LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển biến
mạnh mẽ và đạt được những thành tựu đáng kể, về cơ bản chúng ta đã thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng, lạm phát được kiềm chế, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở
mức cao và ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Để tránh nguy cơ
tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà
nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, với chiến lược CNH - HĐH đất nước,
nhằm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển vào những năm 2020,
với thu nhập bình quân đầu người 5000 USD/năm.
Điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu đó là chúng ta cần một lượng
vốn rất lớn. Do đó, hoạt động huy động vốn đang từng ngày, từng giờ diễn ra sôi
động khẩn trương và được coi là vấn đề sống còn trong chiến lược phát triển
kinh tế quốc gia. Chúng ta có thể huy động vốn trong nước và nước ngoài, nhưng
xét về mặt chiến lược thì nguồn vốn cơ bản và quyết định vẫn là vốn trong nước.
Trong các kênh huy động vốn, huy động vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất quan
trọng.
Như vậy, vấn đề trọng tâm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập là phải tạo lập được một hệ thống ngân hàng đủ
mạnh cả về năng lực hoạch định và thực thi chính sách, năng lực quản lý điều
hành kinh doanh với trình độ công nghệ và kỹ thuật hiện đại để thích ứng với cơ
chế thị trường, trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế
của đất nước và sớm hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế.
1
Muốn vậy, ngành Ngân hàng cần tiến hành đổi mới và nâng cao tất cả các
mặt nghiệp vụ của mình, đặc biệt là việc thu hút nguồn vốn trong các tầng lớp
dân cư và các tổ chức, doanh nghiệp bởi vốn là điều kiện tiên quyết cho mọi
nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Trong các kênh huy động vốn ở Việt Nam,
thì vốn huy động qua ngân hàng giữ vai trò quan trọng nhất. Do vậy, để huy
động vốn đạt hiệu quả và có tính bền vững cao là mối quan tâm hàng đầu của
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
ĐT&PT chi nhánh Bắc Ninh.
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
ĐT&PT chi nhánh Bắc Ninh.
3
CHƯƠNG 1
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt
động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. NHTM được coi như là một định chế
tài chính cơ bản trong đời sống kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển, thì hoạt
động dịch vụ của ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng ngõ ngách của nền kinh tế
và đời sống con người, mọi người đều chịu tác động từ các hoạt động của ngân
hàng, dù họ là khách hàng gửi tiền, vay tiền hay đơn giản là người đang làm việc
cho một tổ chức có sử dụng các dịch vụ Ngân hàng.
Để đưa ra một khái niệm chính xác và tổng quát về NHTM, người ta thường
phải dựa vào tính chất, mục đích hoạt động và các loại hình dịch vụ của nó trên
thị trường tài chính. Trong khi đó các yếu tố này thay đổi không ngừng nên định
nghĩa về ngân hàng thường dựa trên các hoạt động chủ yếu. Có thể nói một cách
khái quát :“ Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính cung cấp một
danh mục tài chính đa dạng nhất trong đóốhạt động thường xuyên và chủ yếu là
nhận tiền gửi, cho vay, và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Là trung gian tín dụng: Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu
đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Chính vì thế việc nghiên cứu quản lý và nâng
cao hiệu quả hoạt động tín dụng là rất cần thiết.
4
1.1.2.2. Là trung gian thanh toán: Trung gian thanh toán cũng là một
tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.3.3. NHTM là cầu nối quốc gia với nền tài chính thế giới
Ngày nay, trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
với việc hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế xuyên quốc gia, các khu vực
mậu dịch tự do làm cho các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở
rộng, nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng
được mở rộng và trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Hơn nữa, việc phát triển kinh
tế của mỗi nước lại luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là
một bộ phận cấu thành nên sự phát triển. Do vậy, để đảm bảo cho sự phát triển
hài hoà thì nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà chung với nền tài chính
quốc tế.
1.1.4. Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM:
NHTM hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ tài sản nợ
(nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và nghiệp
vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ,
Các nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát
triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ nay
6
đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể
thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2. Vai trò của việc huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của
NHTM.
Khi nói đến thuật ngữ “trung gian tài chính” ta thường hay nghĩ tới hai
loại hình tổ chức cơ bản đó là: các tổ chức nhận tiền gửi (bao gồm các ngân hàng
thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) và các trung gian đầu tư (bao gồm
các Công ty tài chính, các Công ty bảo hiểm ). Nhưng cho dù có được hiểu thế
nào đi chăng nữa thì ngân hàng thương mại, xét về khối lượng tài sản cũng như
những đóng góp đối với nền kinh tế, vẫn luôn giữ vai trò quan trọng hàng đầu.
Các ngân hàng thương mại luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lên hàng đầu và
để làm được điều đó, công cụ cơ bản đầu tiên phải có là vốn kinh doanh. Các nhà
mục đầu tư và cho vay lớn, đa dạng và có phạm vi rộng hơn nhiều so với những
ngân hàng có quy mô vốn nhỏ. Thât vậy, trong khi các NHTM lớn có thể cho
vay tại thị trường trong nước, thậm chí là cả thị trường quốc tế thì các NHTM
nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, thường là thị trường khu vực, thị trường
địa phương. Hơn nữa, do lượng vốn hạn hẹp nên các NHTM nhỏ sẽ không phản
ứng nhanh nhạy trước tình huống biến động về lãi suất thị trường, từ đó tác động
8
đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh
tế. Vì vậy, khi khả năng vốn của NHTM dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ mở
rộng và đáp ứng nhu cầu vay vốn, có điều kiện để mở rộng thị trường tín dụng,
tăng đều khả năng thanh toán và dịch vụ ngân hàng.
1.2.2. Các hình thức huy động vốn của NHTM.
1.2.2.1. Huy động tiền gửi:
** Huy động tiền gửi không kỳ hạn:
Tiền gửi không kỳ hạn là hình thức gửi tiền mà người gửi có thể rút ra sử
dụng bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi bao gồm:
- Tiền gửi thanh toán: đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết
được sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hoá dịch vụ
và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an
toàn và thuận lợi. Tiền gửi thanh toán thường được quản lý tại ngân hàng trên tài
khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai.
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: là khoản tiền được ký gửi với mục đích
bảo quản an toàn tài sản. Khi cần khách hàng có thể đến rút ra để chi tiêu và chỉ
được phép sử dụng tồn khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả. Ở
Việt Nam tiền gửi loại này được thể hiện dưới các hình thức như: Tiền gửi
không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân. Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền
mặt còn thấp, để khuyến khích thanh toán qua ngân hàng, các NHTM Việt Nam
trả lãi cho loại tiền gửi này như tiền gửi không kỳ hạn khác.
9
tháng đến dưới 1 năm. Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút ra khi đến hạn.
Song để tăng tính cạnh tranh các ngân hàng thương mại vẫn cho phép khách
hàng rút trước thời hạn (với những quy định cụ thể).
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài: Rất phổ biến ở một số nước công
nghiệp phát triển. Tiền gửi tiết kiệm dài hạn chỉ được phép rút ra khi đến han.
Nó tạo lên nguồn vốn có tính ổn định cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn của
ngân hàng thương mại
1.2.2.2. Phát hành các công cụ nợ.
Các NHTM có thể phát hành các công cụ nợ (nếu đủ điều kiện theo quy
định) như: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng để
huy động vốn trong một thời gian nhất định.
Chứng chỉ tiền gửi là những giấy xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân
hàng hay một định chế tài chính khác. Người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán
tiền lãi theo kỳ và nhận đủ tiền vốn khi hết hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành
được lưu thông trên thị trường tiền tệ. Các ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền
gửi chủ yếu cho mục đích thanh khoản. Các chứng chỉ này thường không thuộc
loại trái phiếu chiết khấu, lãi suất của chúng thường cao hơn lãi suất của tín
phiếu kho bạc và mức độ rủi ro của nó cũng thấp.
11
Kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng là những công cụ nợ để ngân hàng huy
động vốn, chủ yếu là những khoản vốn trung, dài hạn (trên một năm).
Kỳ phiếu ngân hàng có mục đích: Khi các NHTM cần nguồn vốn lớn để
tài trợ cho các dự án có quy mô lớn, nhằm phát triển kinh tế địa phương hoặc
liên doanh với các tổ chức kinh tế mà nguồn vốn tự có của ngân hàng chưa đáp
ứng được, NHTM trình Ngân hàng Nhà nước xin phép phát hành kỳ phiếu để tạo
nguồn vốn đầu tư cho mục đích đó.
Trái phiếu ngân hàng: Thực chất là giấy nhận nợ có kỳ hạn của ngân hàng
đối với những người mua trái phiếu. Lãi suất của trái phiếu thường cao hơn lãi
suất của tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu…
Ở nước ta hiện nay các hình thức huy động qua phát hành công cụ nợ còn
như: dịch vụ câu lạc bộ hoặc đứng ra làm đại lý phát hành chứng khoán cho
các công ty, làm trung gian thanh toán, làm đại lý bảo hiểm, làm đại lý uỷ thác
đầu tư,
13
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của Ngân
hàng thương mại.
1.2.3.1. Các nhân tố khách quan.
** Tâm lý tập quán của dân cư
Nước ta là nước chậm phát triển, đông dân cư và có thói quen ưa sử dụng
tiền mặt, giữ tiền tại nhà hoặc mua ngoại tệ, vàng bạc, đá quý tích luỹ. Do vậy
nhân tố tập quán tiêu dùng, tích luỹ của dân cư ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy
động vốn của ngân hàng.
**. Thu nhập của dân cư
Muốn có tiền gửi vào ngân hàng, trước tiên người gửi tiền phải có thu
nhập, mức thu nhập này phải đủ lớn để người dân tích luỹ các khoản dư thừa gửi
vào ngân hàng. Như vậy, mức thu nhập của dân cư, của các tổ chức càng cao, thì
tiền gửi vào ngân hàng càng nhiều.
**. Mức ổn định của nền kinh tế
Khi nền kinh tế phát triển và ổn định, thì trình độ dân trí của người dân
được nâng lên, việc găm giữ tiền trong dân cư giảm xuống, mọi hoạt động giao
dịch chủ yếu của khách hàng đều thông qua ngân hàng. Đây là yếu tố làm cho
nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng lên.
**. Lạm phát
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của ngân hàng.
Người dân hay tổ chức gửi tiền vào ngân hàng hy vọng sẽ thu được khoản tiền
lãi nhất định, lạm phát cao hoặc biến động mạnh có thể làm trượt giá đồng tiền,
14
họ sẽ chuyển các tài khoản của họ dưới dạng tiền gửi thành các hình thái gía trị
khác có gía trị và tính ổn định cao hơn.
1.2.3.2. Các nhân tố chủ quan.
và sinh lời.
* Vị thế, uy tín của ngân hàng
Khách hàng thường tin tưởng vào một ngân hàng hoạt động lâu năm hơn
một ngân hàng mới thành lập. Mặc dù không phải tất cả các ngân hàng có thâm
niên hoạt động lâu hơn, thì đều tốt hơn, mà vì ngân hàng nào hoạt động lâu năm,
thì khách hàng có thể hiểu rõ về ngân hàng đó để gửi tiền như: uy tín, thế lực
trên thị trường, có nguồn vốn, khả năng thanh toán chi trả
* Công nghệ, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ
Khách hàng luôn muốn giao dịch kinh doanh với các ngân hàng có trụ sở
kiên cố và bề thế, có công nghệ hiện đại, có đội ngũ cán bộ công nhân viên nhiệt
tình, có trình độ chuyên môn cao. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải đầu tư
hiện đại hoá công nghệ, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thường xuyên đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên.
16
1.3. Đánh giá chất lượng huy động vốn của NHTM.
1.3.1. Khối lượng vốn, mức tăng trưởng và tính bền vững.
Vốn huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng ổn định về số
lượng để thoả mãn nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh
doanh khác ngày càng tăng của ngân hàng. Nếu ngân hàng huy động được một
lượng vốn lớn, nhưng lại không ổn định, thường xuyên có những dòng tiền
lớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư, cho vay sẽ không lớn, hiệu quả
huy động vốn không cao, thường xuyên phải đối đầu với vấn đề thanh khoản.
Chỉ tiêu này được đánh giá qua: mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động
và số lượng vốn huy động có kỳ hạn.
1.3.2. Chi phí huy động vốn
Quản lý chi phí vốn là hoạt động thường xuyên và quan trọng của mỗi
ngân hàng, vì mỗi sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn haylãi suất đều có thể làm
thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập ròng của ngân hàng.
1. Tỷ trọng các khoản mục chi phí (1)
Vốn huy động
x 100(%)
Vốn tự có
18
1.3.4. Đảm bảo an toàn vốn huy động
Ngày nay, các NHTM không còn hoạt động bó hẹp trong phạm vi một
vùng, một lĩnh vực nào đó mà luôn cố gắng mở rộng mạng lưới hoạt động kinh
doanh của mình thông qua việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện trong và ngoài
nước.
Như vậy, để đảm bảo an toàn nguồn vốn, trước hết là nằm ở bản thân việc
quản lý điều hành của chính ngân hàng đó bằng việc chấp hành đầy đủ những chỉ
tiêu về an toàn vốn như: hệ số an toàn vốn tự có so với tổng tiền gửi
Hệ số an
toàn vốn
=
Vốn tự có
> 8(%)
Tổng tài sản có rủi ro
chuyển đổi
Việc có áp dụng triệt để những chỉ tiêu trên hay không là còn phụ thuộc
vào quy định của Ngân hàng Nhà nước, vào chiến lược kinh doanh, vào đặc
điểm của từng NHTM trong những điều kiện cụ thể nhất định.
1.4. Mối quan hệ giữa công tác huy động vốn và sử dụng vốn
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tập trung huy động từ
các tổ chức kinh tế, các cơ quan và các cá nhân trong xã hội.
Vốn huy động không thuộc quyền sở hữu của ngân hàng nhưng ngân hàng
có quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Nó chiếm tỉ trọng lớn
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng ( trên dưới 70%), nguồn vốn này luôn biến
động do vậy các ngân hàng phải đảm bảo dự trữ với mức độ thích hợp để đảm
bảo khả năng thanh toán.
ban lãnh đạo Ngân hàng, Ngân hàng đã từng bước thay đổi. Đến nay Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh không ngừng lớn mạnh cả về quy mô cơ
cấu và cơ sở vật chất kỹ thuật, có trụ sở làm việc khang trang rất thuận tiện cho
khách hàng mõi khi đến giao dịch. Các phòng ban được đầu tư trang thiết bị
công nghệ hiện đại, với lực lượng cán bộ công nhân viên chức được bố trí làm
việc ở các nơi như: Hội sở chính thành phố Bắc Ninh và các Chi nhánh giao dịch
như: Phòng giao dịch Khu công nghiệp Từ Sơn, Phòng giao dịch Tiên Du, Quế
Võ, Yên phong, Thuận Thành.
Với phương châm “Hiệu quả kinh doanh của bạn hàng là mục tiêu hoạt
động của Ngân hàng” , chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Bắc
Ninh đã đa dạng hoá trong tất cả mọi hoạt động của Ngân hàng như: ứng dụng
21
công nghệ Ngân hàng hiện đại để tiết giảm chi phí, phong cách phục vụ khách
hàng nhiệt tình chu đáo với mục tiêu vì sự phát triển của Ngân hàng cho lợi ích
phát triển kinh tế xã hội, thực thi chính sách tiền tệ Quốc gia. Quán triệt các mục
tiêu đề ra Ngân hàng Đầu tư và phát triển Bắc Ninh luôn luôn chủ động hướng
phát triển kinh doanh của mình và ngày càng chiếm ưu thế quan trọng trong nền
kinh tế thị trường.
Cơ cấu và mô hình tổ chức Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc
Ninh.
Trong công tác tổ chức tính đến 31/12/2012 Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Bắc Ninh có tổng số 210 cán bộ công nhân viên chức.
Bộ máy tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Bắc Ninh:22
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng
hành
chính
quản
lý rủi
ro
Phòng
kế
toán
Phòng
giao
dịch
khách
hàng cá
nhân
5 phòng giao dịch và 4 quỹ tiết kiệm
Ngoài hội sở chính Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh còn
có các chi nhánh và phòng giao dịch trực thuộc như:
- Phòng giao dịch khu công nghiệp Tiên Sơn.
- Phòng giao dịch khu công nghiệp Quế Võ.
- Phòng giao dịch Gia Bình
- Phòng giao dịch khu công nghiệp Yên Phong
- Phòng giao dịch Thuận Thành.
* Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc
Ninh:
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh có chức năng
thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng trong phạm vi chức năng được Ngân hàng
Đầu tư và phát triển Việt Nam uỷ quyền hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Áp dụng các thể thức thích hợp để
huy động vốn bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ nhàn dỗi của mọi tầng lớp dân cư
để cho vay ngắn hạn và dài hạn với các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh
và làm dịch vụ, tập trung vốn lớn để phục vụ các doanh nghiệp đổi mới trang
thiết bị, phát triển sản xuất kinh tế trên địa bàn. Ngoài ra Giám đốc là người quản
trưởng phòng tín dụng gửi phòng tín dụng chi nhánh tập hợp báo cáo lãnh đạo.
- Thẩm định các đề xuất về hạn mức tín dụng và giới hạn cho vay đối với
từng khách hàng và thẩm định đánh giá tài sản đảm bảo nợ vay.
- Thư ký Hội đồng tín dụng, Hội đồng xử lý rủi ro…….của chi nhánh,
đồng thời giám sát chất lượng khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng khách hàng
vay và đánh giá pháp luật, xếp hạng khách hàng doanh nghiệp.
- Quản lý, kiểm soát hạn mức tín dụng cho từng khách hàng và của cán
bộ của chi nhánh và kiểm soát, giám sát các khoản vượt hạn mức, việc trả nợ, giá
trị các tài sản đảm bảo và các khoản vay đã đến hạn, hết hạn.
- Theo dõi, tổng hợp hoạt động tín dụng tại chi nhánh và phân tích hoạt
động các ngành kinh tế, cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động tín dụng.
- Quản lý danh mục tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng, đaauf mối trực tiếp
quản lý và báo cáo tham mưu xử lý nợ xấu.
- Giám sát sự tuân thủ các quy định của ngân hàng nhà nước, quy định và
chính sách của NHĐT & PT Việt Nam về tín dụng và các quy định, chính sách
liên quan đến tín dụng ở các phòng tín dụng.
2.2.3. Phòng Kế Toán
- Thực hiện công tác kế toán, tài chính cho toàn bộ hoạt động của chi
nhánh.
- Tổ chức, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra công tác hạch toán kế toán và
chế độ báo cáo kế toán của các phòng và các đơn vị trực thuộc.
25