Chuyển giá tại các tập đoàn kinh tế nước ngoài tại Việt Nam - Pdf 23

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các
chủ thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ
thể riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết. Với môi
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, câu hỏi làm sao để lợi ích tổng thể đạt tối ưu luôn
được đặt ra với các chủ thể kinh doanh. Chuyển giá được xem là một lời giải cho bài toán
lợi ích mà ở đó nhà đầu tư không cần thêm vốn hay mở rộng sản xuất. Đơn giản vì phương
cách này giúp họ giảm tổng nghĩa vụ thuế. Từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng.
Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ để bán
cho các khách hàng độc lập mà còn được chuyển giao cho các công ty con hoặc các công
ty liên doanh mà doanh nghiệp có một phần sở hữu, gọi là SP chuyển giao nội bộ. Việc
định giá những SP này được gọi là định giá chuyển giao nội bộ (Transfer Prices). Về lý
thuyết, việc định giá chuyển giao nội bộ quốc tế cũng giống như việc định giá chuyển giao
nội bộ trong nước. Tuy nhiên, kỹ thuật định giá chuyển giao quốc tế phức tạp hơn nhiều so
với trong nước do quá trình ra quyết định chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố quan trọng và
khó xác định.
Tuy nhiên vấn đề chuyển giá ở Việt Nam còn hết sức mới mẻ. Trong xu thế mở
rộng cửa chào đón các tập đoàn kinh tế quốc tế, phát huy nội lực với các tổng công ty và
các công ty liên kết thì chuyển giá sẽ là công cụ dễ được các chủ thể kinh doanh sử dụng
nhằm thay đổi những nghĩa vụ thuế phải thực hiện với nhà nước. Sự mới mẻ và chứa đựng
những hấp dẫn về lợi ích kinh tế của chuyển giá là điều được các nhà quản lý lưu tâm,
được các chủ thể kinh doanh, người hoạch định chiến lược tài chính của doanh nghiệp lên
chương trình hành động cho mình.
2
PHẦN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
I. Chuyển giá và các vấn đề về chuyển giá tại các tập đoàn kinh tế nước
ngoài tại Việt Nam :
1. Lý thuyết về chuyển giá :
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ
và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo

không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
- Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên
kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ
thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều
tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về
chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế
- xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định
ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn
có thể xảy ra.
Hành vi chuyển giá được thể hiện thông qua các chủ thể kinh doanh thực hiện bằng
cách thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết nhằm tối
thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của các đối tác liên kết. Các đối tác liên kết ở đây có thể là:
Các công ty thành viên trong một công ty đa quốc gia; Các công ty hoặc đơn vị thành viên
trong một tổng công ty, công ty; Các công ty độc lập mà chủ sở hữu của chúng có mối
quan hệ đặc biệt, thường là mối quan hệ thân nhân.
2. Cơ sở và động cơ chính của hành vi chuyển giá :
Cơ sở cho việc chuyển giá xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các
chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch kinh tế. Do vậy, họ hoàn
toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. Quyền này được
pháp luật về kinh doanh của mọi quốc gia thừa nhận, nó chỉ bị hạn chế bởi các quy định
4
pháp luật có liên quan, chẳng hạn như pháp luật về cạnh tranh, về thương mại hoặc chính
bởi những điều luật về định giá chuyển giao.
Động cơ chính của hành vi chuyển giá là lợi nhuận của hoạt động kinh doanh. Xét
trên phương diện tổng thể, việc xác định giá giao dịch giữa các thành viên của các bên liên
kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ.
Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều
tiết thấp hơn và ngược lại. Chẳng hạn như, công ty B và C đều là công ty con của tập đoàn
A. Công ty B áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25%. Công ty C kinh
doanh ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn nên được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập

hiệu vi phạm của DN FDI cũng được thực hiện ngày càng nhiều hơn trong thời gian gần
đây. Số lượng các cuộc thanh tra và phát hiện vi phạm qua thanh tra cũng tăng thêm. Tuy
nhiên, việc này mới chỉ dừng lại ở một số tỉnh, thành phố lớn có vốn FDI nhiều như
TP.HCM, Đồng Nai, Lâm Đồng… chưa thực hiện ở các địa phương khác.
1. Một số những hình thức chuyển giá tại Việt Nam như :
1.1. Tăng chi phí quảng cáo và marketing :
Lấy đơn cử như một công ty A theo báo cáo tài chính năm 2009 của công ty này cho
thấy doanh thu từ hàng hóa dịch vụ hơn 1.752 tỷ đồng, trong đó chi phí sản xuất kinh
doanh 1.562 tỷ đồng, lợi nhuận đạt được là 190 tỷ kết quả lãi. Tuy nhiên, phần doanh thu
được giảm trừ cho hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, chiết khấu cho đại lý, nhà phân
phối... là 171,3 tỷ đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí khác dẫn đến lợi nhuận thuần “âm”
72 tỉ đồng, lỗ lũy kế của DN này còn hơn 33,6 tỷ đồng.
Theo đó doanh nghiệp này đã lợi dụng chính sách ưu đãi của VN cho giảm trừ
phần chi phí cho hoạt động quảng cáo, khuyến mãi nên đã tìm mọi cách kê khai cả phần
chi phí làm thương hiệu của tập đoàn mẹ. Trong đó có cả chi phí quảng cáo lẽ ra công ty
mẹ phải chịu nhưng họ đã biến hóa cho công ty ở VN gánh bớt.
1.2. Giá bán thấp hơn so với chi phí
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status