TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC NỘI
CHUẨN KHÁC NHAU TRONG XÁC ĐỊNH
METHYL ESTE TRONG BIODIESEL BẰNG
PHƢƠNG PHÁP GC/FID
Giảng viên hướng dẫn: TS. LÊ THỊ THANH HƯƠNG
Sinh viên thực hiện: LÊ THỊ THU THỦY
MSSV: 09121471
Lớp: DHPT5
Khoá: 2009 - 2013
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
Tên đồ án: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất nội chuẩn khác nhau trong xác định
methyl este trong biodiesel bằng phương pháp sắc ký khí đầu dò ion hóa ngọn lửa
(GC/FID).
Nhiệm vụ của đồ án:
1. Tối ưu hóa chương trình nhiệt độ để tách các methyl este.
2. Định danh, xác định thời gian lưu của methyl este trong FAMEs bằng
phương pháp GC/FID.
3. Khảo sát sai số của phương pháp GC/FID xác định hàm lượng methyl este
trong biodiesel sử dụng chất nội chuẩn khác nhau.
Ngày giao đồ án:
Ngày hoàn thành đồ án:
Họ tên giáo viên hướng dẫn: TS. Lê Thị Thanh Hương
Chủ nhiệm bộ môn
Tp. HCM, ngày tháng năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
ii
LỜI CẢM ƠN
Bằng tất cả tấm lòng em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
Cô Lê Thị Thanh Hương – Trưởng khoa Khoa Công nghệ Hóa học Trường
Đại Học Công Nghiệp TP. Hồ Chí Minh đã giao đề tài, nhiệt tình hướng dẫn, chỉ
bảo và giúp đỡ em trong suốt thời gian 3 tháng thực hiện.
Cô Vũ Thị Hoa đã tận tình hướng dẫn em sử dụng hệ thống sắc ký khí Agilent
D 6890N.
Giáo viên hướng dẫn
iv
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Phần đánh giá:
Ý thức thực hiện:
Nội dung thực hiện:
Hình thức trình bày:
Tổng hợp kết quả:
Điểm bằng số: Điểm bằng chữ:
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2010
Giáo viên phản biện
v
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1
3.2.1. Kết quả khảo sát theo tiêu chuẩn: 25
3.2.2. Kết quả định danh bằng phương pháp GC/MS 29
3.2.3. Kết quả phân tích biodiesel sử dụng nội chuẩn C17 bằng GC/FID: 34
3.2.4. Kết quả phân tích biodiesel sử dụng nội chuẩn C6:0 bằng phương pháp
GC/FID: 35
3.3. Kết quả khảo sát sai số phương pháp GC/FID khi phân tích biodiesel 39
KẾT LUẬN 40
KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng biodiesel theo ASTM D 6751 4
Bảng 1. 2. Một số hệ dung môi và chất hiện màu 15
Bảng 3.1. Thông số cài đặt trên cột INNOWax Agilent 25
Bảng 3.2. Kết quả phân tích mẫu biodiesel bằng GC/MS 29
Bảng 3. 3. Kết quả C% methyl ester theo công thức 1. 34
Bảng 3. 4. Kết quả C% methyl ester theo công thức 2 34
Bảng 3.5. Kết quả C% methyl ester tinh theo công thức 1 35
Bảng 3.6. Kết quả khảo sát sai số phương pháp của glycerin 39 viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 3. 1. Kết quả khảo sát dung môi 24
Hình 3. 2. Kết quả khảo sát dung môi và chất nội chuẩn C17:0 24
Hình 3.3. Kết quả khảo sát dung môi và nội chuẩn C6:0 25
Hình 3.4. Kết quả chương trình nhiệt 1 trên hỗn hợp dung dịch chuẩn 27
nguồn gốc dầu mỏ. Biodiesel là một sự thay thế đầy tiềm năng cho diesel dựa vào
những tính chất tương tự và những ưu điểm vượt trội của nó. Nguồn nguyên liệu để
sản xuất vô cùng phong phú, chủ yếu là từ thực vật, nên chúng có những phẩm chất
của nguyên liệu thực vật như tính dễ phân hủy, dễ sản xuất và không có độc tính.
Bởi vậy, khi sử dụng nhiên liệu sinh học không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn
góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm hơn nguồn tài nguyên đang dần cạn
kiệt, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững. Đây chắc chắn sẽ là xu hướng nhiên
liệu của cả thế giới trong tương lai. Ở Việt Nam, ngành sản xuất nhiên liệu sinh học
cũng đã bắt đầu được quan tâm phát triển. Tuy vẫn còn sơ khai nhưng đây hứa hẹn
sẽ trở thành ngành sản xuất mang lại nhiều hiệu quả phát triển kinh tế cũng như bảo
vệ môi trường của Việt Nam.
Biodiesel thường được sản xuất bằng phản ứng chuyển vị este của dầu mỡ
động thực vật với methanol. Sản phẩm chính mà các nhà nghiên cứu biodiesel mong
muốn là các thành phần methyl ester hay còn gọi là FAME. Do đó, việc xác định
chất lượng biodiesel chính là việc xác định các thành phần trên một cách chính xác.
Tiêu chuẩn EN-14103 cho ta quy trình xác định methyl ester trong các loại
biodiesel thực vật, còn để phân tích biodiesel động vật thì liệu EN 14103 còn phù
hợp nữa hay không, nội chuẩn C17 có còn phù hợp nữa không?
Với những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của các nội chuẩn khác nhau trong xác định methyl ester trong biodiesel bằng
phương pháp GC/FID”.
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về biodiesel
1.1.1. Khái niệm về biodiesel
Biodiesel hay diesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính chất tương đương
với nhiên liệu dầu diesel nhưng không phải được sản xuất từ dầu mỏ mà được sản
xuất từ dầu thực vật và mỡ động vật. Diesel sinh học nói riêng hay nhiên liệu sinh
học nói chung là một loại năng lượng sạch. Mặt khác chúng không độc và dể phân
giải trong tự nhiên. Nhìn về phương diện hóa học thì nhiên liệu sinh học là methyl
Có khả năng tự phân huỷ và không độc (phân huỷ nhanh hơn Diesel 4 lần,
phân huỷ từ 85¸ 88% trong nước sau 28 ngày).
Tuy nhiên biodiesel phát thải nhiều khí NO
x
trong quá trình cháy do sự hiện
diện của Oxy và Nito trong thành phần nhiên liệu.
1.1.2.2. Ƣu nhƣợc điểm về mặt kỹ thuật:
Độ nhớt tốt, giảm được hiện tượng mài mòn và va đập trong động cơ. Trị số
cetan cao.
Không chứa lưu huỳnh nên trong quá trình cháy không tạo SO
2
gây ăn mòn và
tạo cặn trong buồng đốt.
Điểm chớp cháy cao hơn diesel tạo sự an toàn trong quá trình vận chuyển và
tồn trữ.
Biodiesel có thể phối trộn với diesel theo mọi tỷ lệ.
Tuy nhiên, biodiesel có giá trị nhiệt lượng thấp dẫn đến tăng lượng tiêu hao
nhiên liệu biodiesel.
Điểm đông đặc và điểm chảy cao gây khó khan cho việc sử dụng nhiên liệu ở
những cùng có khí hậu lạnh.
1.1.2.3. Ƣu nhƣợc điểm về mặt kinh tế:
Sử dụng biodiesel làm nhiên liệu tạo sự chủ động cho những nước phải nhập
nhiên liệu và tạo một hướng đi mới cho các sản phẩm nông, ngư nghiệp, cải thiện
cán cân thương mại.
Nhưng giá thành của biodiesel hiện nay cao hơn so với diesel truyền thống do
vậy việc bán, sử dụng rộng rải nguồn nhiên liệu này ở các nước đang phát triển là
rất khó khăn
1.1.3. Tính chất của biodiesel:
Tính chất của biodiesel khá giống với dầu diesel từ dầu mỏ và có thể được
pha trộn theo bất kì tỷ lệ nào với diesel để tạo ra hỗn hợp nhiên liệu sinh học ổn
động cơ diesel.
4
Có nhiều tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá chất lượng biodiesel, dưới đây là
bảng chỉ tiêu đánh giá chất lượng theo hiệp hội đo lường và thử nghiệm vật liệu
Hoa Kỳ (ASTM).
Bảng 1. 1. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng biodiesel theo ASTM D 6751
Tính chất
Phương pháp thử
Giới hạn
Đơn vị
Nhiệt độ chớp cháy
(phương pháp cốc kín)
ASTM D 93
93 min
0
C
Nước và cặn
ASTM D 2709
0,05 max
% thể tích
Độ nhớt động học ở 40
0
C
ASTM D 445
1,9 – 6,0
mm2/s
Tro Sulfat
ASTM D 874
0,020 max
% khối lượng
ASTM D 6854
0,24 max
% khối lượng
Hàm lượng photpho
ASTM D 4951
0.001 max
% khối lượng
1.1.4. Quy trình sản xuất biodiesel:
Có một số công nghệ được chấp nhận chung để sản xuất biodiesel, dầu thực
vật và mỡ động vật là thích hợp để giảm độ nhớt của sản phẩm để thu được sản
phẩm phù hợp với các thuộc tính được sử dụng như động cơ nhiên liệu diesel. Có
nhiều phương pháp để sản xuất biodiesel như: sử dụng trực tếp hoặc pha trộn, nhũ
tương hóa, nhiệt phân dầu thực vật hoặc este hóa.
1.1.4.1. Sử dụng trực tiếp và pha trộn các loại dầu:
5
Việc sử dụng các loại dầu thực vật như các loại nhiên liệu thay thế đã được
khoảng kể từ năm 1900 khi phát minh ra động cơ diesel, Tiến sĩ Rudolph Diesel,
đầu tiên thử nghiệm Đậu phộng dầu trong động cơ nén của mình. Việc sử dụng trực
tiếp dầu thực vật trong động cơ diesel có nhiều khuyết điểm. Nó chỉ được nghiên
cứu rộng rãi trong vài thập kỷ qua, nhưng đã được thử nghiệm gần 100 năm qua.
Dầu thực vật có thể được trộn trực tiếp hoặc pha loãng với nhiên liệu diesel để cải
thiện độ nhớt để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các loại dầu thực
vật tinh khiết với độ nhớt cao. Năng lượng tiêu thụ, với việc sử dụng các loại dầu
thực vật tinh khiết, đã được tìm thấy là tương tự như của nhiên liệu diesel. Các tỉ lệ
có thể được sử dụng như 1:10 – 2:10 dầu nhiên liệu động cơ diesel. Nhưng, sử dụng
trực tiếp dầu thực vật hoặc sử dụng hỗn hợp của dầu thực vật nói chung được coi là
không thỏa đáng và không thực tế cho động cơ diesel.
Độ nhớt cao, thành phần acid, hàm lượng axit béo tự do, cũng như hình thành
gum do quá trình oxy hóa và trùng hợp trong quá trình lưu trữ và đốt. Sấy nóng và
pha trộn dầu thực vật có thể làm giảm độ nhớt nhưng cấu trúc phân tử vẫn không
nhiệt phân có thể thực hiện đối với dầu thực vật, mỡ động vật, axit béo tự nhiên
hoặc methyl este của axit béo, chuyển đổi dầu thực vật và mỡ động vật cấu tạo chủ
yếu của triglycerides sử dụng các phản ứng cracking nhiệt, đại diện cho một công
nghệ đầy hứa hẹn để sản xuất biodiesel. Các tính chất nhiên liệu của phần sản
phẩm chất lỏng của dầu thực vật sau khi nhiệt phân gần giống với nhiên liệu diesel.
Các nghiên cứu về phương pháp nhiệt phân chia thành các quá trình xúc tác và
không xúc tác.
Các phản ứng nhiệt phân đậu tương, cọ và dầu thầu dầu có được nghiên cứu
trong một cuộc điều tra. Sự lựa chọn đầy đủ nhiệt độ chưng cất đã làm cho nó có thể
để cô lập nhiên liệu với tính chất vật lý và hóa học so sánh với những quy định cho
nhiên liệu dầu khí. Thiết bị cracking nhiệt và nhiệt phân khá đắt tiền. Ngoài ra,
trong khi các sản phẩm tương tự có nguồn gốc từ dầu mỏ, xăng và nhiên liệu diesel,
việc loại bỏ oxy trong quá trình nhiệt cũng loại bỏ bất kỳ lợi ích môi trường của
việc sử dụng môi trường của việc sử dụng oxy nhiên liệu.
1.1.4.4. Phƣơng pháp chuyển vị ester:
Công nghệ phổ biến nhất để sản xuất biodiesel là phản ứng chuyển vị este
(triglycerides) với rượu tạo thành biodiesel (acid béo alkyl este, FAAE) là sản phẩm
chính và glycerin. Cơ chế của phản ứng este cơ bản được diễn tả như sau:
7
Bước đầu tiên là việc chuyển đổi triglycerides thành diglycerides, tiếp theo là
việc chuyển đổi để diglycerides thành monoglycerides và monoglycerides thành
glycerol. Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng chuyển vị este là nhiệt độ phản ứng,
thời gian phản ứng, áp suất phản ứng, tỷ lệ rượu, dầu mỡ, nồng độ và loại chất xúc
tác, cường độ trộn và nguồn nguyên liệu.
1.1.5. Công nghệ sản xuất biodiesel:
1.1.5.1. Phƣơng pháp este:
Về phương diện hóa học, quá trình trao đổi este còn gọi là quá trình rượu hóa,
có nghĩa là từ một phân tử triglyceride trao đổi este với 3 phân tử rượu mạch thẳng,
lượng axit béo tự do (FFA) hiện diện trong dầu. Đối với các loại dầu có lượng FFAs
thấp thì xúc tác bazo chuyển đổi tốt hơn trong một thời gian tương đối ngắn. Trong
khi với các loại dầu chứa lượng FFAs cao, thì xúc tác acid phù hợp hơn. Các nghiên
cứu khác nhau đã được thực hiện sử dụng các loại dầu khác nhau như nguyên liệu,
rượu khác nhau (methanol, ethanol, butanol), cũng như các chất xúc tác khác nhau,
bao gồm cả xúc tác đồng thể NaOH, KOH, H
2
SO
4
cũng như xúc tác dị thể CaO và
MgO.
Phản ứng chuyển vị với xúc tác đồng thể:
Chất xúc tác đồng thể thường được phân thành xúc tác acid và xúc tác bazo.
Quá trình chuyển vị sử dụng xúc tác đồng thể đặc biệt đòi hỏi phải có độ tinh khiết
cao của nguyên liệu và phản ứng phải tách chất xúc tác, phụ phẩm và sản phẩm vào
cuối của phản ứng. Cả hai yêu cầu trên đều làm tăng chi phí sản xuất biodiesel.
Phản ứng chuyển vị sử dụng xúc tác bazo đồng thể:
Hiện nay, biodiesel thường được sản xuất sử dụng xúc tác bazo đồng thể, như
một alkoxides kim loại kiềm, và hydroxit, như natri hoặc kali cacbonat. Như xúc tác
trong quá trình methanol phân, chủ yếu là NaOH và KOH được sử dụng, chiếm
khoảng 0.4% đến 2% khối lượng của dầu. Xúc tác bazo đồng thể thường được sử
dụng trong các ngành công nghiệp.
Phản ứng chuyển vị sử dụng xúc tác axit đồng thể:
Một cách khác, quá trình sản xuất biodiesel từ triglycerides sử dụng xúc tác
acid. Xúc tác acid của quá trình chuyển vị sản xuất biodiesel có thể cạnh tranh với
quá trình xúc tác bazo sử dụng dầu nguyên, đặc biệt khi sử dung nguồn nguyên liệu
chi phí thấp. Axit sulfuric, axit clohydric, axit sulfonic thường được ưa chuộng làm
chất xúc tác acid. Xúc tác acid của phản ứng chuyển vị bắt đầu bằng cách trộn lẫn
dầu với rượu, với rượu phản ứng như dung môi và chất phản ứng este hóa. Do đó,
chất xúc tác acid đòi hỏi phải có nồng độ cao và tỉ lệ cao để giảm thời gian phản
o
C đến hơn 200
o
C để đạt được hiệu suất 95% (sử dụng
xúc tác MgO, CaO và TiO
2
).
Một cuộc khảo sát đã thực hiện việc đánh giá so sánh về khía cạnh chi phí và
môi trường của quá trình chuyển vị este hóa sử dụng xúc tác đồng thể và xúc tác dị
thể trong các nhà máy sản xuất biodiesel có thấy lợi ích của việc sử dụng xúc tác dị
thể về sản lượng biodiesel và độ tinh khiết của glycerin cũng như chi phí thấp hơn
10
của chất xúc tác và việc bảo trì. Kết quả khảo sát cho thấy khi sử dụng xúc tác dị thể
thì có thể giảm được 58USD cho mỗi tấn biodiesel.
Về khía cạnh môi trường thì việc sử dụng xúc tác dị thể sẽ làm giảm nguy cơ
liên quan đến việc tràn hay rò rỉ hóa chất độc hại và dễ cháy, tiết kiệm năng lượng
và tránh được việc lãng phí ở các bước lọc rữa biodiesel và glycerin.
Xúc tác dị thể rắn bazo:
Hầu hết các xúc tác dị thể rắn thường là bazo, oxit bazo. Xúc tác bazo rắn thì
phản ứng tốt hơn so với xúc tác acid rắn. Các chất xúc tác bazo rắn phổ biến là
zeolit cơ bản, oxit kim loại kiềm thổ, hiđrotanxit. Bazo rắn có thể sử dụng trong quá
trình chuyển vị este hóa sử dụng xúc tác dị thể bởi chi phí hợp lí cho quá trình sản
xuất biodiesel. Bằng việc sử dụng xúc tác dị thể thì có thể dễ dàng tách chất xúc tác
ra khỏi sản phẩm của phản ứng chuyển vị. Chất xúc tác bazo rắn có thể phản ứng ở
nhiệt độ xung quanh điểm sôi của methanol trong phản ứng chuyển vị. Tương tự
như xúc tác đồng thể, xúc tác bazo rắn phản ứng tốt hơn so với xúc tác acid rắn. Các
oxit kim loại, đặc biệt là CaO và MgO có giá rẻ và có sẵn, do đó sẽ là chất xúc tác
mong muốn cho ngành công nghiệp sản xuất biodiesel. CaO và MgO là những vật
liệu rẻ tiền tuy nhiên phải loại bỏ các ion kim loại khỏi biodiesel dẫn đến lợi thể của
việc sử dụng xúc tác dị thể sẽ bị mất. CaO được sử dụng rộng rãi như một chất xúc
chuyển vị sử dụng xúc tác hóa học không có khó khăn trong việc loại bỏ sản phẩm,
đòi hỏi điều kiện quá trình vừa phải (nhiệt độ, 35-45
0
C), có thể tái chế chất xúc tác.
Phản ứng enzyme có thể sử dụng tốt trong quá trình chuyển vị sử dụng dầu ăn bởi
vì phản ứng enzyme nhạy cảm với axit béo tự do và hàm lượng nước trong nguyên
liệu.
Chất xúc tác sinh học như enzym phản ứng với triglycerides trong FFA. Ở
điều kiện thiếu nước, phản ứng thủy phân là đảo ngược, nghĩa là liên kết este được
tổng hợp hơn thủy phân. Các nhà khoa học quan tâm đến sự phát triển của enzym
các ứng dụng cho các phản ứng interesterification dầu thực vật cho việc sản xuất
biodiesel. Những lợi thế này chứng minh rằng sản xuất biodiesel sử dụng xúc tác
sinh học có tiềm năng lớn để trở thành một quá trình thân thiện với môi trường và
thay thế đầy hứa hẹn cho các quá trình hóa học. Tuy nhiên nó vẫn có những nhược
điểm để phát triển ở quy mô công nghiệp như chi phí cao của enzym, làm chậm tốc
12
độ phản ứng và khử hoạt tính enzym. Nếu chi phí dành cho chất xúc tác enzym
giảm xuống công nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học sử dụng phương pháp enzyme
này sẽ sớm có một tương lai tươi sáng. Nói chung, có hai cách để giảm chi phí dành
cho enzyme. Một là để giảm chi phí sản xuất của enzyme, có thể được thực hiện
thông qua phát triển các enzyme mới quá trình lên men, tối ưu hóa. Một cách khác
là cải thiện hoặc mở rộng khả năng hoạt động của enzyme và điều này có thể đạt
được thông qua cố định enzym, phản ứng alcohol phân và tối ưu hóa.
1.1.5.3. Sản xuất biodiesel không sử dụng xúc tác:
Trong phản ứng chuyển vị este hóa sử dụng xúc tác trong sản xuất biodiesel
thì có thêm một số giai đoạn như àm sạch của este, tách và thu hồi các chất không
phản ứng và chất xúc tác. Quá trình sản xuất biodiesel thông qua hệ thống phản ứng
chuyển vị phức tạp, đó một lý do để nghiêm cứu việc sản xuất biodiesel từ
triglyceride thông qua các phản ứng không sử dụng xúc tác. Bên cạnh phương pháp
sử dụng xúc tác, có 2 phương pháp không sử dụng xúc tác. Đó là phương pháp rượu
phi sản xuất do sử dụng các loại nguyên liệu rẻ tiền.
Phƣơng pháp chuyển vị ester hóa đồng dung môi BIOX:
Do tính hòa tan thấp của methanol trong dầu, nên tốc độ chuyển đổi dầu thành
este diễn ra chậm. Một phương pháp khác để khắc phục vấn đề trên là việc sử dụng
dung môi để hòa tan trong cả methanol và dầu. kết quả là phản ứng diễn ra nhanh
chóng, không có lượng dư chất xúc tác tồn tại trong sản phẩm.
Một dung môi thích hợp đó là tetrahydrofuran,vì nó có một điểm sôi rất gần
với methanol. Phương pháp BIOX ( đồng dung môi) là một phương pháp mới của
Canada phát triển ban đầu bởi Giáo sư David Boocock của Đại học Toronto đã thu
hút nhiều sự chú ý.
Trong phương pháp BIOX, cả triglycerid và acid béo tự do được chuyển đổi
trong hai giai đoạn, một pha , quá trình diễn ra liên tục ở áp suất khí quyển và nhiệt
độ phòng. Dung môi được lựa chọn để khắc phục việc tốc độ phản ứng chậm gây ra
bởi khả năng hòa tan rất thấp của rượu và triglyceride.
Tetrahydrofuran (THF) được sử dụng như là một đồng dung môi và methanol
để trộn thành một pha. Sau khi hoàn thành phản ứng, giai đoạn tách biodiesel –
glycerol, thu hồi tetrahydrofuran có thể diễn ra ở một bước duy nhất.
Tuy nhiên, việc sử dụng đồng dung môi như Tetrahydrofuran hoặc methyl
tertiary butyl ether cũng làm đẩy nhanh tốc độ methanol phân, cũng giống như quá
trình butanol phân, quá trình methanol phân lúc đầu cũng đẩy nhanh quá trình hình
thành este, nhưng sau đó lại làm chậm đáng kể.