiệm
98
3.7.1. Kết quả định lượng
98
3.7.2. Kết quả định tính
103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
106
1. Kết luận
106
2. Khuyến nghị
106
TÀI LIỆU THAM KHẢO
108
PHỤ LỤC
110

8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo đó là phải đổi mới toàn
diện trong đó có phương pháp dạy học hiện nay
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, với
nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực đặc

cần thiết.
1.3. Xuất phát từ các đặc trưng cơ bản của chương trình sinh học cấp trung học
phổ thông
Đặc trưng cơ bản của chương trình Sinh học cấp THPT, đó là: các kiến thức
khái niệm, hiện tượng, quy luật, cơ chế và quá trình sinh học đều xuất phát từ các
kết quả thực nghiệm. Phần Di truyền học, đặc biệt là Chương II: Tính quy luật của
hiện tượng di truyền, Sinh học 12 được trình bày lôgic mang tính hệ thống cao
Khối lượng kiến thức đặc trưng là kiến thức khái niệm, hiện tượng, quy luật, cơ chế
sinh học và kiến thức ứng dụng thực tiễn. Với mỗi loại kiến thức cần có phương
pháp, phương tiện dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức.
1.4. Xuất phát từ lợi thế của phương tiện graph trong dạy học
Lý thuyết graph là một trong những phương pháp khoa học có tính khái quát
cao giúp HS có kỹ năng tự lực trong quá trình học tập. Khi tiếp cận lý thuyết graph
chúng tôi nhận thấy lợi thế của graph trong dạy học có thể đem lại hiệu quả cao:
Mỗi graph được xây dựng phải trải qua các phân tích, so sánh, tổng hợp, phát hiện
cái chung và cái riêng nên rất thuận lợi cho quá trình dạy học trong các khâu như
dạy học hình thành kiến thức mới, dạy học củng cố, ôn tập, hoàn thiện kiến thức và
trong kiểm tra, đánh giá.
Kiến thức di truyền học về “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” trong
chương trình Sinh học lớp 12 là loại kiến thức khó, rất trừu tượng, có tính khái quát
và khả năng ứng dụng cao; trong khi thời lượng lên lớp thì hạn chế nên HS thường
khó nhớ, mau quên kiến thức, khó vận dụng được kiến thức. Song nếu GV sử dụng
phương pháp graph trong dạy học có thể phát huy khả năng học sáng tạo, khái quát
hóa và tự học ở HS trong tất cả các khâu của quá trình dạy học.
1.5. Xuất phát từ thực trạng sử dụng phương pháp graph của giáo viên trung học
phổ thông hiện nay
Hiện nay, việc sử dụng phương pháp graph trong dạy học của GV phổ thông
không còn là điều mới mẻ. Tuy nhiên, về phương pháp xây dựng và cách sử dụng
chúng như thế nào sao cho hiệu quả thì vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng
mức, đặc biệt là trong lĩnh vực dạy học Sinh học và các graph được xây dựng chưa

quan đến đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới ra đề kiểm tra, danh mục thiết bị
dạy học Sinh học THPT
- Sách giáo khoa, sách GV, phân phối chương trình, chuẩn kiến thức, kỹ
năng môn Sinh học…
11
- Phân tích tổng quan và khái quát hoá những lý thuyết về graph trong dạy
học và những ứng dụng của nó trong thực tiễn cuộc sống và trong dạy học.
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu trên sách, báo, tạp chí, các công trình
nghiên cứu các vấn đề liên quan trực tiếp đến phương pháp graph và việc đổi mới
phương pháp dạy học nhằm đưa ra quy trình thiết kế và sử dụng graph.
- Phân tích tổng hợp những quan điểm lý luận và hệ thống khái niệm có liên
quan đến việc đổi mới giáo dục và việc dạy học môn Sinh học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra lấy ý kiến học sinh sau hai giờ
dạy đối chứng và thực nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia: Gặp gỡ, trao đổi, xin ý kiến các chuyên gia, đồng
nghiệp, nhằm đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp graph hiện nay và xây dựng
các graph về kiến thức chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền”, Sinh học
12 THPT.
4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành giờ dạy thực nghiệm và đối chứng tại trường THPT Chí Linh,
trường THPT Bến Tắm, tỉnh Hải Dương để kiểm chứng giả thuyết khoa học của
đề tài.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được nguyên tắc, quy trình xây dựng đồng thời xây dựng được một
hệ thống graph nội dung chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” và sử dụng
theo một quy trình hợp lý thì sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS.

nâng cao hiệu quả, chất lượng lĩnh hội kiến thức của HS của chương “Tính quy luật
của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12 THPT.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục,
luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể là:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2. Xây dựng và sử dụng graph trong dạy học chương “Tính quy luật
của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12 THPT
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

13
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lược sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên Thế giới
Các công trình việc nghiên cứu việc ứng dụng lý thuyết graph (còn gọi là lý
thuyết sơ đồ) vào dạy học trên thế giới. Lý thuyết graph ra đời cách đây khoảng 250
năm, trong quá trình các nhà khoa học đi tìm lời giải cho các bài toán đố, đặc biệt là
toán vui. Công trình nghiên cứu đầu tiên về lý thuyết graph ra đời vào năm 1736 khi
nhà toán học thiên tài Leonhanrd Eler đặt và giải bài toán rất nổi tiếng về bảy chiếc
cầu ở Konigs burg. Lúc đầu lý thuyết sơ đồ là một bộ phận rất nhỏ của toán học và
chủ yếu nghiên cứu giải quyết những bài toán có tính chất giải trí và tiêu khiển.
Thời điểm xác định bước nhảy vọt của lý thuyết graph là thời điểm cùng với sự phát
triển của toán học và nhất là toán học ứng dụng.
Trong lí luận dạy học, việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết graph được
quan tâm từ những năm 60 của thế kỷ XX với một số công trình của các nhà khoa
học Xô Viết. Người đầu tiên là A.M.Xokhor, ông đã vận dụng phương pháp graph

Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như : “graph và mạng lưới
hữu hạn” của R.Baxep, T.Xachi; “lý thuyết graph” của V.V.Belop, E.M.Vôpôbôep
đều nêu những định hướng cho việc ứng dụng graph vào nghiên cứu, giảng dạy
các bộ môn trong nhà trường như: văn học, vật lí, hoá học, sinh học,
Năm 1973 tại Liên Xô (cũ) tác giả Nguyễn Như Ất đã vận dụng phương
pháp graph kết hợp với phương pháp ma trận như một phương pháp hỗ trợ để xây
dựng logic cấu trúc các khái niệm “Tế bào học” trong giáo trình môn Sinh học đại
cương trường phổ thông của nước Việt Nam.
Hiện nay, nhiều nước khác nhau trên thế giới, các công trình nghiên cứu về
lý thuyết graph cũng như tìm hiểu ứng dụng graph trong dạy học ở tất cả các môn
học, các cấp học số lượng ngày càng lớn với chất lượng ngày càng sâu sắc.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nhà sư phạm đầu tiên đề xuất việc nghiên cứu và vận dụng
phương pháp graph trong khoa học thành phương pháp graph dạy học, mở ra một
hướng đi mới cho những nhà nghiên cứu lí luận dạy học là GS. Nguyễn Ngọc
Quang. GS đã cùng với các cộng sự tiến hành thực nghiệm đưa lý thuyết graph vào
dạy học trong nhà trường phổ thông và đại học. Năm 1979, giáo sư viết cuốn sách
“lí luận dạy học - khoa học về trí dục và dạy học” như một lời tuyên ngôn cho việc
15
“tìm cách vận dụng những phương pháp thâm nhập khoa học (như thực nghiệm, dự
đoán, mô hình, algorit, sơ đồ mạng ) vào thực tiễn dạy học ở trường phổ thông”.
Sau đó vào năm 1981 ông công bố bài báo: “phương pháp graph trong dạy học”;
năm 1982 ông công bố bài: “phương pháp graph và lí bài toán hoá học”; năm 1983
ông công bố bài: “Sự chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy
học” Qua những nghiên cứu của mình, giáo sư khẳng định việc sử dụng phương
pháp graph trong dạy học có giá trị rất lớn về mặt trí dục, vì: “khi lập được graph
nội dung của một vấn đề có nghĩa là nắm vững được cả cấu trúc và lôgic phát triển

nhất định. Các vấn đề nghiên cứu trở nên đa dạng, phong phú và đội ngũ tác giả
ngày một đông đảo hơn. Việc ứng dụng lý thuyết graph cũng được mở rộng ở nhiều
môn khác nhau trong nhà trường. Có thể kể đến các tác giả sau:
Phạm Thị My (2000) nghiên cứu “ứng dụng lý thuyết Graph xây dựng và sử
dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học sinh học ở
THPT”. [12]
Trịnh Quang Từ: “Sử dụng graph trong thiết kế phương pháp dạy học”.
Nguyễn Phúc Chỉnh với: “Sử dụng Graph nhằm tích cực hoá hoạt động nhận
thức của học sinh trong dạy học sinh thái học’’ và “Sử dụng Graph trong dạy học
sinh học góp phần phát triển tư duy hệ thống”. Năm 2005 tác giả nghiên cứu: “
Nâng cao hiệu quả dạy học giải phẫu sinh lý người ở trung học cơ sở bằng áp dụng
phương pháp graph”. Trong lĩnh vực dạy học sinh học ở trường phổ thông, Nguyễn
Phúc Chỉnh là người đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về lý thuyết
graph và ứng dụng lý thuyết graph trong dạy học Giải phẫu sinh lý người.
Trong lĩnh vực dạy học Sinh học ở trường phổ thông, phó giáo sư - tiến sĩ Lê
Đình Trung cũng là một trong số những người đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống
về lý thuyết graph và ứng dụng lý thuyết graph trong dạy học Sinh học.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Methodos” có nghĩa
là con đường, cách thức để đạt tới mục đích nhất định. “Phương pháp là hình thức
tự vận động bên trong của nội dung” nó gắn liền với hoạt động của con người, giúp
con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mục đích đã đề ra.
Theo GS. Nguyễn Ngọc Quang: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc
của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm
cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”.

giữa các đỉnh trong graph. Các cung của graph được thể hiện bằng những hình thức
đa dạng: đoạn thẳng, đường gấp khúc, đường cong, Cung có thể dài ngắn, to nhỏ,
18
đậm nhạt khác nhau. Tuy nhiên việc thể hiện cung bằng hình thức nào hoàn toàn
không ảnh hưởng đến nội dung của graph. Hình dạng của các cung không thể hiện
mối liên hệ kiến thức nên người lập graph có thể chọn cho mình kiểu dáng cung
graph phù hợp để có một graph vừa thể hiện được các đơn vị kiến thức, mối liên hệ
giữa các kiến thức, vừa có hình thức đẹp sắc nét.
Cách kí hiệu các đỉnh và cách biểu diễn các cung không làm thay đổi bản
chất của graph. Cái khiến graph thay đổi là trong graph đó có bao nhiêu cung, và
các cung đó nối các đỉnh nào với nhau. Bản chất của graph được xác định bằng số
lượng các cung và đặc điểm của đỉnh tạo nên cung ấy. Xét một đỉnh của graph, số
cạnh tới đỉnh đó gọi là bậc (degree) của đỉnh. Các cạnh của graph thẳng hay cong,
dài hay ngắn, các đỉnh ở vị trí nào, đều không phải là điều quan trọng, mà điều cơ
bản là graph có bao nhiêu đỉnh, bao nhiêu cạnh và đỉnh nào được nối với đỉnh nào.
Graph có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ, dạng biểu đồ quan hệ hoặc
dạng bảng (ma trận). Một graph có thể có những cách thể hiện khác nhau, nhưng
phải chỉ rõ được mối quan hệ giữa các đỉnh.
Ví dụ, hình 1.1 là một grap có 4 đỉnh A, B, C, D được biểu diễn bằng hai
kiểu khác nhau, nhưng mối quan hệ của các đỉnh không thay đổi.
A
D
B

C

Hình 1.1. Hai cách thể hiện khác nhau của một graph

dung bài học thành một graph dạy học nhằm đạt mục đích dạy học. Về phía người
học, graph là con đường dẫn học sinh chiếm lĩnh một cách hiệu quả nội dung bài
học, trên cơ sở đó đạt được mục đích học tập, hình thành phương pháp nhận thức
khoa học cho bản thân. Vì vậy, muốn cho phương pháp graph đạt được hiệu quả,
cần phải xác định đúng mục đích dạy học.
Vai trò của graph trong dạy học là rất lớn song hiệu quả đạt được lớn hay
nhỏ là tùy thuộc vào phương pháp và biện pháp sử dụng graph. Trong dạy học,
graph có thể được sử dụng ở tất cả các khâu: Hình thành kiến thức mới; Củng cố và
hoàn thiện kiến thức; Kiểm tra đánh giá. Song nội dung, hình thức và phương pháp
sử dụng graph thì khác nhau ở mỗi khâu.
Khi sản phẩm hoạt động tư duy kết tinh lại thành ngôn ngữ sơ đồ thì cũng là
lúc hoạt động bên trong (tư duy) và hoạt động bên ngoài (vật chất hóa) của HS được
bộc lộ trong mối tác động qua lại với nhau. Quá trình này không chỉ tạo ra nguồn
thông tin xuôi và ngược phong phú, giúp điều khiển quá trình dạy học một cách linh
hoạt, hiệu quả mà còn phát triển năng lực nhận thức HS. Như vậy hiệu quả dạy học
của graph được khai thác một cách triệt để. Đặc biệt giá trị dạy học của sơ đồ có thể
còn tăng lên rất nhiều khi sơ đồ tĩnh được chuyển thành sơ đồ động thông qua kỹ
thuật vi tính và kỹ thuật dạy học.
1.2.1.4. Khái niệm graph nội dung
Graph nội dung là graph phản ánh một cách khái quát, trực quan cấu trúc
lôgic phát triển bên trong của một tài liệu hay bài học. Nói cách khác, graph nội
20
dung là tập hợp những yếu tố thành phần của một nội dung trí dục và mối liên hệ
bên trong giữa chúng với nhau, đồng thời diễn tả cấu trúc lôgic của nội dung dạy
học bằng một ngôn ngữ trực quan, khái quát và súc tích. Mỗi loại kiến thức có thể
được mô hình hoá bằng một loại graph đặc trưng để phản ánh những thuộc tính bản
chất của loại kiến thức đó. Trong dạy học, có thể sử dụng graph nội dung các thành

ở trên lớp, căn cứ vào yêu cầu kiến thức cơ bản của bài học. Bài soạn là phương án
lên lớp của người GV.
Graph là công cụ đắc lực cho công tác soạn giảng của người GV vì:
- Graph bài soạn giảng phản ánh được mục đích chính của tiết học, nó chứa đựng
những nội dung kiến thức cơ bản của tài liệu giáo khoa, có tác dụng định hướng cho
HS vào những nhiệm vụ nhận thức cụ thể.
- Graph bài soạn giảng phản ánh được lôgic phát triển của nội dung khoa học của
bài học, nó thể hiện quan hệ cấu trúc lôgic khoa học của kiến thức, mối liên hệ giữa
các kiến thức. Qua đó, HS có thể hiểu được phương hướng giải quyết nhiệm vụ
nhận thức.
- Graph bài soạn giảng phản ánh trực quan được các bước tổ chức giờ học của GV,
giúp HS dễ dàng hình dung lại những công việc mà thầy và trò đã thực hiện trong
giờ học.
Thông qua việc sử dụng graph để xây dựng cấu trúc hợp lý của bài soạn, GV
định hướng được kế hoạch lên lớp ngay từ khi soạn giảng, tránh được tình trạng
soạn bài hoặc quá tỉ mỉ hoặc quá sơ sài.
1.2.2.2. Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trên lớp cũng như tự học
Graph mang tính trực quan, cô đọng, khái quát bằng kí hiệu, sơ đồ, có khả
năng diễn đạt những khái niệm trừu tượng, các mối liên hệ ẩn tàng giúp HS hiểu
khái niệm một cách dễ dàng, tiết kiệm ngôn từ diễn đạt của GV, tăng tính gợi mở,
kích thích suy nghĩ HS tiếp thu kiến thức mới chính xác, đồng thời tái hiện lại bài
học và nhớ kiến thức lâu bền hơn. Sử dụng graph để giảng dạy trên lớp, vai trò của
người GV không phải là nguồn phát thông tin duy nhất, không phải là người hoạt
động chủ yếu mà chỉ giữ vai trò thiết kế và điều khiển quá trình học tập của HS. HS
giữ vai trò thi công trong việc lĩnh hội kiến thức từ nội dung tri thức SGK.
Tự học là một hoạt động tâm lý đặc trưng của con người, hoạt động tự học là
hoạt động tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của cá
nhân hướng tới những mục tiêu nhất định. Tự học không chỉ có ý nghĩa trong thời
gian học tập ở nhà trường, mà còn có ý nghĩa lớn trong cuộc đời của mỗi người.
Thông qua hoạt động học tập bằng graph, HS sẽ hình thành tư duy hệ thống. Qua

graph hóa nội dung tri thức. HS muốn hiểu, lĩnh hội được kiến thức, thậm chí tạo ra
các sản phẩm tri thức sáng tạo đòi hỏi HS phải thực hiện thường xuyên, liên tục
các thao tác tư duy lôgic cơ bản, như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa,
khái quát hóa, hệ thống hóa…
Di truyền học, cụ thể là chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền”,
Sinh học 12 THPT là một phần của Sinh học, nghiên cứu sự vận động của vật chất
23
di truyền (ở cấp độ phân tử và cấp độ tế bào) trong việc truyền đạt thông tin di
truyền và biểu hiện các tính trạng của sinh vật qua các thế hệ. Cho nên, việc sử
dụng sơ đồ hóa có thể diễn đạt một cách chặt chẽ các mối quan hệ tương hỗ đó cũng
như có hệ thống hóa được các khái niệm, các quá trình, các quy luật; kích thích tư
duy cũng như khả năng sáng tạo trong việc thiết lập các sơ đồ kiến thức di truyền,
đặc biệt là nội dung Tính quy luật của hiện tượng di truyền.
1.2.3. Phân loại graph trong dạy học
Khi nghiên cứu về graph, có nhiều cách phân loại graph theo những tiêu chí
phân loại khác nhau, như: phân loại tùy thuộc vào đặc điểm tính chất của đối tượng
nghiên cứu và mục đích sử dụng, nhưng cách phân loại được nhiều người biết đến
và sử dụng nhiều nhất là cách phân loại graph thành các loại như sau: graph có
hướng - graph vô hướng; graph khép - graph mở; graph đủ - graph câm - graph
khuyết; graph trong graph.
1.2.3.1. Graph có hướng và graph vô hướng
- Graph có hướng (graph định hướng): Là graph có sự xác định rõ đỉnh nào là
đỉnh xuất phát trong graph. Ở loại này mối liên hệ giữa các đỉnh của graph sẽ được
định rõ đi theo hướng nào chiều nào, đi từ đỉnh nào tới đỉnh nào trong graph. Vì đặc
tính này nên các đoạn nối đỉnh trong graph định hướng đều được thể hiện bằng những
đoạn nối có chiều mũi tên. Chiều mũi tên chính là chiều quan hệ, chiều phân chia,
hoặc chiều vận động của các yếu tố.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status