nâng giá tiền tệ và bình luận về sự kiện nâng giá đồng nhân dân tệ của trung quốc giai đoạn 2006- 2011 - Pdf 23

GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trung Quốc, được coi là "công xưởng" của thế giới với ngành chế tạo có quy mô
khổng lồ, đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới những năm gần
đây. Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc được định giá thấp đã hỗ trợ rất lớn cho xuất khẩu
hàng hóa của Trung Quốc trong một thời gian dài.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều nước đặc biệt là Mỹ và nhiều quốc gia khác có
quan hệ thương mại với Trung Quốc cho rằng đồng Nhân Dân Tệ đang bị định giá thấp so với
giá trị thực tế của nó, gây ra nhiều bất lợi cho thương mại toàn cầu. Do vậy, Trung Quốc cần
có những chính sách nâng giá đồng Nhân dân tệ, đảm bảo công bằng cho giao dịch thương
mại quốc tế.
Chính vì vậy, nhóm học viên đã chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng giá tiền tệ và bình
luận về sự kiện nâng giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc giai đoạn 2006- 2011”.
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 2
I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NÂNG GIÁ TIỀN TỆ
1. 1. Định nghĩa
• Nâng giá tiền tệ là việc nâng sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, cao hơn
sức mua thực tế của nó (PGS.TS Đinh Xuân Trình,2002, trang 32)
•Nâng giá tiền tệ (revaluation) là hành động NHTW điều chỉnh tỷ giá trung tâm giảm
xuống, làm nội tệ lên giá (GS.TS Nguyễn Văn Tiến, 2010, trang 315)
Ví dụ:
Giả sử NHTW thiết lập: 1 USD = 20 500 VND, NHTW tiến hành nâng giá tiền tệ :
1USD = 18 000 VND
Khi đó, Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam đã giảm:
VND nâng giá lên (20 500 – 18 000)/18000 = 13, 51%
USD giảm giá (18 000 – 20 500)/20 500 = - 12, 2%
Giá của VND đã tăng từ
1 VND = 4, 88 .10 -5 USD
lên 1 VND = 5, 56 . 10-5 USD
Tháng 10/1969, Mác Đức nâng giá lên 9,29%, tức là ở Đức tỷ giá hối đoái 1USD = 4

thấy nền kinh tế của Trung Quốc phát triển rất nhanh, Trung Quốc được biết đến như là một “
công xưởng của thế giới”, hàng hóa từ Trung Quốc xuất khẩu tràn ngập thị trường nước ngoài
với ưu thế là giá rẻ. Một trong những nguyên nhân tạo ra lợi thế so sánh đó cho Trung Quốc
là do Nhà nước của Trung Quốc duy trì đồng Nhân dân tệ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, thu
ngoại tệ. Mà theo như một số nước đánh giá là Trung Quốc duy trì chế độ tỉ giá cố định
“bẩn”, đi ngược lại quy luật chung của thương mại toàn cầu. Điều này tạo ra sự đe dọa lớn đối
với các ngành sản xuất của các nền kinh tế khác, đặc biệt là Mỹ, thị trường tiêu thụ sản phẩm
của Trung Quốc lớn nhất thế giới. Dưới sức ép từ Mỹ và các nước khác trên thế giới, Trung
Quốc đã phải đồng ý thi hành chính sách nâng giá đồng Nhân dân tệ.
1.2.2. Hạ nhiệt nền kinh tế phát triển nóng
“Tăng trưởng nóng” là tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh, tăng trưởng tương đối
cao so với tình trạng kinh tế của nước đó (tốc độ tăng trưởng thường trên 2 con số). Hay nói
cách khác, “tăng trưởng nóng” là hiện tượng nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc, vượt mức sản
lượng tiềm năng. Tại mức sản lượng tiềm năng các tiềm lực kinh tế được sử dụng một cách
hiệu quả nhất, tỷ lệ lạm phát vừa phải, thất nghiệp thấp nhất, tức là vẫn còn một tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên cho phép để ổn định nền kinh tế. Tăng trưởng nóng tạo nên một số chỉ tiêu
vượt bậc về kinh tế từ đó gây ra một số hệ quả không tốt cho nền kinh tế Biểu hiện của một
nền kinh tế “tăng trưởng nóng” là lạm phát tăng cao, giá chứng khoán tăng, đầu tư trong nước
tăng đột biến và nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng. Một nền kinh tế tăng trưởng nóng sẽ nhanh
chóng rơi vào tình trạng suy thoái sau cơn “phát nhiệt”, đặc biệt khi có những cú sốc ngoại
lai, nếu không có những biện pháp ngăn chặn kịp thời để làm nguội dần nền kinh tế trước khi
đưa nó về trạng thái phát triển cân bằng và ổn định. Khi một quốc gia đang tăng trưởng nóng,
một trong những biện pháp hữu hiệu là có biện pháp giảm xuất khẩu hàng hóa, đồng thời cần
phải khuyến khích nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại, bên cạnh đó cần phải hạn chế đầu tư
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 4
vào trong nước. Đó chính là lúc nhà nước đưa ra chính sách nâng giá tiền tệ. Để thực hiện
được những mục tiêu“giảm nhiệt” cho nền kinh tế. Tuy nhiên, tùy vào trình độ phát triển và
tình hình thực tế mà mỗi quốc gia cần phải biết cách lựa chọn thời điểm để tiến hành nâng giá
tiền tệ sao cho phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình.

Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 5
lên, lưu thông hàng hoá và dịch vụ được mở rộng, từ đó tác động tích cực tới thu ngân sách
nhà nước và khuyến khích sản xuất.
- Nâng giá tiền tệ cũng sẽ khuyến khích dòng vốn từ trong nước chảy ra nước ngoài
với các mục đích như đầu tư, chuyển kiều hối…
- Hơn nữa, nâng giá tiền tệ về bản chất là mang tính quốc tế, cho nên nó có ảnh hưởng
đến quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ kinh tế.
1.3.2. Mặt tiêu cực
Bên cạnh những mặt tích cực có thể thấy rõ khi một quốc gia áp dụng chính sách nâng
giá đồng nội tệ, thì khi ngân hàng trung ương nâng giá, ấn định tỷ giá thấp hơn tỷ giá cân
bằng sẽ làm phát sinh những hậu quả như sau:
- Do tỷ giá giao dịch thấp hơn tỷ giá cân bằng (tỷ giá thị trường) nên sẽ khuyến khích
nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài, ảnh hưởng đến sản xuất
trong nước. Hạn chế thu hút vốn đầu tư, kiều hối, du lịch vào trong nước.
- Do tỷ giá luôn chịu sức ép tăng một chiều khiến cho những nhà đầu cơ vào cuộc. Họ
sẽ nắm giữ ngoại tệ, chờ thời cơ tỷ giá tăng để bán ra kiếm lời. Điều này sẽ khiến cho thị
trường ngoại hối càng trở nên căng thẳng, khó quản lý và tạo ra sức ép mạnh hơn lên phá giá
nội tệ.
- Tỷ giá thấp dẫn đến việc doanh số mua bán ngoại tệ giảm phần nào đã kìm hãm phát
triển giao dịch thương mại quốc tế, gây ra nhiều ảnh hưởng không tốt đến việc phân bố các
nguồn lực trong xã hội.
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 6
II. SỰ KIỆN NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ CỦA TRUNG QUỐC GIAI
ĐOẠN 2006- 2011
2.1. Sức ép nâng giá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc
2.1.1. Sức ép từ phía Mỹ
Trong những năm gần đây nền kinh tế Trung Quốc phát triển rất nhanh, hàng hóa xuất
khẩu Trung Quốc tràn ngập trên thị trường quốc tế với ưu thế giá rẻ. Điều này khiến cho sức

Dương mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy,Mỹ gây sức ép buộc đồng nhân dân tệ tăng
giá kết hợp với một loạt chính sách ngoại giao khác để tăng cường ảnh hưởng đến khu vực
Đông Nam Á, kiềm chế Trung Quốc. Nước Mỹ muốn đẩy mạnh việc xây dựng một khu vực
tự do mậu dịch khu vực Thái Binh Dương để cạnh tranh, ảnh hưởng với Hiệp dịnh mậu dịch
tự do giữa Trung Quốc và ASEAN.
Ngoài ra, Mỹ cần gia tăng sức ép để các chính khách Mỹ tranh thủ lá phiếu cử tri
tháng 11/2010 là năm nước Mỹ có kỳ bầu cử nên các nghị sĩ phải chứng tỏ rằng họ quan tâm
tới việc làm của người dân và quyền lợi doanh nghiệp. Cho nên cả hành pháp và lập pháp Mỹ
đều muốn nâng sức cạnh tranh của Mỹ và ngăn ngừa khả năng cạnh tranh của Trung Quốc
bằng hối suất thấp.
Để thực hiện ý đồ của mình từ năm 2003, nhiều đoàn đại biểu Mỹ đã sang Trung Quốc
để kêu gọi Trung Quốc thay đổi chính sách kinh tế tài chính hòng đối phó với những vấn đề
song phương giữa hai nước. Trong đó nổi bật nhất là chuyến đi của bộ trưởng ngân khố Mỹ
John Snow sang Trung Quốc vào đầu tháng 9 năm 2003 nhằm đòi hỏi nước này phải thả nổi
tỷ giá đồng nhân dân tệ.
Ngày 30/3/2010 Chính phủ Mỹ thông báo sẽ tăng thuế đánh vào các mặt hàng giấy
nhập khẩu từ Trung Quốc từ 10,9% tới 20,4% với lý do trừng phạt các biện pháp trợ cấp của
Bắc Kinh dành cho các công ty trong nước.
Ngày 28/9/2010 Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật gây sức ép buộc Trung Quốc nâng
giá đồng nhân dân tệ. Dự luật sẽ tạo điều kiện cho Chính phủ Mỹ bổ sung thêm thuế quan đối
với hàng hóa nhập khẩu từ các nước bị coi là để giá đồng tiền của họ thấp hơn nhằm hỗ trợ
xuất khẩu. Mặc dù dự luật không đề cập cụ thể đến Trung Quốc nhưng sẽ tạo điều kiện cho bộ
tài chính Mỹ dễ dàng hơn trong việc quy kết Bắc Kinh lũng đoạn tiền tệ của mình và tạo điều
kiện cho các công ty Mỹ tìm kiếm các biện pháp thuế quan để trả đũa hàng hóa Trung Quốc.
2.1.2. Sức ép của châu Âu và các tổ chức quốc tế
Cũng tương tự Mỹ, các nước châu Âu cũng đang gặp phải rất nhiều vấn đề lo ngại
trước chính sách neo tỷ giá thấp hơn giá trị thật của Trung Quốc.
Xét về tỷ trọng, mức độ thâm hụt của khối này với Trung Quốc cũng chiếm tới hơn
50% tổng kim ngạch thương mại. Và đây cũng là mức độ thâm hụt thương mại khó có thể
chấp nhận được đối với EU. Gần đây các nước Tây Âu cũng bắt đầu công khai tăng áp lực

cũng như doanh nghiệp Trung Quốc. Giá nhập khẩu giảm có ý nghĩa rất lớn với Trung Quốc
vì Trung Quốc là nước phải nhập khẩu nhiều loại hàng tiêu dùng, máy móc, thiết bị cũng như
nguyên liệu. Trong tương lai điều này còn có ý nghĩa lớn hơn vì Trung Quốc chủ trương kích
cầu trong nước đặc biệt là khuyến khích các hộ gia đình đẩy mạnh tiêu dùng. Một trong
những mục tiêu chính của kế hoạch năm năm lần thứ 12 là tăng thu nhập cũng như tăng tiêu
dùng của các hộ gia đình nhanh hơn tăng trường GDP. Trong tình hình xuất khẩu như hiện
nay thì việc tăng tiêu dùng của các hộ gia đình sẽ dẫn đến thiếu hụt sản xuất điều này sẽ làm
tăng nhanh giá hàng hóa sản xuất trong nước. Như vậy có nghĩa là để kích thích tiêu dùng thì
phải giảm xuất khẩu, một trong những biện pháp được áp dụng là tăng giá trị đồng nhân dân
tệ
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 9
2.2 Quá trình nâng giá đồng CNY của Trung Quốc giai đoạn 2006-2011
Ngày 21/7/2005, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, sau gần một thập kỷ cố định tỷ
giá đồng nhân dân tệ (NDT) với đồng USD trong một khung dao động rất hẹp là 8,26 - 8,28
USD/nhân dân tệ kể từ năm 1996, đã tuyên bố khởi động cải cách cơ chế hình thành tỷ giá
đồng NDT, bắt đầu thực hiện chế độ thả nổi tỷ giá hối đoái có quản lý với việc lấy cung cầu
của thị trường làm cơ sở, tham khảo rổ tiền tệ để tiến hành điều tiết. Nâng tỷ giá hối đoái của
đồng NDT so với đồng USD một lần lên 2%, tức là 8,11 NDT đổi 1 USD, được coi là giá
trung gian trong giao dịch giữa các ngân hàng ngoại hối được chỉ định trên thị trường ngoại
hối giữa các ngân hàng. Trước sức ép từ nhiều phía Trung Quốc tính toán rằng mức nâng giá
2% đủ để xoa dịu Mỹ và các đối tác thương mại của Trung Quốc, đồng thời báo hiệu rằng
đồng NDT sẽ còn được điều chỉnh trong tương lai.
Bước vào quý 3 của năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ bắt
nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp của Mỹ đã khiến cho các nước bao gồm cả
Trung Quốc phải áp dụng biện pháp khác thường. Cơ quan giám sát quản lý tiền tệ Trung
Quốc đã áp dụng cơ chế tỷ giá hối đoái đặc biệt là đồng NDT thực sự nhắm vào đồng USD,
mức dao động bình quân trong ngày của đồng NDT từ 0,5% thu hẹp xuống còn 0,3%, đồng
NDT trong một mức độ nhất định đã giữ được sự ổn định tương đối, đóng góp quan trọng cho
tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

đầu tiên xuống dưới mức 7NDT/1USD.
Từ tháng 9/2008 từ sau khi bùng nổ khủng hoảng tài chính vòng này đến tháng
6/2010, nhằm đối phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, Trung Quốc đã áp dụng
cơ chế tỷ giá đặc biệt là đồng NDT thực sự nhắm vào đồng USD.
Ngày 19/6/2010, Ngân hàng TW Trung Quốc tuyên bố, trên cơ sở cải cách tỷ giá của
năm 2005 thúc đẩy hơn nữa cải cách cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái của đồng NDT, tăng
cường tính đàn hồi của tỷ giá hối đoái đồng NDT.
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
CNY/USD 8,1826 7,9602 7,5811 6,9253 6,8314 6,7668 6,4581
Nguồn: http://www.chinability.com
III. TÁC ĐỘNG CỦA SỰ KIỆN TRUNG QUỐC NÂNG GIÁ TIỀN TỆ
3.1 Những lợi ích đối với Trung Quốc
Trung Quốc tăng giá đồng tiền của mình một mặt vì sức ép từ bên ngoài, mặt khác
cũng vì nhiều lợi ích đối với nền kinh tế.
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 11
Thứ nhất, với chính sách nâng giá tiền tệ sẽ giảm rủi ro đối với khối tài sản dưới dạng
giấy tờ có giá của nước ngoài của Trung Quốc. Trung Quốc hiện đang giữ trái phiếu của Mỹ
và chứng từ có giá khác của nước ngoài trị giá hơn 3 nghìn tỷ USD và họ đang đứng trước hai
nguy cơ rõ rệt: lạm phát ở Mỹ, châu Âu và sự mất giá của đồng USD so với đồng EUR và các
đồng tiền khác. Lạm phát ở Mỹ hay Châu Âu làm giảm giá trị của trái phiếu dựa trên đồng
USD hay đồng EUR. Ngay cả khi lạm phát ở Mỹ không tăng nhưng đồng USD mất giá thì
cũng làm giảm giá trị khối lượng tài sản này của Trung Quốc. Để giảm rủi ro này Trung Quốc
buộc phải giảm khối lượng giấy tờ có giá của mình bằng ngoại tê.
Ngoài ra với một đồng nhân dân tệ mạnh hơn sẽ làm giảm lạm phát ở trong nước. Một
đồng nhân dân tệ mạnh sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn và có lợi cho người tiêu dùng
cũng như doanh nghiệp Trung Quốc. Giá nhập khẩu giảm có ý nghĩa rất lớn với Trung Quốc
vì Trung Quốc là nước phải nhập khẩu nhiều loại hàng tiêu dùng, máy móc, thiết bị cũng như
nguyên liệu. Trong tương lai điều này còn có ý nghĩa lớn hơn vì Trung Quốc chủ trương kích
cầu trong nước đặc biệt là khuyến khích các hộ gia đình đẩy mạnh tiêu dùng. Một trong

3.2.3. Trong lĩnh vực đầu tư
Khi đồng nhân dân tệ tiếp tục tăng giá, thì khả năng đầu tư ra nước ngoài của Trung
Quốc sẽ còn lớn hơn so với hiện nay, và Việt Nam sẽ là một trong những thị trường nằm
trong chiến lược phát triển đó của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc đầu tư ra nước ngoài của
Trung Quốc chủ yếu trong các lĩnh vực công nghệ thấp, hoặc tập trung trong lĩnh vực khai
thác tài nguyên và trong những ngành ảnh hưởng đến môi trường. Việt Nam cần quan tâm
hơn đến dòng đầu tư mới từ Trung Quốc để ngăn chặn những dự án như vậy.
Trong những năm gần đây dòng vốn đầu tư của Trung Quốc ngày càng tăng, nhưng
vẫn chỉ chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong tổng vốn FDI vào Việt Nam. Năm 2009, FDI đăng ký là
190 triệu USD, chưa bằng 15 tổng đăng ký, Năm 2011, con số này đã tăng lên đáng kể với
tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 747 triệu USD, chiếm 5.1% tổng vốn đẩu tư vào
Việt Nam. Các dòng vốn vay như ODA hoặc thương mại lại không phụ thuộc quá nhiều vào
vấn đề tỷ giá, mà các yếu tố khác. Những khoản vay ưu đãi từ Trung Quốc luôn kèm với các
điều kiện như nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, sử dụng lao động Lợi ích từ những
dòng vốn này lại tuỳ thuộc rất nhiều vào cách tiếp nhận của người đi vay.
3.2.4. Áp lực đối với lạm phát
Những lo ngại áp lực về lạm phát khi NDT tăng giá không phải là không có cơ sở khi
mà hàng tiêu dùng của Trung Quốc đang khá phổ biến ở thị trường Việt Nam. CNY tăng giá
sẽ kéo theo giá không ít mặt hàng nhập khẩu tăng theo. Tuy nhiên, liệu mức độ tăng giá có
thực sự đáng lo ngại? Nhiều mặt hàng của Trung Quốc có lợi thế về giá vượt trội so với hàng
Việt Nam. Việc điều chỉnh tỷ giá thậm chí 5% có thể sẽ không ảnh hưởng nhiều đến giá cả
các mặt hàng Trung Quốc trên thị trường. Trên thực tế, NDT đã lên giá so với VND khá mạnh
trong suốt thời gian qua, nhưng mức độ ảnh hưởng đến lạm phát không quá lớn.
KẾT LUẬN
Với vị thế ngày càng cao trong hoạt động thương mại quốc tế, việc duy trì tỷ giá cố
định của Trung Quốc trong một thời gian dài đã tạo ra lợi thế rất lớn cho quốc gia này trong
việc khuyến khích xuất khẩu của các doanh nghiệp. Việc Trung Quốc tiến hành nâng giá tiền
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 13
tệ trong giai đoạn 2006- 2011 đã phần nào làm giảm áp lực của hàng xuất khẩu giá rẻ Trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status