Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh viêm phổi trên đàn bò sữa tại xã vĩnh thịnh, huyện vĩnh tường, vĩnh phúc và biện pháp điều trị - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

TRẦN ðỨC TOẢN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM BỆNH LÝ BỆNH VIÊM
PHỔI TRÊN ðÀN BÒ SỮA TẠI Xà VĨNH THỊNH, HUYỆN
VĨNH TƯỜNG, VĨNH PHÚC VÀ BIỆN PHÁP ðIỀU TRỊ
Chuyên ngành : Thú y
Mã ngành : 60.64.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. CHU ðỨC THẮNG

HÀ NỘI – 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i

LỜI CAM ðOAN


tới gia ñình, người thân, bạn bè ñã ñộng viên, giúp ñỡ tôi cả về vật chất lẫn
tinh thần trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Hà nội, tháng 01 năm 2014

Tác giả luận văn Trần ðức Toản

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iii

MỤC LỤC Lời cam ñoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục ảnh vii

Danh mục ảnh vii

MỞ ðẦU 1


2.1 ðối tượng nghiên cứu 26Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv

2.2 ðịa ñiểm nghiên cứu 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.3.1 Theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò sữa bị viêm phổi. 26

2.3.2 Theo dõi sự biến ñổi của một số chỉ tiêu sinh lý máu ở bò sữa
viêm phổi bằng máy huyết học 18 thông số (Hema Screm18) 27

2.3.3 Theo dõi sự biến ñổi một số chỉ tiêu sinh hóa máu ở bò sữa bị
viêm phổi. 27

3.3.4 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 28

2.3.5 ðiều trị thử nghiệm 29

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 30

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Các biểu hiện lầm sàng ở bò sữa mắc viêm phổi. 31

3.2 Thân nhiệt, tần số tim ñập và tần số hô hấp ở bò sữa viêm phổi 33


v

3.4.2 Hoạt ñộ của men sGOT và sGPT trong huyết thanh bò sữa bị
viêm phổi. 48
3.4.3 Protein tổng số và tiểu phần Protein 49

3.4.4 Hàm lượng ñường huyết và phản ứng Gross 52

3.4.5 Hàm lượng Canxi, Natri, Kali trong huyết thanh 55

3.4.6 Một số chỉ tiêu sắc tố mật 56

3.5 Thử nghiệm các phác ñồ ñiều trị bệnh viêm phổi bò sữa 58

KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 60

1 Kết luận. 60

2 ðề nghị. 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Tên ảnh Trang



2.2 Ảnh minh họa lấy mẫu máu bò sữa 29

3.1 Bò sữa khó thở chảy nước múi ñặc 32Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
1

MỞ ðẦU

1. ðẶT VẤN ðỀ
Ngành chăn nuôi bò ñặc biệt là bò sữa ñang ñược quan tâm và ñầu tư
ñúng ñắn ñang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng cũng như chất lượng, các
trang trại cũng như các nông hộ chăn nuôi bò tập trung nhiều ở vùng phụ cận các
thành phố lớn và một số nông trường chăn nuôi tập trung.
ðể phát triển số lượng ñàn bò, ngoài ra các yếu tố chọn giống, thức ăn
thì các biện pháp thú y nhằm bảo vệ sức khỏe, phòng chống bệnh tật là rất
quan trọng.
Cùng với việc tăng nhanh về số lượng ñàn bò là dịch bệnh cũng xảy ra
nhiều và gây thiệt hại ñáng kể cho ngành chăn nuôi bò. Một trong những bệnh
thường gặp và gây ra những thiệt hại ñáng kể phải kể ñến bệnh viêm phổi.
Bệnh xảy ra nhiều vào thời kì giá rét và ñặc biệt là ñối với bò sữa sữa. Bò sữa
sữa mắc bệnh thường ở giai ñoạn từ 1 ñến 4 tháng tuổi. Khi bò sữa bị bệnh có
tỷ lệ chết cao. Do vậy, ảnh hưởng không nhỏ ñến sự phát triển ngành chăn
nuôi bò sữa.
Trong những năm gần ñây, việc nghiên cứu các biện pháp phòng
chống dịch bệnh trên ñàn bò sữa ñược nhiều nhà khoa học thú y trong và
ngoài nước tiến hành. Như Nguyễn Thị ðào Nguyên (1993) nghiên cứu về
một số chỉ tiêu sinh lí huyết học lâm sàng của trâu khoẻ và trong một số bệnh


Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
3

Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát chức năng hô hấp
Hô hấp là quá trình trao ñổi khí của sinh vật với môi trường bò sữa ngoài
nhằm cung cấp ôxy cho cơ thể và ñào thải dioxyde cacbon khỏi cơ thể.
ðể ñảm nhận chức năng hô hấp của gia súc, bộ máy hô hấp của gia súc
bao gồm ñường dẫn khí và phổi. Trong niêm mạc ñường ống dẫn khí, nhất là
ở niêm mạc mũi, xoang mũi có hệ thống mạch quản phân bố dày ñặc có tác
dụng sưởi ấm không khí trước khi ñưa vào các phế nang.
Một trong những ñặc ñiểm cấu tạo quan trọng của ñường hô hấp ñó là hệ
thống lông rung, các tuyến nhờn tiết chất nhầy và hệ thống lâm ba nằm dọc theo
ñường hô hấp giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ñường hô hấp trước các yếu
tố gây hại như vi sinh vật, bụi. Sự kết hợp nhu ñộng của lông rung cùng với niêm
dịch ñường hô hấp tạo ra một làn sóng cuộn các chất bẩn lên họng, khi ñưa lên cổ
thường có phản xạ khạc nhổ tống ra ngoài. Những lông rung của ống khí quản
trên có thể bị vi rút cúm làm giảm mất tính nhu ñộng và do ñó tạo ñiều kiện thuận
lợi cho sự bội nhiễm với những vi khuẩn khác như phế cầu khuẩn hay hemophilus
influenza (Vũ Triệu An và CS, 2001; Blowey R. W., 1999).
Niêm mạc phổi chỉ có một lớp tế bào nhưng có tác dụng cản trở tốt hơn
da do chúng có tính ñàn hồi cao hơn và ñược bao phủ một lớp chất nhầy. Chất
nhầy này do những tuyến ở dưới niêm mạc tiết ra, có tác dụng làm ẩm không
khí và tạo nên một lớp màng bảo vệ làm cho vi khuẩn, các vật lạ không bám
thẳng ñược vào tế bào và xâm nhập vào sâu hơn. Chất nhầy che trở bề mặt tế
bào khỏi bị enzym neuraminidase của vi rút tác ñộng.
Ngoài tác dụng cơ giới của chất nhầy, sự rung ñộng của lông rung và

nang, nhiều phế nang tạo thành lá phổi. Xung quanh phế nang có mao mạch bao
phủ dày ñặc. Số lượng phế nang rất lớn do ñó bề mặt trao ñổi khí rộng tạo ñiều

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
5

kiện cho sự trạo ñổi khí giữa máu và không khí ñược thuận lợi. Phổi là một tổ
chức bao gồm nhiều sợi ñàn hồi, do ñó nó có tính ñàn hồi, co dãn.
Mặt khác sức co ñàn hồi của phổi là nguyên nhân trực tiếp gây ra áp
lực âm xoang màng ngực. Nếu phổi không ñàn hồi thi áp lực không khí qua
vách phổi tác dụng lên xoang màng ngực bằng áp lực không khí = 760
mmHg. Nhưng phổi có tính ñàn hồi khi bị kéo căng thì sinh ra lực phản lực
ngược chiều cho nên áp lực phổi tác dụng lên xoang màng ngực bị tiêu hao
một phần do phản lực ñó.
Phổi không có cấu tạo cơ nên nó không thể tự co dãn, mà phổi co dãn
một cách thụ ñộng nhờ các cơ hô hấp gồm cơ hoành và cơ gian sườn. Các cơ
này ñóng vai trò ñộng lực chính cho ñộng tác hô hấp, làm cho lồng ngực mở
rộng hay thu hẹp dẫn ñến làm biến ñổi áp lực âm xoang màng ngực, kéo theo
vận ñộng của phổi. Khi lồng ngực mở rộng phổi nở ra theo, áp lực trong phổi
giảm do ñó không khí ñi vào phổi gây ñộng tác hít vào, khi lồng ngực thu hẹp
phổi xẹp xuống ñẩy không khí thoát ra ngoài, gây ñộng tác thở ra.
Hít vào là kết quả mở rộng dung tích của xoang màng ngực theo chiều dài
và chiều ngang, do tác ñộng của cơ hoành và cơ gian sườn ngoài.
Bình thường cơ hoành tạo thành một góc lồi ñỉnh hướng về phía trước.
lúc cơ hoành co (hít vào) thì ñỉnh trung tâm của nó không ñổi, nhưng phần cơ
xung quanh co lại, cơ hoành từ góc lồi trở thành góc nhọn nên lồng ngực
ñược mở rộng từ trước ra sau và ép vào các cơ quan nội tạng trong bụng. Vậy
tác dụng của cơ hoành làm lồng ngực mở rộng theo hướng trước sau.
Cơ gian sườn ngoài một ñầu bám vào cạnh sau của xương sườn trước,
một ñầu bám vào cạnh trước của xương sườn sau. Khi cơ gian sườn ngoài co sẽ

2
từ máu có phân áp cao sẽ khuyếch tán vào tổ chức nơi có phân áp
O
2
thấp, ngược lại CO
2

từ tổ chức có phân áp cao sẽ khuyếch tán sang máu.
Do chênh lệch phân áp, O
2
từ phổi khuyếch tán vào máu và ñược vận
chuyển ñến các mô bào tổ chức dưới 2 dạng:
Dạng hòa tan trong huyết tương chỉ chiếm 0,3%
Dạng kết hợp với Hemoglobin chiếm 99,7%
O
2
từ huyết tương khuyếch tán vào hồng cầu, kết hợp với Hemoglobin
tạo thành Oxyhemoglobin: Hb + O
2
→ HbO
2

Tỉ lệ HbO
2
trong máu phụ thuộc vào phân áp của O
2
ở phổi phân áp O
2

cao thì Hemoglobin nhanh chóng kết hợp với O

Trung khu hô hấp nằm ở hành tủy, trong cấu trúc lưới của hành tủy.
Trung khu này gồm 2 phần ñối xứng nhau qua trục trung tâm não tủy. Trung
khu hít vào nằm ở cạnh mặt bụng của cấu trúc lưới, còn trung tâm khu thở ra
nằm ở cạnh lưng của cấu trúc lưới hành tủy. Từ ñó có dây thần kinh truyền
xuống liên hệ với tủy sống ñể ñiều hòa cơ hoành và cơ gian sườn. Mặt khác,
xung ñộng từ khu hô hấp còn theo dây thần kinh X (dây phế vị) thần kinh mặt
truyền ñến các cơ họng mũi, tham gia vào quá trình hô hấp.
Nhân tố thể dịch ảnh hưởng ñến hô hấp chủ yếu là nồng ñộ CO
2
trong
máu. nếu CO
2
tăng, O
2
giảm sẽ gây hưng phấn trung khu hô hấp và ngược lại
nếu CO
2
giảm, O
2
tăng sẽ làm giảm hô hấp, nhưng tác dụng của CO
2
mẫn cảm
hơn O
2
rất nhiều. Ngoài ra, ion H
+
trong máu tăng cũng kích thích trung khu
hô hấp hưng phấn và ngược lại. Các nhân tố thể dịch khác như các chất khí,
chất ñộc, chứa trong máu trực tiếp kích thích vào các tế bào thần kinh của
trung khu hô hấp hoặc kích thích vào thụ quan hóa học ở cung ñộng mạch

tim, các mạch máu lớn và thực quản.
Phổi chứa không khí, lượng không khí này gồm có:
- Không khí lưu thông là lượng không khí vào phổi.
- Không khí dự trữ là lượng không khí bị tống thêm ra sau khi ñã thở ra
ngoài bình thường còn thở ra hết sức nữa.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9

- không khí phụ thêm là lượng không khí vào phổi sau khi phổi ñã hít
vào bình thường còn hít vào hết sức nữa.
- không khí cặn là lượng không khí còn lại trong phổi sau khi ñã thở ra
hết sức lượng không khí lưu thông, lượng không khí dự trữ và lượng không
khí phụ thêm cộng lại gọi là hoạt lượng phổi.
Hoạt lượng phổi cộng với lượng không khí cặn gọi là dung tích của
phổi.
Phổi nhẵn, bóng vì có màng phổi (pleura) bọc. Màu sắc thay ñổi tùy
theo tuổi, phổi bào thai màu ñỏ nâu, phổi súc vật non màu hồng, phổi súc
vật già màu hơi xanh và trên mặt phổi có nhiều chấm ñen do sắc tố ñọng
lại làm cho phổi xạm lại, ranh giới cảu các tiểu thủy phổi hình ña giác
hiện lên rõ rệt hơn.
Mỗi lá phổi có ba mặt (mặt ngoài, mặt trong và mặt sau hay ñáy) và
ñỉnh ở trên:
- Mặt ngoài hay mặt sườn (facies costalis): mặt ngoài của phổi lồi áp sát
vào thành trong của lồng ngực. Giữa lớp xương cơ của lồng ngực và mặt ngoài
của phổi chỉ có màng phổi, mặt ngoài có các vết ấn lõm của các xương sườn.
- Mặt ñáy hay mặt trung thất (facies mediastinalis) có rốn phổi nằm gần
phía trên hơn phía dưới, có các thành phần của phế quản gốc chui vào phổi.
Trong rốn phổi có phế quản gốc, ñộng mạch phổi và tĩnh mạch phổi.
- Mặt sau hay mặt ñáy phổi (mặt hoàng – facies diaphragmatica): lõm

nhiều nhánh gọi là tiểu phế quản. Các nhánh tiểu phế quản lại tiếp tục chia
thành tiểu phế quản tận. Mỗi tiểu phế quản tận phình ra thành một ống phế
nang, ống phế nang lại chia thành một chùm phế nang. Thành phế nang chỉ là
một lớp nội mạc giáp ngay với lớp nội mạc giáp của mao mạch. Do ñó chính
ở nội mạc xảy ra sự trao ñổi giữa CO
2
của máu và O
2
của không khí.
ðầu khí quản ñến các phế quản tận có lớp tế bào phủ ngoài (tế bào liên
hợp) hình trụ cao, ñầu có các lông rung. Một tế bào có 250 ñến 300 lông rung,
1cm
2
có 2 tỷ lông rung, lông rung có chức năng luôn luôn vận ñộng, vận ñộng

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11

theo kiểu thẳng góc, vuông góc với tốc ñộ 20 ñến 24 lần trong 1 giây tạo
thành sóng rung ñộng ñể tất cả bụi bẩn trên bề mặt ñường hô hấp từ dưới lên
ñến cuống họng. Cùng hoạt ñộng với lông rung còn có niêm dịch (chất nhầy)
có chiều dòng tương ñương với lông rung ñể bảo vệ niêm mạc. Do vậy các
bụi lớn không làm tổn thương cơ học ñược và có tác dụng bảo vệ chống lại
các chất ñộc… sự kết hợp lông rung cộng với niêm dịch tạo ra một làn sóng
cuộn các chất bẩn lên họng tống ra ngoài, khi ñưa lên cổ thường có phản xạ
khạc nhổ.
Tế bào biểu mô của phế quản tận không có lông rung nữa, ở ñây
chủ yếu có tế bào Clara: Chứa nhiều ezin, khử các chất ñộc, có nhiều
Globulin miễn dịch IgA, IgD, IgG do tế bào tương bào vách phế quản tiết
ra; các phế quản tận và phế quản nang có tác Mastocyte (dưỡng bào) có

Theo tư liệu của WalterJ.Gibbous.et.al.1971, (Russell A
Runnell.et,al,1991), trong ñường hô hấp của bò khỏe những vi khuẩn thường
gặp là: Pasteurella sp, Streptococcus.Sp, Staphylococcus. Sp, thỉnh thoảng có
Corynebacteium pyogenes, rất ít gặp Pseudomanas aeruginosa, E.coli,
Aspergillus fumigatus.
Theo Heddleston, K.L et.al,1962, những vi khuẩn thường gặp ở ñường
hô hấp của bò là: Pasteurella sp, Streptococcus.Sp, Staphylococcus. Sp,
Klebsiella pneumonia và Mycoplasma. Sp, còn vi khuẩn Salmonella,
Pseudomonas, Proteu Baucilus subtilis là những vi khuẩn vãng lai.
Theo Manninger, 1982, ở những bò khỏe người ta vẫn phân lập ñược vi
rus và vi khuẩn gây bệnh trong bộ máy hô hấp của bò như: Virus Adeno,
Mycoplasma; vi khuẩn: Pasteurella sp, Streptococcus, Staphylococcus.
Nhưng chúng chỉ gây bệnh cho con vật, nhất là bò sữa non khi thời tiết
chuyển lạnh, thiếu thức ăn và chăm sóc nuôi dưỡng kém, súc vật gầy còn
giảm sức ñề kháng (Phạm Sỹ Lăng, Phan ðịch Lân, 1997,
Blood,D.et.al,1985).

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13

1.3.1. Vi khuẩn Pasteurella
Vi khuẩn Pasteurella là vi khuẩn thường gặp và gây bệnh trên
ñường hô hấp ñộng vật. Pasteurella multocida là vi khuẩn thuộc vi sinh vật
yếm khí tùy tiện, có dạng cầu trực khuẩn, bắt màu gram âm, kích thước 0,25-
0,4×0,4-1.5µm. Vi khuẩn có vỏ giáp mô, không sinh nha bào và bắt màu lưỡng
cực. Vi khuẩn có thể ñứng riêng thành ñôi hay thành chuỗi. Kích thước và hình
thái vi khuẩn có sự thay ñổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn
phân lập từ lợn có dạng tròn hơn 0.8 - 1 µm. Tính ña dạng của vi khuẩn phụ
thuộc rất nhiều ñến ñiều kiện thiếu oxy; vi khuẩn thường ñồng nhất trong máu
ñộng vật, còn trong môi trường nhân tạo vi khuẩn nuôi cấy thường ña hình

Giống Streptococcus có dạng hình cầu, ñường kính có khi ñến 1 µm
ñược xếp thành chuỗi như chuỗi hạt có ñộ dài ngắn không ñều, có thể từ 3 vi
khuẩn tạo thành song cầu khuẩn cho ñến chuỗi 6 - 8 vi khuẩn. Trên môi
trường ñặc có chuỗi ngắn, bắt màu gram dương, không di ñộng, ña số không
có giáp mô (trừ một số chủng của Streptococus), vi khuẩn yếm khí hay hiếu
khí tùy tiện. Khả năng gây bệnh có thể là một mình hoặc kết hợp với các vi
khuẩn khác. Streptococus sinh ra ngoại ñộc tố và nội ñộc tố: các liên cầu gây
bệnh có khả năng làm tan máu, khả năng này có ñược là do vi khuẩn có loại
ñộc tố gọi là dung huyết tố (Streptolyzin).
Ngoài khả năng gây bệnh của liên cầu có vai trò của các emzim ngoại
bào. Các emzim này có khả năng làm tan tơ huyết nhờ men làm tan tơ huyết
(Stretokinaza) hay làm lớp mủ ñặc (Streptodornaza), hay thủy phân axit
hyalronic (mem Hyaluronidaza). Men thủy phân protein (Proteinaza) men làm
chết bạch cầu (diphotpho- pyridin- nucletidaza)
1.3.3. Staphylococcus
Staphylococcus là một loại cầu khuẩn hình chùm nho, có hình tròn
ñường kính 0,7- 1µm bắt màu gram dương, không di ñộng, không sinh nha
bào, là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí không bắt buộc, mọc trên tất cả các môi
trường. Khi nuôi cấy trên thạch máu, phần lớn Staphylococcus có ñộng lực

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15

cao gây dung huyết, có loại dung huyết hoàn toàn (∝) hoặc dung huyết không
hoàn toàn( β-hemolysis).
Tụ cầu khuẩn và các biến chủng của nó thường gặp trong thiên nhiên,
phần lớn trong ñất, cát, nước, không khí, trên da ñộng vật và trong thức ăn
thực vật. Da và niêm mạc là chỗ ở chủ yếu của các tụ cầu khuẩn. Ngoài ra còn
ở các tổ chức khác như lông, máu, tuyến mồ hôi, tuyến mỡ, lỗ lông chân, mắt,
mũi, họng, niêm mạc ñường tiêu hóa. Thực tế người ta có thể gọi tụ cầu

cỏ vào máu ñến phổi. Dưới tác dụng của các enzym oxydaza ở phổi chúng tạo
thành các chất ñộc trung gian và gây tổn thương rộng rãi trên ñường hô hấp.
Bò thường mắc viêm phổi khi ăn cỏ dự trữ có chứa nấm mốc
Mycopolyspora faeni, Candida glabrata, Aspergillus sp (Blood và CS, 1985;
Russell A. Runnells và CS, 1991).
Nhiều tác giả ñã cho rằng ở các lứa tuổi khác nhau gia súc cũng có
khả năng mắc bệnh viêm phổi khác nhau. Theo Niconxki V. V. (1986),
dịch viêm phổi mẫn cảm với lợn con, nhất là lợn con từ 3 - 4 ngày tuổi.
Theo Leroy G. Bicht (1988) bê non dưới 1 năm tuổi mắc bệnh với tỉ lệ
cao và nặng hơn bò trưởng thành (trích theo Phạm Sĩ Lăng và Phan ðịch
Lân, 2002). Theo kết quả nghiên cứu của ðỗ Văn ðược (2003) nghé, trâu
già rất dễ bị cảm lạnh và dẫn ñến viêm phổi. Huỳnh Văn Kháng (2006)
cho rằng bò sữa hay mắc bệnh viêm phổi nhất là với bò sữa cao sản sau
khi ñẻ 3 - 5 ngày và bê sơ sinh từ 1 - 3 tháng tuổi do sức ñề kháng giảm,
cơ thể bị nhiễm lạnh ñột ngột.
Cơ thể là một khối thống nhất, khi một cơ quan, bộ phận bị ảnh hưởng
sẽ kéo theo sự ảnh hưởng tới một số cơ quan bộ phận khác trong cơ thể. Theo
Hồ Văn Nam (1997), bệnh phế quản - phế viêm là do kế phát từ cúm, viêm
màng mũi thối loét, giun ñũa, bệnh tim, ứ huyết ở phổi gây ra.
Theo Jorgensen (1988), sự rối loạn tiêu hoá làm giảm khả năng chống
lại của cơ thể với bệnh phổi. Sự tổn thương phổi tìm thấy tại các lò mổ với sự

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
17

viêm nhiễm ruột trước ñó có sự tương quan giữa lợn cần chữa viêm phổi với
sự cần chữa viêm ruột (trích theo Phạm Ngọc Thạch, 2005).
Các yếu tố này có thể do xây dựng chuồng trại chưa phù hợp với ñặc
ñiểm sinh lí của gia súc, phân lô, chia ñàn chưa hợp lý, chăm sóc và nuôi
dưỡng không ñúng phương pháp, bệnh phát sinh do vận chuyển gia súc, vệ

0
C - 24
0
C, ñộ ẩm không khí chuồng nuôi khoảng 70% -
75% là thích hợp ( trích theo Nguyễn trọng Tiến và CS, 2001).
Niconxki V. V. (1986) cho biết các yếu tố như chuồng ẩm thấp, lạnh
lẽo, ngột ngạt, gió lùa, không có rác ñộn chuồng, ăn uống kém, chật chội và

Trích đoạn Hoạt ựộ của men sGOT và sGPT trong huyết thanh bò sữa bị viêm phổi. Protein tổng số và tiểu phần Protein Hàm lượng ựường huyết và phản ứng Gross Hàm lượng Canxi, Natri, Kali trong huyết thanh Thử nghiệm các phác ựồ ựiều trị bệnh viêm phổi bò sữa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status