LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
chưa công bố tại bất cứ nơi nào. Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là
những thông tin xác thực.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế quốc
dân, đặc biệt là cô giáo TS. Lê Kim Ngọc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
tác giả hoàn thành luận văn thạc sỹ này.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Diễn giải
1 BC LCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
2 BCTC Báo cáo tài chính
3 BTC Bộ tài chính
4 CDKT Cân đối kế toán
5 CP Cổ phần
6 DT Doanh thu
7 KQKD Kết quả kinh doanh
8 LNST Lợi nhuận sau thuế
9 LNTT Lợi nhuận trước thuế
10 NQH Nợ quá hạn
11 QĐ Quyết định
12 TCKT Tổ chức kinh tế
13 TCTD Tổ chức tín dụng
14 TSCĐ Tài sản cố định
15 DN Doanh nghiệp
16 VCSH Vốn chủ sở hữu
17 VDL Vốn điều lệ
/#l k<S; \Y`m&]TS(i$j"&HS<4a
//l k<$,%&`.W]TS(i$j"&HS<4#
/4l k<$,]S'(i$j"&HS<47
/#n);5QR'S'S"(i$j"&HS<4A
/#H!%&i)*5Q":"&oTp.U&1:1('5QR'S'S"
;(i$j"&HS<4A
/##='5Q"4A
/#/\T&5QR'S'S";(i$j"&HS<4X
4qMFGBrsqHq=L=M=IJKLMLM
JtPefg=hPHPM0>4
4''('5Q";(i$j"&HS<>4
4p<l ; 9>4
4#;:"&i+5>7
4#DnjS"U5QR'S'S";(i$j"&HS<
>A
4#uv')k(i$j"&HS<>A
4##DnjS"U5QR'S'S";(i$j"&
HS<Aa
4/&i+wS"U5QR'S'S";(i$j"&HS<x
A
44=v:"`'S"U5QR'S'S";(i$j
"&HS<A
44=vS"UA
44#`'S"U$,5QR'S'S";(i$j"&
HS<A#
47' -- !":"v+,&)S.X
43B.&yX
OP0zFP0BqMX#
=zFzX/
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
#/4U8Z2+&]'%&'/
#/4#=5QU&%&`Y}T1"Y`8 u/#
#/4/=5QU&%&`Y}T1"Y`w;//
#/44=5Q]`bY.9:8/3
/cNd=IJKLMLMJdefg=hP
HPM0/A
/B'%&'&:!(i$j"&HS</A
/B'%&'%&')**":"')k(i/A
/$%&:!(i$j"&HS</A
/#s&')**":"')k/A
//&i+wS; \/X
l k<S; \Y`m&]TS(i$j"&HS<4a
"V!]TS(i4a
/#l k<S; \Y`m&]TS(i$j"&HS<4a
/#"V!]TS(i4a
/##l k<%&i)*(UY`m&Y`j<(i4a
//l k<$,%&`.W]TS(i$j"&HS<4#
//;\ o$ (4#
//#\ o%&`)u4/
///K]k<YS'4/
//4K'< 84/
//7'~RU:144
/4l k<$,]S'(i$j"&HS<47
/4$,R\<'i]S'47
/4#$,(']S'43
$,:yT1U8Y$Y']S'43
/#n);5QR'S'S"(i$j"&HS<4A
/#H!%&i)*5Q":"&oTp.U&1:1('5QR'S'S"
;(i$j"&HS<4A
/##='5Q"4A
"&HS<A
44=vS"UA
44#`'S"U$,5QR'S'S";(i$j"&
HS<A#
44#H!'5QA/
44##H!$,:"5YnS('5Q"A4
44#/H!]€&y:"(UA7
44#4H!(']S'V]k<S'V8]+A7
44#7H!\T&5QA3
•S"U '']'%&'^*"A3
R•S"U5Q^* `<R`S:8SS; \]TSAA
•=5QR'S'S" k ''U&%&`Y`m&]TS(i$
j"&HS<AX
47' -- !":"v+,&)S.X
43B.&yX
OP0zFP0BqMX#
=zFzX/
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Nguồn tài trợ tài sản Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ khai thác, chế biến và tiêu thụ than Error: Reference source not
found
Sơ đồ 3.2. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần than Hà Tu vinacomin
Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.3. Sơ đồ trình tự sổ kế toán theo hình thức chứng từ - ghi sổ Error:
Reference source not found
Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Với bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay đang vận hành theo cơ chế thị
trường và trong xu thế hội nhập, cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt hơn. Do
hạn chế về khả năng và nguồn lực, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế buộc phải
ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp,
không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức
quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối
tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Việc
phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp công ty đánh giá được những điểm mạnh, điểm
yếu của minh thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh
tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, công ty sẽ tạo lập nên được lợi thế so sánh với các
đối tác của mình và nhợ lợi thế này mà công ty có thể thỏa mãn tốt hơn các khách
hàng mục tiêu.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ
tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt
này và có hạn chế về mặt khác. Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được
điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt
nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một
doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh
nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống
thông tin… Chính vì vậy việc phân tích báo cáo tài chính một cách toàn diện cả về
định tính và định lượng sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp nắm vững được
các điểm mạnh điểm yếu còn tồn tại trong công ty qua đó phát huy thế mạnh, khắc
phục điểm yếu để tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thế giới.
Bên cạnh đó, báo cáo tài chính phục vụ trực tiếp cho các nhà quản lý công ty.
Qua phân tích báo cáo tài chính các nhà quản lý nắm bắt được tình hình tài chính
của công ty đồng thời xem xét được mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đã đặt ra,
2
xem xét được tốc độ tăng trưởng qua đó có những định hướng điều chỉnh giúp công
ty hoàn thành tốt kế hoạch kinh doanh trong năm.
Qua phân tích báo cáo tài chính, các nhà quản lý hiểu được hiểu được chiến
lược công ty và xây dựng chiến lược bộ phận; hiểu được văn hóa công ty và biết
cách xây dựng văn hóa bộ phận; hiểu được hệ thống quản lý công ty và biết cách
xây dựng hệ thống quản lý bộ phận. Tránh tình trạng xây dựng mục tiêu tăng trưởng
hay từ chối hoặc nên lựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay là chuyển sang
một quy trình mới, tất cả sẽ phần lớn sẽ phụ thuộc vào các kết quả phân tích tài
chính có chất lượng.
Đứng trên tầm quan trọng và phức tạp đó, không ít người làm kinh tế và
nghiên cứu kế toán, phân tích đã đưa ra những chuẩn mực chung và hệ thống hóa quá
trình phân tích báo cáo tài chính của một đơn vị kinh tế. Trong các sách quản lý tài
chính cũng đề cập một phần không nhỏ ý nghĩa của các chỉ số phân tích báo cáo tài
chính như “ Quản lý tài chính- Tata Mc- Graw Hill năm 1988”; “ Phân tích tài chính
doanh nghiệp- Ths Ngô Kim Phượng”; “ Phân tích tài chính- TS Ngô Minh Kiều”;…
trong các giáo trình và sách hướng dẫn đều nêu rõ quá trình phân tích báo cáo tài
chính đồng thời đưa ra những biện pháp cụ thể với các mục tiêu cụ thể. Tuy nhiên các
giáo trình và các sách quản lý tài chính chỉ đưa ra các biện pháp chung chung, không
cố định vào một loại hình doanh nghiệp hay một ngành nghề cụ thể nào. Các đơn vị
tài chính, các công ty dựa trên lý thuyết đó mà tự tổ chức phân tích cho phù hợp với
đặc điểm công ty mình, không nhất quán hay có sự thống nhất chung.
Bên cạnh đó cũng có không ít công trình nghiên cứu khoa học viết về đề tài
phân tích báo cáo tài chính. Trong đó có thể chia làm các nhóm chính sau:
Nhóm một: “ Hoàn thiện một khía cạnh trong phân tích báo cáo tài chính”
Nhóm đề tài này gồm có: “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các
công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” tác giả Trần Thị
Thu Phong, luận án ĐH KTQD năm 2012; “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích
tài chính tại tổng công ty hàng không Việt Nam” tác giả Trần Thị Minh Phương,
luận án ĐH KTQD năm 2008, Nhóm công trình này đi sâu phân tích, hoàn thiện
một khía cạnh của phân tích báo cáo tài chính nhằm đưa ra phương hướng về một
mục tiêu cụ thể: về sử dụng vốn, về hiệu quả sản xuất kinh doanh,…
4
Nhóm hai: “ Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính trong một nhóm doanh
nghiệp thuộc cùng một ngành” gồm có: “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính với
việc phân tích tài chính trong các DN xây dựng ở Việt Nam” tác giả Nguyễn Văn
Hiếu, luận văn ĐH KTQD năm 2003; “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính trong
thêm cho hệ thống công trình nghiên cứu khoa học về phân tích.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Trên cớ sở nghiên cứu một cách khoa học về công tác phân tích báo cáo tài
chính tại công ty, luận văn hướng tới các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu và hoàn thiện lý thuyết về phân tích báo cáo tài chính doanh
nghiêp.
- Quan điểm, nguyên tắc và giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính
tại Công ty cổ phần than Hà Tu Vinacomin.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài trả lời các câu hỏi sau:
- Cơ sơ lý luận về phân tích báo cáo tài chính hiện nay như thế nào?
- Thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần than Hà
Tu Vinacomin hiện nay ra sao?
- Phương hướng hoàn thiện và giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính
tại công ty cổ phần than Hà Tu Vinacomin như thế nào?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: phương pháp, nội dung và tổ chức phân tích báo cáo
tài chính.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phương pháp và nội dung phân tích tài
chính tại Công ty cổ phần than Hà Tu Vinacomin
1.6 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: trên cơ sở phân tích lý thuyết và thực tiễn
công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp, đề tài khái quát hoá bản chất của công
tác phân tích báo cáo tài chính tại công ty,trên cơ sở đánh giá đó nhằm đưa ra những
giải pháp cần thiết cho việc hoàn thiện công tác này tại công ty. Dựa trên phương
pháp phân tích-tổng hợp, đề tài phân tích riêng lẻ từng chỉ tiêu các năm từ đó khái
6
quát hóa và nhận định biến động tình hình tài chính của công ty.
- Phương pháp so sánh: Thông qua báo cáo tài chính 3 năm 2009, 2010, 2011
2.1 Tổng quan về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là phương tiện thể hiện thực trạng tài chính của doanh
nghiệp bao gồm những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn, kết
quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Hệ thống báo cáo tài chính có những vai trò sau đây:
- Cung cấp thông tin tổng quát về kinh tế, tài chính, giúp cho việc phân tích
tình hình tài chính trong kỳ đồng thời giúp cho việc kiểm tra, đánh giá tình hình
chấp hành và thực hiện các chính sách kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin quan trọng trong việc phân tích, phát hiện những khả
năng tiềm tàng về kinh tế. Qua đó, giúp các nhà quản lý, nhà đầu tư, cổ đông tương
lai đưa ra các quyết định.
- Cung cấp thông tin cho việc phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình
và kết quả sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính doanh nghiệp.
- Căn cứ quan trọng trong việc đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
đồng thời là chỉ tiêu quan trọng trong việc tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác.
Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so
sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua nhằm cung
cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh
cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Phân tích báo
cáo tài chính là một quá trình bao gồm năm khâu cơ bản:
•Xác định mục tiêu phân tích
•Xây dựng chương trình phân tích
•Thu thập và xử lý số liệu
•Tính toán phân tích và dự đoán
8
•Tổng hợp kết quả và đưa ra kết luận
2.1.2 Mục tiêu, ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính
- Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính:
Mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong một thể thống nhất
Nhóm có quyền lợi trực tiếp bao gồm: các cổ đông, các nhà đầu tư, các chủ
ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng, các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp.
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp.
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm
hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Với lợi thế nắm bắt được
đầy đủ thông tin và hiểu rõ về doanh nghiệp, ngoài lợi nhuận, các nhà quản trị
doanh nghiệp còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn
việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ,
hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục
tiêu này khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ. Một doanh
nghiệp bị lỗ liên tục rút cục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa, còn
nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trả cũng
buộc phải ngừng hoạt động.
Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm
thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành
cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính,
quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần.
Đối với các nhà đầu tư.
Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng
thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình
hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp. Các nhà
đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý. Những điều đó
tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư. Từ đó ảnh hưởng tới các quyết
định tiếp tục đầu tư và công ty trong tương lai.
10
Đối với các nhà cho vay.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ
chủ yếu vào khă năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy chỉ tiêu mà các chủ ngân
hàng và các nhà cho vay tín dụng đặc biệt chú ý là số lượng tiền và các tài sản khác
+ Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu
+ Phảm đàm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu.
+ Đảm bảo về sự thống nhát về đơn vị tính các chỉ tiêu( bao gồm giá trị, hiện
vật và thời gian)
Tiêu chuẩn để so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được chọn làm căn cứ để so sánh,
gọi là gốc so sánh.Tuỳ vào mỗi mục đích phân tích khác nhau, người phân tích sẽ
chọn các gốc so sánh phù hợp.
+ Để đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch: gốc so sánh được chọn là
số liệu kế hoạch đã đặt ra
+ Để đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu: gốc so sánh được chọn là
số liệu kỳ trước hoặc cùng kỳ này năm trước.
+ Để đánh giá kết quả đạt được của doanh nghiệp so với các đơn vị khác: gốc
so sánh được chọn là chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành.
Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng 3 hình
thức:
+ So sánh dọc là việc sử dụng các tỷ suất, các hệ số thể hiện mối tương quan
giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận.
+ So sánh ngang là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt
đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính.
+ So sánh xác định xu hướng và tính chất lien hệ giữa các chỉ tiêu . Điều đó
được thể hiện: Các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài
chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và
chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xu hướng phát triển
của các hiện tượng, kinh tế tài chính doanh nghiệp.
12
2.2.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích
Việc chi tiết chỉ tiêu phân tích theo các khía cạnh khác nhau giúp cho việc
đánh giá kết quả kinh doanh được chính xác hơn. Thông thường trong phân tích,
phương pháp chi tiết được thực hiện theo những hướng sau:
- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu;
cứu dưới dạng tích số hoặc thương số.
- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu
vào một công thức toán học theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến chất lượng.
- Thay thế lần lượt giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu nghiên cứu.
Có bao nhiêu nhân tố thì có bấy nhiêu lần và nhân tố nào đã thay thế thì giữ nguyên
giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng. Sau mỗi lần thay
thế trị số của từng nhân tố, phải xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố vừa thay
thế đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng (nếu có);
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên
cứu giữa kỳ phân tích và kỳ gốc.
Phương pháp chênh lệch
Điều kiện và trình tự vận dụng phương pháp số chênh lệch cũng tương tự như
phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác ở chỗ: để xác định mức độ ảnh hưởng của
nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của
nhân tố đó để xác định.
2.2.4 Phương pháp liên hệ cân đối
Mọi chỉ tiêu tài chính đều có mối liên hệ với nhau giữa các mặt, các bộ
phận… Để lượng hoá các mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu trên, trong
phân tích báo cáo tài chính còn sử dụng phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ
biến như: liên hệ cân đối, liên hệ trực tuyến và liên hệ phi tuyến.
Liên hệ cân đối có cơ sở là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và
quá trình kinh doanh: giữa tổng số vốn và tổng số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy
động và tình hình sử dụng các quỹ, các loại vốn giữa nhu cầu và khả năng thanh toán,
giữa nguồn vốn mua sắm và tình hình sử dụng các loại vật tư, giữa thu với chi,…
14
Liên hệ trực tuyến là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu
phân tích. Chẳng hạn, lợi nhuận có quan hệ cùng chiều với lượng hàng bán ra, giá
bán có quan hệ ngược chiều với giá thành, tiền thuế,… Trong mối liên hệ trực tuyến
này, theo mức độ phụ thuộc các chỉ tiêu có thể phân thành hai loại quan hệ chủ yếu:
- Liên hệ trực tuyến giữa các chỉ tiêu nhu giữa lợi nhuận với giá bán, giá
doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có chỉ tiêu doanh lợi tài sản (ROA)
ROA
=
Lợi nhuận trước thuế & lãi
Tài sản
Hoặc:
ROA
=
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản
Đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư.
Tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và
phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập sau
thuế để so sánh với tổng tài sản.
Khi sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont nhằm tác động tương hỗ
giữa các tỷ số tài chính, nhà phân tích có thể thực hiện việc tách tỷ số ROE:
ROE =
LN sau thuế
=
Lợi nhuận sau thuế
X
Tài sản
= ROA x EM
Vốn CSH Tài sản Vốn CSH
(EM: số nhân vốn)
EM có thể được biến đổi thành:
EM =
Tài sản
=