NHPT việt nam hoạt động theo những quy định của chính sách tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước hãy phân tích những thay đổi của chính sách này tư năm 1999 đến nay - Pdf 23

Đề tài số 13: “NHPT Việt nam hoạt động theo những quy định của Chính sách tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước. Hãy phân tích những thay đổi của chính sách này tư năm 1999
đến nay”
Khái quát về chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Tín dụng nhà nước và mô hình Tổng cục Đầu tư phát triển
Tín dụng nhà nước được chính thức sử dụng ở Việt Nam từ năm 1994 khi cơ chế thị trường
đã được chính thức vận hành, cơ chế cấp phát vốn đầu tư cho các DNNN đã không còn phù
hợp. Ngày 10-12-1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 187/CP về việc thành lập Tổng
cục Đầu tư phát triển trực thuộc Bộ Tài chính. Tổng cục Đầu tư phát triển là tổ chức sự
nghiệp có chức năng quản lý nhà nước về vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, đồng thời
thực hiện cấp và thu hồi vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với các đơn vị thụ hưởng
theo chỉ định của Chính phủ.
Mô hình Tổng cục Đầu tư phát triển hoạt động được 5 năm. Trong 5 năm 1995-1999, Tổng
cục đã tổ chức cấp phát nguồn NSNN trên 80 nghìn tỷ đồng cho các dự án đầu tư xây dựng
cơ bản (nội dung này thuộc về tài chính nhà nước); đã thực hiện 3.722 hợp đồng cấp tín
dụng cho vay tín dụng nhà nước với tổng số vốn gần 60.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, mô hình Tổng cục Đầu tư phát triển đã lẫn lộn hoạt động quản lý nhà nước với
hoạt động quản lý trực tiếp quỹ tín dụng nhà nước, không phân định cấp phát tài chính nhà
nước với cho vay tín dụng. Chính vì vậy, mô hình Tổng cục Đầu tư được chuyển đổi vào
cuối năm 1999
Chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và mô hình Quỹ hỗ trợ phát triển
Mô hình Quỹ hỗ trợ phát triển
Ngày 8-7-1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 50/CP thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển là
một tổ chức đặc biệt, phi lợi nhuận đảm nhận chức năng quản lý tín dụng nhà nước của
Tổng cục Đầu tư phát triển trước đây, thực hiện cấp, quản lý và thu hồi tín dụng nhà nước
theo cơ chế mới, phù hợp với Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi 3-1998) và các
quy chế mới về đầu tư xây dựng. Đáng chú ý là Quy chế ban hành theo Nghị định
43/1999/NĐ-CP về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Quy chế quản lý đầu tư và xây
dựng ban hành theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP. Trong thời gian này Nhà nước cũng đã
thành lập một số Quỹ Hỗ trợ của Nhà nước như Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu (1999) thay thế cho
Quỹ Bình ổn giá (thành lập năm 1993) và Quỹ Thưởng xuất khẩu (1998).

được huy động rộng rãi các nguồn vốn khác trong và ngoài nước
1

Đối tượng áp dụng
Tín dụng nhà nước tập trung cho vay theo danh mục một số ngành trọng điểm theo mục tiêu
phát triển quốc gia, một số địa bàn và chương trình được Nhà nước phê duyệt. Đối tượng
cho vay là tất cả các thành phần kinh tế (trong nước), không phân biệt là DNNN hay ngoài
1 Mô hình ngân hàng tín dụng nhà nước phi lợi nhuận đã được thực hiện ở Việt Nam ngay từ năm 1992
khi Nhà nước thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo (nay đổi tên là Ngân hàng Chính sách xã hội).
Qua nhiều năm hoạt động, Ngân hàng Phục vụ người nghèo đã chứng minh sự thích hợp của mô hình,
khẳng định hình thức tín dụng nhà nước ưu đãi có thể áp dụng được ở Việt Nam vừa phù hợp với cơ chế
thị trường vừa giúp nhà nước thực hiện được các chính sách xã hội và phát triển kinh tế.
2
quốc doanh. Đây là nội dung mới mang tính bước ngoặt trong hoạt động tín dụng nhà nước,
thể hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta.
Theo Điều 3. Nguyên tắc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
1. Chỉ hỗ trợ cho những dự án đầu tư Nhà nước cần khuyến khích, có hiệu quả kinh tế - xã
hội, đảm bảo hoàn trả được vốn vay.
2. Một dự án có thể được hỗ trợ đồng thời bằng hình thức cho vay đầu tư và bảo lãnh tín
dụng đầu tư.
3. Việc cho vay vốn đầu tư phải thực hiện theo đúng mục tiêu và tiến độ đầu tư của dự án.
4. Dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được Quỹ hỗ trợ phát triển
thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay và chấp thuận cho vay trước khi
quyết định đầu tư.
Bên cạnh đó, các dự án phát triển còn phải nằm trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể.
Theo Điều 5. Kế hoạch tín dụng đầu tư phát triển là một bộ phận của kế hoạch đầu tư phát
triển của Nhà nước, nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội
theo cơ cấu ngành, lĩnh vực và vùng; phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu về nguồn vốn và tổng
mức vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có phân theo các hình thức: cho vay đầu

đầu tư
quy định tổng
mức đầu tư
không quá 85%
tổng mức đầu tư
một dự án có thể
được áp dụng
đồng thời nhiều
hình thức tín
dụng
một dự án đầu
tư chỉ được
tham dự một
hình thức tín
dụng đầu tư của
Nhà nước
Bổ sung: chỉ cho
vay hoặc bảo
lãnh tín dụng
những dự án đầu
tư có khả năng
thu hồi vốn trực
tiếp
Mức cho vay
tối đa bằng
15% vốn điều
lệ thực có của
Ngân hàng
phát triển Việt
Nam.

hoạch và Đầu
tư, Bộ Tài chính
và Ngân hàng
Nhà nước Việt
Nam về kế
hoạch tín dụng
đầu tư phát triển
hàng năm và kế
hoạch dài hạn để
tổng hợp chung
trong kế hoạch
phát triển kinh
tế - xã hội.
Bộ Tài chính chủ
trì thẩm định kế
hoạch tín dụng
đầu tư phát triển
hàng năm và dài
hạn do Ngân
hàng Phát triển
Việt Nam lập và
gửi Bộ Kế hoạch
và Đầu tư để
tổng hợp, trình
Thủ tướng Chính
phủ quyết định
trong kế hoạch
phát triển kinh tế
- xã hội.
4

thương mại
bằng lãi suất trái
phiếu Chính phủ
kỳ hạn 5 năm
cộng 0,5%/năm.
Đối với một số
dự án bằng lãi
suất trái phiếu
Chính phủ kỳ
hạn 5 năm.
Lãi suất vay vốn
đầu tư bằng
đồng Việt Nam
bằng lãi suất trái
phiếu Chính phủ
kỳ hạn 5 năm
cộng 1%/năm
Không thấp
hơn bình quân
các nguồn vốn
Trả nợ vay khi quá hạn
mà không trả
được nợ sẽ bị
tính lãi suất
quá hạn ngay,
lãi suất quá
hạn 130% lãi
suất cho vay.
sau 10 ngày làm việc từ ngày nợ hết hạn mà chủ đầu tư
không trả được nợ thì sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn và

hàng năm tối đa
bằng 0,2% trên
dư nợ bình quân
cho vay đầu tư
và nghĩa vụ bảo
lãnh tín dụng
đầu tư.
Biện pháp xử lý
rủi ro được xem
xét áp dụng
gồm: điều chỉnh
thời hạn trả nợ,
gia hạn nợ,
khoanh nợ, xoá
nợ (gốc, lãi).
Biện pháp xử lý
rủi ro được xem
xét áp dụng
gồm: gia hạn nợ,
khoanh nợ, xoá
nợ (gốc, lãi) và
bán nợ
Bảo lãnh Mức bảo lãnh
bằng mức vốn
vay của tổ
chức tín dụng
trong tổng
mức đầu tư
Mức bảo lãnh
đối với một dự

đầu tư bằng
chênh lệch giữa
lãi suất vay vốn
đầu tư của các tổ
chức tín dụng và
90% lãi suất vay
vốn đầu tư áp
dụng cho các
đối tượng quy
định tại Điều 10
Nghị định này
Chênh lệch giữa
lãi suất vay vốn
đầu tư của các tổ
chức tín dụng và
90% lãi suất vay
vốn đầu tư
dựa trên cơ sở
chênh lệch
giữa lãi suất
vay vốn đầu tư
của các tổ chức
tín dụng và lãi
suất vay vốn
tín dụng đầu tư
của Nhà nước,
và đề nghị của
Chủ tịch Hội
đồng quản lý
NHPT VN.

sản xuất động
cơ Diezel, toa
xe và đầu máy
xe lửa.
Về mặt hàng
xuất khẩu
được hỗ trợ
bỏ: Lạc nhân,
trứng gia cầm,
quế; đồ gỗ thủ
công mỹ nghệ;
Cáp điện; Máy
tính nguyên
chiếc, phụ kiện
máy tính.
6
Nhận xét
Sự thay đổi từ NĐ 43/1999 đến 106/2004
Trên thực tế, Nghị định 106/2004 đã thực hiện giảm sự bao cấp của Nhà nước so với Nghị
định 43/1999 trước đây. Đơn cử, theo Nghị định 43/1999 thì một dự án có thể được hỗ trợ
đồng thời bằng cả hình thức cho vay đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư không giới hạn tổng
mức hỗ trợ, nhưng Nghị định 106/2004 đã giới hạn tổng mức hỗ trợ tối đa không quá 85%
vốn đầu tư của một dự án. Nghị định 106/2004 cũng thực hiện thu hẹp đối tượng được
hưởng ưu đãi tín dụng của Nhà nước so với trước đây; lãi suất nợ quá hạn được nâng từ
130% lên 150% lãi suất cho vay trong hạn ghi trong hợp đồng Đặc biệt, nếu như trước
đây, lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước được cố định là 9%/năm và chỉ thay đổi khi lãi
suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước biến động 10% thì lãi suất hiện tại được xác định
tương đương 70% lãi suất cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại và sẽ
được điều chỉnh khi lãi suất trên thị trường biến động 15%.
Sự thay đổi từ NĐ 106/2004 đến 151/2006

tính đến thời hạn vay vốn khác nhau giữa các dự án. Cách xác định lãi suất này còn mang
tính bao cấp từ Nhà nước, hạn chế tính chủ động và tự chịu trách nhiệm từ chủ dự án. Vì
vậy, trong Nghị định này lãi suất cho vay đầu tư bằng đồng Việt Nam được Chính phủ quy
định theo hướng tiếp cận với thị trường. Đây cũng là lãi suất cho vay mà OECD khuyến
nghị.
Vấn đề bảo đảm tiền vay cũng được sửa đổi theo hướng: các chủ đầu tư, khi vay vốn hoặc
được bảo lãnh được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay và bảo lãnh.
Trường hợp tài sản hình thành từ vốn vay không đủ điều kiện bảo đảm tiền vay và bảo lãnh,
chủ đầu tư phải sử dụng tài sản hợp pháp khác để bảo đảm tiền vay và bảo lãnh với giá trị
tối thiểu bằng 15% tổng mức vay vốn và bảo lãnh.
Cụ thể, Chính phủ đã quy định mức lãi suất vay vốn tín dụng đầu tư đối với:
- Các dự án thuộc ngành công nghiệp (7 nhóm) bằng lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5
năm + 0,5%/năm;
- Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (7 nhóm); dự án phát triển nông
nghiệp, nông thôn (3 nhóm) và các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, đặc biệt khó khăn; dự án tại vùng đồng bào dân tộc Khơ me sinh sống tập trung, các
xã thuộc chương trình 135 và các xã biên giới thuộc chương trình 120, các xã vùng bãi
ngang thì lãi suất cho vay bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm.
- Trường hợp vay bằng ngoại tệ, áp dụng lãi suất tương đương với lãi suất Sibor 6 tháng
cộng thêm tỷ lệ % nhất định.
Sự thay đổi từ NĐ 151/2006 đến 106/2008
8
NĐ 106/2008 chỉ bổ sung môt số điều so với NĐ 151/2006. Nghị định mới tăng tính trách
nhiệm của chủ đầu tư (phải đảm bảo một phần chi phí), cụ thể thêm vai trò của Bộ Tài
Chính, điều chỉnh lãi suất cho vay và danh mục đầu tư.
Sự thay đổi từ NĐ 106/2008 đến 75/2011
So với NĐ 151 đã được bổ sung và sửa đổi bằng NĐ 106/2008, Nghị Định 75/2011 có rút
gọn một số nội dung và bổ sung thêm những nội dung mới.
Trước hết về những điểm được rút gọn, NĐ 75 đã bỏ qua những hoạt động bảo lãnh,
chỉ tập trung điều chỉnh những hoạt động tín dụng bằng VND ( cho vay bằng ngoại tệ cũng

Tuy nhiên, Nghị định 75/2011/NĐ-CP cũng bổ sung thêm quy định: mức vốn cho vay tối đa
đối với mỗi chủ đầu tư không được vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của NHPTVN.
Lãi suất cho vay phù hợp với nguyên tắc thị trường
Theo quy định tại Nghị định 106/2008/NĐ-CP trước đây, lãi suất vay vốn đầu tư bằng đồng
Việt Nam bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng 1%/năm. Nhưng để đảm
bảo tính linh hoạt trong điều hành lãi suất tín dụng đầu tư, giúp NHPTVN tiến tới tự chủ và
cân bằng về tài chính, Nghị định 75/2011/NĐ-CP đã có quy định mới: Lãi suất cho vay đầu
tư không thấp hơn lãi suất bình quân các nguồn vốn cộng với phí hoạt động của NHPTVN.
Thu hẹp danh mục các dự án và mặt hàng xuất khẩu được hỗ trợ. Điều này được thể hiện rõ
qua bảng so sánh phần trên.
Việc thực hiện chính sách tín dụng đầu tư đã cung ứng một khối lượng vốn lớn cho các dự
án đầu tư phát triển thuộc các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, thông qua đó tác động tích
cực tới tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu; góp phần phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status