MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HèNH iv
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết 1
2. Mục tiêu 2
2.1. Đối tượng 2
2.2. Yêu cầu 2
PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1. Hiện trạng sản xuất và chế biến tinh bột sắn 3
1.1. Sản xuất và chế biến tinh bột sắn trên thế giới 3
1.2. Sản xuất và chế biến tinh bột sắn ở Việt Nam 5
2. Chất thải rắn trong sản xuất tinh bột sắn 11
2.1. Nguồn phát sinh và tải lượng 11
2.2. Đặc trưng chất thải rắn 13
3. Các phương pháp xử lý chất thải rắn sau chế biến tinh bột sắn 14
3.1. Biện pháp sấy khô bã sắn 15
3.2. Biện pháp sinh học 17
4. Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật phân giải xenlulo, tinh bột trong xử lý phế
phụ phẩm nông nghiệp, phế phụ phẩm chế biến thực phẩm 19
PHẦN III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
1.1. Đối tượng nghiên cứu 25
1.2. Phạm vi nghiên cứu 25
2. Nội dung nghiên cứu 25
3. Phương pháp nghiên cứu 25
i
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
1. Thành phần và tính chất của chất thải rắn từ hoạt động chế biến tinh bột sắn
32
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của pH tới sinh trưởng và phát triển của VSV 39
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của không khí đến sinh trưởng và phát triển của VSV 39
Bảng 4.8. Các công thức thí nghiệm với tổng hợp các yếu tố môi trường 40
Bảng 4.9. Ảnh hưởng tổng hợp các điều kiện môi trường tới sinh trưởng và phát
triển của vi sinh vật 41
Bảng 4.10. Khả năng tổ hợp của các chủng vi sinh vật 42
Bảng 4.11. Mật độ và hoạt tính sinh học của các chủng vi sinh vật nuôi cấy trên
cơ chất bã thải tinh bột sắn 43
Bảng 4.12. Mật độ vi sinh vật trong quá trình ủ theo các tỉ lệ phối trộn các chủng
vi sinh vật 44
Bảng 4.13. Sự thay đổi màu sắc và mùi của bã thải trong quá trình ủ 47
Bảng 4.14. Thành phần vật lý, hóa học của phế thải sau ủ qua các tỉ lệ 48
Bảng 4.15. Kết quả kiểm tra độ hoai của sản phẩm sau ủ 50
Bảng 4.16. Khối lượng tươi và tỉ lệ nảy mầm của cây cải 50
iii
DANH MỤC CÁC HèNH
Trang
Hình 2.1. Công nghệ sản xuất tinh bột sắn ở Thái Lan kèm theo dòng thải 5
Hình 2.2. Biểu đồ tăng trưởng diện tích, sản lượng và năng suất tinh bột sắn ở
Việt nam [1] 6
Hình 2.3. Quy trình sản xuất tinh bột sắn ở Việt Nam 11
Hình 2.4. Cân bằng vật chất trong sản xuất tinh bột sắn [64] 12
Hình 2.5. Sơ đồ quy trình xử lý bã sắn [52] 16
Hình 4.1. Diễn biến nhiệt độ qua các ngày ủ 45
Hình 4.2. Diễn biến pH và độ ẩm qua các ngày ủ 46
iv
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Sắn là loại cây lương thực quan trọng ở các nước nhiệt đới như Brazil,
Nigeria, Thái Lan, Indonexia, Việt Nam…Hoạt động sản xuất, chế biến tinh bột
- Phế thải dạng rắn sau chế biến tinh bột sắn
- Các chủng vi sinh vật có khả năng sử dụng trong xử lý phế thải CBTBS
dạng rắn làm nguyên liệu sản xuất phân bón hữu cơ.
2.2. Yêu cầu
- Xác định các điều kiện sinh trưởng phát triển và khả năng phối hợp các
vi sinh vật lựa chọn trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Đánh giá phế thải sau xử lý
2
PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1. Hiện trạng sản xuất và chế biến tinh bột sắn
1.1. Sản xuất và chế biến tinh bột sắn trên thế giới
Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La Tinh và được trồng
cách đây khoảng 5000 năm. Cây sắn được trồng ở rất nhiều nơi trên thế giới và
đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia này. Đến năm 2005 trên thế giới có
khoảng hơn 102 nước trồng sắn, tổng diện tích 18.510.000 ha với sản lượng
202.650.000 tấn củ sắn tương ứng với năng suất 10,95 tấn/ha.[7,44,54]
Sắn ở châu Á đang có chiều hướng tăng cả về sản lượng và năng suất. Theo
thống kê năm 2005: Ấn Độ là nước có năng suất sắn cao nhất thế giới (khoảng
31 tấn/ha), Thái Lan là nước có sản lượng sắn lớn nhất châu Á (hơn 20 triệu
tấn). Việt Nam là nước có sản lượng đứng thứ 3 trong khu vực và thứ 10 trên thế
giới (khoảng 6,7 triệu tấn), nhưng năng suất của chúng ta vẫn còn thấp so với
các nước trong khu vực. [48]
Ở Thái Lan sắn là cây trồng quan trọng thứ ba sau lúa và ngô, cây sắn được
đưa từ Malaysia vào trồng ở miền Nam Thái Lan vào khoảng từ năm 1786 đến
1840 và trong thời gian ngắn đã được trồng phổ biến ở vựng Đụng, Bắc Thái
Lan. Tổng diện tích trồng sắn từ chỗ đạt mức kỷ lục khoảng 1,6 triệu ha vào
năm 1988 và 1989 nay đã giảm xuống còn 1,05 triệu ha. Tổng sản lượng sắn
năm 2006 của Thái Lan đạt hơn 20 triệu tấn. [44,47]
Ở Thái Lan, toàn bộ sắn thu được đều được chế biến thành các sản phẩm như
Ưu điểm chính công nghệ nước này là nguyên liệu có thể là củ sắn tươi và cả
sắn lỏt khụ, khâu tẩy trắng dùng SO
2
với hàm lượng nhỏ. Dây chuyền công nghệ
sản xuất tinh bột sắn của Trung Quốc có giá thành thấp nên tương đối phổ biến
ở Việt Nam. [5,9]
4
Hình 2.1. Công nghệ sản xuất tinh bột sắn ở Thái Lan kèm theo dòng thải
1.2. Sản xuất và chế biến tinh bột sắn ở Việt Nam
Việt Nam là nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng thứ 3 trên thế giới, sau
Indonesia và Thái Lan. Năm 2006, diện tích đất trồng sắn đạt 475.000 ha, sản
lượng tinh bột sắn đạt 7.714.000 tấn. Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam
là Trung Quốc, Đài Loan. Cùng với diện tích sắn được mở rộng, sản lượng
cũng như năng suất tinh bột sắn được sản xuất cũng tăng lên theo thời gian.
Hình 1 mô tả tốc độ tăng trưởng của diện tích trồng sắn cũng như sản lượng
Rửa củ, bóc vỏ
Sắn củ tươi
Băm nhỏ
Nghiền
Trích ly, tách xơ
Phân ly (tinh lọc)
Ly tâm tách nước
Sấy khô
Làm nguội
Đóng bao
Thành
phẩm
Nước
Vỏ, tạp chất
ha so với quy hoạch phát triển sắn tới năm 2010 phân bố tập trung vào các khu
vực ven biển miền Trung, miền Đông Nam bộ và miền núi phía Bắc. [54;56]
Sản lượng sắn năm 2009 đạt 9,445 triệu tấn, cao hơn năm 2008 khoảng 0,2-
0,4 triệu tấn nhưng tăng 1,4 lần so với năm 2005. Năm 2009, khu vực có sản
lượng lớn nhất và đạt năng suất lớn nhất là miền Đông Nam Bộ (khoảng 23,5
tấn/ha), kế đến là vùng ven biển miền Trung và cao nguyên (khoảng 16-16,5
tấn/ha). Năng suất trung bình cả nước cũng tăng từ 15,35 tấn/ha năm 2005 lên
16,9 tấn/ha năm 2008, cao hơn năng suất trung bình của thế giới (12,2 tấn/ha)
nhưng vẫn thấp so với Ấn Độ (31,4 tấn/ha) và Thái Lan (21,1 tấn/ha). [54;56]
Bảng 1.1. Sản lượng tinh bột sắn các địa phương ở Việt Nam năm 2010 [30;36]
TT Địa phương
Số
nhà
máy
Sản lượng
(tấn/ngày)
TT Địa phương
Số
nhà
máy
Sản lượng
(tấn/ngày)
1 Yên Bái 3 350 13 Bình Định 2 310
2 Thái Nguyên 1 80 14 Phú Yên 2 210
3 Hoà Bình 1 100 15 Kon Tum 3 330
4 Ninh Bình 1 90 16 Đắk Lắk 6 570
5 Thanh Hoá 1 80 17 Đắk Nông 2 150
6 Nghệ An 3 160 18 Gia Lai 2 200
7 Hà Tĩnh 1 80 19 Ninh Thuận 1 80
8 Quảng Bình 2 120 20 Bình Thuận 3 850
sở đều sử dụng thiết bị chế tạo trong nước nhưng có khả năng tạo ra sản phẩm
có chất lượng không thua kém các cơ sở nhập thiết bị của nước ngoài.
Qui mô lớn: Nhóm này gồm các doanh nghiệp có công suất trên 50 tấn
tinh bột sản phẩm/ ngày. Số cơ sở chế biến sắn quy mô lớn chiếm khoảng
10% tổng số các cơ sở chế biến cả nước với công nghệ, thiết bị nhập từ Châu
Âu, Trung Quốc, Thái Lan. Đó là công nghệ tiên tiến hơn, có hiệu suất thu
8
hồi sản phẩm cao hơn, đạt chất lượng sản phẩm cao hơn, và sử dụng ít nước
hơn so với công nghệ trong nước. Tới nay cả nước đó có trờn 60 nhà máy chế
biến tinh bột sắn cả nước ở qui mô lớn, công suất 50 - 200 tấn tinh bột sắn/
ngày và trên 4.000 cơ sở chế biến thủ công. Hiện tại, tổng công suất của các
nhà máy chế biến sắn qui mô công nghiệp đã và đang xây dựng có khả năng
chế biến được 40% sản lượng sắn cả nước.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, khoảng 40 - 45% sản lượng sắn dành
cho chế biến quy mô lớn, hay còn gọi là quy mô công nghiệp, 40 - 45% sản
lượng sắn dành cho chế biến tinh bột ở qui mô nhỏ và vừa, dùng để sản xuất các
sản phẩm sắn khô, chế biến thức ăn chăn nuôi và 10 - 15% dùng cho ăn tươi và
các nhu cầu khác.
Qui trình sản xuất tinh bột sắn ở Việt Nam gồm 3 loại hình công nghệ
chính. Đối với qui mô công nghiệp chủ yếu sử dụng công nghệ, thiết bị của
Trung Quốc và Thái Lan vì có giá thành và qui trình vận hành phù hợp với
điều kiện Việt Nam. Các nhà máy phân bố rải rác ở vùng núi Tây Bắc, Bắc
Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tõy Nguyên. Qui mô làng nghề tập trung chủ
yếu ở một số tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long
với công nghệ và thiết bị nhỏ lẻ, không đồng bộ.
+ Chế biến tinh bột sắn theo phương pháp thủ công: Củ sắn mua về
được rửa bằng tay và gọt vỏ bằng dao rồi nạo thủ công trên một bàn
nạo/mài trên tấm thiếc hoặc sắt mềm có đục lỗ tạo gờ sắc một bên. Bột sau
khi mài được đưa vào một tấm vải lọc buộc bốn góc và rửa bằng vòi nước.
Xơ sau khi rửa được vắt khô. Sữa bột thu được chứa trong xụ/thựng chứa
2.1. Nguồn phát sinh và tải lượng
Chất thải rắn từ quá trình sản xuất tinh bột sắn phát sinh chủ yếu từ công
đoạn rửa củ, bóc vỏ và tỏch bó gồm các loại sau [19,46,55].
Làm sạch và
tách vỏ
Băm và mài củ
Tẩy màu và ly
tâm tách bã
S, năng
lượng và
nước
Thu hồi tinh bột
khô
Nước, năng
lượng
- Vỏ, đất cát
- Nước thải
- Đầu củ
- Xơ sắn
- Nước thải
- Bã thải sau
CBTBS*
Nước thải
Nước, năng
lượng
Củ sắn tươi
Thu hồi tinh bột
tinh
Đóng gói và
hoàn thiện
thải 0,05T
(5%)
Tinh bột ẩm 73-80%
0,5T (50%)
12
-Lượng chất thải rắn phát sinh khoảng: 0,45x28.000 tấn/ngày=12.600
tấn/ngày.
-Mỗi năm các nhà máy sản xuất từ 5-6 thỏng/năm (150-180 ngày/năm):
Lượng chất thải rắn phát sinh hàng năm khoảng 1,89-2,27 triệu tấn.
2.2. Đặc trưng chất thải rắn
Bã thải từ công đoạn tỏch bó là nguồn chất thải rắn gây ô nhiễm chính trong
sản xuất tinh bột sắn. Đặc biệt, bã xơ có hàm lượng nước rất cao lên tới 88,9-
90%, hàm lượng tinh bột và chất khô thấp nên gây khó khăn cho việc bảo quản
và làm giảm hiệu quả tái sử dụng bã, mặt khác bó cũn chứa chất hữu cơ dễ
phân huỷ gây mùi khó chịu. Nếu không xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động. [19,9]
Bảng 2.2. Thành phần của bã sắn tươi [19]
TT Thành phần Đơn vị Bã sẵn
1 pH 6,67
2 Nước % 88,9
3 Tinh bột % 6,2
4 Nts % 0,013
5 Pts % 0,026
Chất thải rắn từ quá trình sản xuất tinh bột sắn gồm vỏ củ, cát, sạn, bó…Đối
với các cơ sở sản xuất ở làng nghề, việc xử lý bã thải gặp rất nhiều khó khăn.
Mặc dù đó có biện pháp tích cực trong giải quyết vấn đề chất thải rắn song do
sản xuất nhỏ, cùng với ý thức người dân chưa cao dẫn đến ô nhiễm môi trường
do bã thải là đáng kể. Bã thải chất đống trên đường đi, thậm chí nhiều khi còn
được xả thẳng cùng với nước thải. Nếu không được thu gom và xử lý kịp thời,
nhất là vào mùa hè khi nhiệt độ cao, các chất hữu cơ trong bã thải bị phân huỷ
được thiết kế khu chôn lấp riêng trong khuôn viên nhà máy. Bã sắn từ công đoạn
trích ly chiết suất của hầu hết các nhà máy đều ký hợp đồng bán cho các cơ sở
sản xuất thức ăn gia súc [9,50].
14
3.1. Biện pháp sấy khô bã sắn
Cho tới nay, trên thế giới và trong nước chưa có tài liệu nào nói về công
nghệ xử lý chất thải từ quá trình chế biến sắn để có thể áp dụng trực tiếp giải
quyết ô nhiễm tại các làng nghề ở Việt Nam. Ở Thái Lan, nơi có sản lượng sắn
được chế biến nhiều nhất thế giới cũng chỉ bó hẹp trong việc sử dụng bã sắn ở
dạng phơi khô làm thức ăn gia súc.
Hiện nay, đa phần các cơ sở sản xuất đều đem bã sắn đi sấy khô. Tuy nhiên
việc sấy rất tốn kém do bã không được vắt đến độ ẩm phù hợp. Một số cơ sở chế
biến nhỏ vắt bã sơ bộ rồi phơi 5 – 7 ngày nắng vào mùa khô, hoặc 10 - 15 ngày
vào mùa mưa để bỏn bó khụ cho cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi. Đối với các hộ
sản xuất nhỏ thì có thể sử dụng cách làm thủ công này còn đối với các doanh
nghiệp có quy mô sản xuất lớn thì phương pháp này không mấy hiệu quả, do đó
để tăng hiệu quả của biện pháp này các nhà khoa học đã nghiên cứu ra máy máy
vắt bã sắn VBS-3 và hệ thống sấy tĩnh SHG-4 [52].
Lựa chọn nguyên lý, thiết kế, chế tạo máy vắt bã sắn.
Phân tích thành phần của bã sắn và nguyên lý làm việc của một số máy vắt,
đã tiến hành thử nghiệm vắt bã sắn trên một số thiết bị như: máy ly tâm, máy ép
trục vớt có lưới lọc, máy ép trục cán, máy ép dạng piston-xilanh lọc, dàn thúi
nghiệm vắt ép băng tải lọc. Kết quả cho thấy hầu hết các máy ly tâm và ép đều
không có hiệu quả với bã sắn. Với dàn thí nghiệm ép băng tải lọc, bã được ép
thành giải băng liên tục, độ ẩm sau vắt hầu như không phụ thuộc vào độ ẩm ban
đầu và đạt 57 2% đảm bảo yêu cầu cho phơi sấy tiếp theo nên nguyên lý ép
băng tải lọc được chọn để thiết kế máy vắt bã sắn.
Máy vắt bã sắn VBS-3 được thiết kế có năng suất 3 tấn/giờ, đường kính
cũng như chiều dài tang trống ép bọc cao su là 500 mm, công suất lắp đặt 1,1
kW.
+ Ưu điểm: Có thể xử lý được một lượng lớn bã thải tinh bột sắn, dễ vận
hành.
+ Nhược điểm: Phương pháp này có nhược điểm là tiêu tốn năng lượng
trong quá trình vận hành, tốn kinh phí cho thiết kế và vận hành. Muốn sử dụng
vào mục đích khác thì phải xử lý tiếp.
3.2. Biện pháp sinh học
Công nghệ sinh học hiện nay được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc
sống, và đem lại hiệu quả cao. Biện pháp sinh học được xem là thân thiện với
môi trường, và giải quyết được triệt để vấn đề chất thải rắn của hoạt động sản
xuất tinh bột sắn.
Trên thực tế thì tại các hộ sản xuất quy mô nhỏ thì chất thải rắn chủ yếu
vẫn thải bỏ trực tiếp ra môi trường, một phần thì được chôn lấp, tuy nhiên
phương pháp này cần một diện tích đất bỏ trống, hơn nữa phương pháp này
khụng tỏi sử dụng được các chất thải rắn.[52]
Hiện nay cũng có rất nhiều các biện pháp sinh học được áp dụng trong xử
lý chất thải rắn tinh bột sắn. Nguyễn Hữu Văn và cộng sự đã nghiên cứu thành
công quá trình ủ chua bã sắn với các chất phụ gia khác nhau để làm thức ăn cho
động vật nhai lại. Các phụ gia đựợc sử dụng là: cám gạo 3% + muối ăn 0.5%
(tính theo khối lượng tươi) (BSC); rỉ mật 3% + muối ăn 0,5% (BSMa); và muối
ăn 0.5% (BSMu). Bã sắn được trộn đều theo các công thức và ủ yếm khí trong
15 túi riêng biệt cho mỗi công thức. Mẫu thức ăn ở 3 túi ny lon trong mỗi công
thức ủ được lấy ngẫu nhiên ở các thời điểm 0, 7, 14, 21 và 42 ngày sau khi ủ để
phân tích thành phần hóa học. Giá trị pH và hàm lượng HCN ở các công thức
giảm nhanh chóng sau khi ủ. Giá trị pH thấp dưới 3,8 sau 21 ngày ủ và hàm
lượng HCN sau 14 và 21 ngày ủ lần lượt giảm xuống dưới mức 100 và 80 mg/kg
DM [24].
17
Tại Thái Lan người ta tận dụng bã sắn để sản xuất Axit xitric: Tại Thái Lan
chỉ có 3 nhà máy sản xuất axit xitric. Một nhà máy sử dụng bã sắn nghiền sắn
lấy từ các nhà máy tinh bột làm nguyên liệu thô (khoảng 5-6 tấn/ngày) nhờ khả
pháp xử lý bã thải sắn như: Oboh (2006) đã nghiên cứu làm giàu chất dinh
dưỡng vỏ sắn bằng cách sử dụng một hỗn hợp củaSaccharomyces
18
cerevisaevàLactobacillus spp. Quá trình lên men không chỉ làm giảm độc tính,
mà enzyme còn chuyển hóa xelluloza chuyển đổi thành dạng chất dễ tiêu hóa
hơn để sử dụng làm thức ăn chăn nuôi lợn, cá [34].
Chất thải rắn của hoạt động chế biến tinh bột sắn có chứa một hàm lượng
cyanua, đây là một chất độc hại cho con người, hiện nay đó có một số cơ sở lựa
chọn biện pháp ủ chất thải rắn để làm phân comspot, với phương pháp này sẽ
làm giảm được mức độ độc tố của cyanide và từ đó giảm độ pH và tạo ra axit
lactic. Phương pháp này được cho là một phương pháp hiệu quả trong xử lý chất
thải rắn dựa trên hoạt động của các vi sinh vật để chuyển hóa các chất trong phế
thải thành những chất không độc, đồng thời bổ xung các chế phẩm để tăng khả
năng phân giải các chất và bổ xung thờm cỏc nguyên tố cho phù hợp để làm
phân bón [34].
Ngũai ra hiện nay biện pháp lờn men vỏ sắn để giảm lượng độc tố và
chuyển hoá các hợp chất ligno-cellulaza kháng enzym sang dạng vật chất dễ tiêu
hoá hơn cũng đang được áp dụng [34].
Nhìn chung các phương pháp sinh học trên được thực hiện dựa trên cơ chế
hoạt động phân giải tinh bột, xenluloza, lân photphat… của một số chủng vi sinh
vật, từ đó chuyển hóa các chất ở dạng độc hại và khó tiêu về dạng những chất
khụng gõy độc hại và dễ tiêu để phục vụ cho việc sản xuất thức ăn chăn nuôi
hoặc làm phân bón vi sinh.
+ Ưu điểm: Hiệu quả cao, rẻ tiền, dễ thực hiện, thân thiện với môi trường.
+ Hạn chế: chưa có nhiều nghiên cứu sản xuất chế phẩm sử dụng bã sắn
làm phân bón hữu cơ sinh học.
4. Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật phân giải xenlulo, tinh bột trong xử lý
phế phụ phẩm nông nghiệp, phế phụ phẩm chế biến thực phẩm
Theo tác giả Võ Văn Phước Quệ và Cao Ngọc Điệp đã phân lập và nhận
19
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm trở lại đây, trong đó ứng
dụng các chế phẩm vi sinh vật trong xử lý rác thải và phế thải nông nghiệp, công
nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam đã được nghiên cứu và triển khai áp dụng
tương đối rộng rãi. Nhiều đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà
(KHCN.07.17, KHCN.02.04, KC.08.07, KC.04.06) đã được nghiên cứu và ứng
dụng thành công trong xử lý phế thải hữu cơ, phế thải nhà máy chế biến mía
đường, phế thải sinh hoạt, phế thải chế biến dứa [12,13]. Tuy nhiên các đề tài
trên vẫn chưa nghiên cứu xử lý phế thải CBTBS làm phân bón hữu cơ sinh học.
Năm 2001, Trung tâm Công nghệ Môi trường (Đại học Bách Khoa Hà
Nội) đã phát triển được giải pháp xử lý ô nhiễm cho các cơ sở chế biến sắn quy
mô 1 tấn nguyên liệu/ngày; Tuy nhiên, mô hình này không mở rộng áp dụng cho
các cơ sở sản xuất công suất lớn được. Bên cạnh đú, trờn thị trường hiện nay
đang xuất hiện một vài chế phẩm vi sinh vật sử dụng trong xử lý phế thải hữu cơ
nói chung, tuy nhiên ở Việt Nam chưa có một chế phẩm cụ thể hay công trình
nghiên cứu trực tiếp nào về xử lý phế thải nhà máy chế biến tinh bột sắn đủ năng
lực giải quyết bài toán thực tiễn được công bố chính thức [24].
Trong khuôn khổ của đề tài độc lập cấp Nhà nước giai đoạn 1998 – 2000
về “ Nghiên cứu thử nghiệm và tiếp thu công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM)
trong nông nghiệp và vệ sinh môi trường” do ĐH Nông nghiệp 1 Hà Nội chủ trì,
các cán bộ khoa học của 12 đơn vị thực hiện và phối hợp đã xác định hỗn hợp
các vi sinh vật hữu hiệu có tác dụng tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm
không khí của các bãi rác, rác thải sinh hoạt và ô nhiễm nước do các chất thải
hữu cơ gây nên [14].
21