SO SÁNH GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ GIÁO DỤC TRUNG QUỐC
1
PHẦN A. HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRUNG QUỐC
Hơn 50 năm qua, từ ngày nước Trung Hoa mới ra đời, nền giáo dục của Trung
Quốc đó thu được những thành tựu nổi bật: phát triển không ngừng và ngày nay đang
từng bước hiện đại hóa. Trước năm 1949 có tới 80% dân số Trung Quốc mù chữ, ở
nông thôn tỷ lệ này là 95%. Đến nay, tỷ lệ mù chữ chỉ còn 16,5% tổng số dân cả nước.
Năm 1949 Trung Quốc có trên 1 triệu trường học các cấp các lọai hình khác nhau, 11
triệu 40 vạn giáo viên và trên 225 triệu người theo học. Có thể khẳng định rằng nền
giáo dục Trung Quốc là một nền giáo dục có quy mô lớn nhất thế giới.
Ngày nay, Trung Quốc sánh ngang với các nước tiên tiến trên thế giới. Sản
phẩm của Trung Quốc có mặt khắp thế giới, với giá thành thấp hơn so với sản phẩm từ
các cường quốc kĩ nghệ bên Âu châu, Mĩ hay Nhật. Nhiều người Việt, trong đó có
chúng tôi, nhìn sự phát triển của Trung Quốc một cách ngưỡng mộ, và tự hỏi làm thế
nào mà họ đã đạt được một sự phát triển ngoạn mục như thế, và tự hỏi chúng ta cũng
có thể phát triển như họ? Để trả lời câu hỏi vừa nêu chúng tôi cùng các bạn hãy làm
một phép so sánh giữa hai nền giáo dục Trung Quốc và Việt Nam.
I. SƠ LƯỢC VỀ ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC.
Vị trí địa lý: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của đông bán cầu, phía đông
nam của đại lục Á-Âu, phía đông và giữa Châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương; có
biên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía Bắc), với Kazakstan, Kirghitan, Taghikistan
(phía Tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan (phía Tây Nam), với
Myanma, Lào, Việt Nam (phía Nam), với Triều Tiên (phía Đông).
Dân số: Khoảng 1,3 tỷ người (tính đến tháng 12/2002)
Diện tích: 9,6 triệu km2
Quốc tệ: Nhân dân tệ
Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP: năm 2003 đạt 1.460 tỷ USD, tăng 9,3%, GDP
bình quân đầu người lần đầu tiên vượt 1090 USD; năm 2004 đạt 13.651,5 tỷ NDT
(1650 tỷ USD) tăng 9,5%.
Khí hậu: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm đến khô.
1.1 Giáo dục mẫu giáo:
Cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi tại các nhà trẻ.
1.2 Giáo dục tiểu học:
Cho học sinh từ 6 đến 11 tuổi. Các trường tiểu học thường do chính quyền các
địa phương điều hành và được miễn phí. Tuy nhiên, cũng có một số trường tư do các
doanh nghiệp và các cá nhân điều hành.
1.3 Giáo dục phổ thông:
Dành cho học sinh từ 12-17 tuổi. Các trường phổ thông chủ yếu do chính quyền
địa phương điều hành. Các trường phổ thông do nhà nước điều hành bao gồm trường
sơ trung và cao trung, cả hai hệ đều kéo dài 3 năm. Sinh viên không bắt buộc phải học
cao trung và phải trả khoản học phí nhỏ cho chương trình này. Các trường phổ thông
tư thường có chương trình giáo dục chuẩn và có xu hướng thiên về dạy nghề nhưng
bằng cấp của các trường này được coi là tương đương với các trường công lập. Các
sinh viên tốt nghiệp từ các trường chuyên thường có khả năng đỗ đại học cao hơn.
Sinh viên tốt nghiệp từ các trường sơ trung thường vào học tại các trường cao trung.
Tuy nhiên, có một số sinh viên chọn học tại các trường dạy nghề hoặc trường phổ
thông chuyên trong thời gian 3 đến 5 năm.
1.4 Giáo dục đại học và dạy nghề:
Đối với chương trình đại học, có các khoá học nghề cũng như các khoá học cấp
bằng đại học, sau đại học, và tiến sỹ. Sinh viên theo học cử nhân sẽ học trong vòng 4-5
năm, chương trình Thạc sỹ kéo dài 2-3 năm và tiến sỹ trong 3 năm. Giáo dục đại học
do các trường đại học, cao đẳng, các viện và các trường cao đẳng nghề đảm nhiệm.
Các cơ sở đào tạo này thực hiện các nghiên cứu khoa học và học thuật, cung cấp các
dịch vụ xã hội và các khoá học cho sinh viên. Để vào trường đại học hay cao đẳng,
các sinh viên cần thi đại học - thường diễn ra vào tháng bảy hàng năm. Việc sinh viên
đỗ đại học hay không tuỳ thuộc vào số lượng thí sinh tham dự kỳ thi đại học và điểm
của bài thi, vì vậy vào được đại học đối với sinh viên Trung Quốc cũng là sự cạnh
tranh khá lớn. Những sinh viên không đỗ đại học có thể vào các trường cao đẳng tư
nếu muốn tiếp tục việc học tập. Học tập tại các trường cao đẳng này thường đắt đỏ hơn
các trường đại học công lập. Các sinh viên không có điều kiện học đại học, cao đẳng
- Bậc trung học phổ thông: 3 năm;- Cao đẳng và đại học: 4-5 năm;- Cao học:
2-3 năm
- Tiến sỹ: 3 năm
Chính sách tuyển sinh sinh viên quốc tế của các trường đại học và học viện ở
Trung Quốc được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ 20. Trong hơn 50 qua, Trung
Quốc đã luôn chào đón và tạo điều kiện tốt nhất cho du học sinh quốc tế nhất là sinh
viên đến từ Việt Nam.
Ban đầu, du học sinh quốc tế lưu học tại Trung Quốc phải học tiếng, đạt trình
độ tương đương HSK 5-6 (Chuẩn kiểm tra Hán Ngữ quốc gia của Trung Quốc). Khi
đó đạt cấp độ 5-6 HSK tiếng Trung, cùng với văn bằng tốt nghiệp Trung học phổ
thông hay bằng Đại học của Việt Nam, lưu học sinh có thể nộp đơn xin vào học 1
chuyên ngành Đại học hay sau Đại học và sẽ được nhận vào học mà không phải thi
đầu vào
Trước khi tìm kiếm một đường lối phát triển hợp lý, các nhà lãnh đạo Trung
Quốc đó nhín nhận 5 hạn chế chính của nền giáo dục quốc gia. Thứ nhất, về cơ bản,
giáo dục lạc hậu không thích ứng được với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế thị trường, với những đòi hỏi của cải cách mở cửa và sự nghiệp xây dựng hiện đại
hoá.
4
Thứ hai, thể chế giáo dục và cơ chế vận hành không thích hợp với nhu cầu cả
cách sâu hơn nữa về kinh tế, chính trị, KHKT. Quản lý của nhà nước với giáo dục quá
cứng nhắc khiến cho nhà trường mất sức sống. Quá trình ra quyết định giáo dục vẫn
mang tính tập trung cao, được chỉ đạo từ trên xuống và các cán bộ cấp thấp hơn vẫn
phải trung thành với đường lối và chủ trương của lãnh đạo Đảng.
Thứ ba, cơ cấu giáo dục còn mất cân đối. Giáo dục phổ thông mỏng và yếu.
Không có đủ trường học, chất lượng giảng dạy cũng không cao, thiếu nghiêm trọng
giáo viên và các thiết bị dạy học cần thiết. Giáo dục kĩ thuật và nghề nghiệp không
phát triển. Có sự mất cân đối về tỷ lệ các chuyên ngành và tầng bậc trong nội bộ giáo
dục đại học. Bên cạnh đó, có sự chênh lệch đáng kể trong giáo dục giữa nông thôn và
thành thị và giữa những vùng kinh tế phát triển và vùng nghèo.
Điều 5: Giáo dục phải phục vụ công cuộc xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ
nghĩa, phải kết hợp với lãnh đạo sản xuất, bồi dưỡng lớp người xây dựng và kế tục sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển toàn diện về đức, trí, thể…
Điều 6: Nhà nước giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể, xã hội chủ
nghĩa và lý tưởng, đạo đức, kỷ luật, pháp chế quốc phòng cũng như tinh thần đoàn kết
dân tộc trong tất cả mọi người trung tiểu học.
6
Điều 7: Giáo dục phải kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử, văn hoá ưu tú
của dân tộc Trung Hoa, tiếp thu mọi thành quả ưu tú, văn minh, phát triển của nhân
loại.
Điều 8: Hoạt động giáo dục phải phù hợp lợi ích chung của Nhà nước và xã hội.
Nhà nước tách rời giáo dục với tôn giáo. Mọi tổ chức và cá nhân không được lợi
dụng tôn giáo để hoạt động gây trở ngại cho chế độ giáo dục của Nhà nước.
Điều 13: Nhà nước sẽ thưởng cho tập thể và cá nhân nào có cống hiến nổi bật
cho sự nghiệp phát triển giáo dục.
Điều 14: Quốc vụ Viện và Chính quyền các cấp thể theo nguyên tắc phân cấp
quản lý, phân cấp phụ trách để lãnh đạo và quản lý công tác giáo dục.
Giáo dục Trung học và dưới trung học do Chính quyền địa phương quản lý dưới
sự lãnh đạo của Quốc vụ Viện.
Những cơ sở giáo dục bậc đại học, do Quốc vụ viện, chính quyền tỉnh, khu tự
trị, thành phố trực thuộc quản lý.
CHƯƠNG III:TRƯỜNG HỌC VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁC
Điều 28: Trường học và cơ sở giáo dục khác có các quyền lợi sau:
1. Tự chủ quản lý theo chương trình;
2. Tổ chức thự thi mọi hoạt động dạy học;
3. Chiêu sinh hoặc nhận người đến học;
4. Quản lý danh sách học sinh, thực thi thưởng, phạt;
5. Cấp phát chứng chỉ chuyên môn tương ứng cho học sinh;
6. Mỗi giáo viên hoặc cán bộ nhân viên thực thi thưởng phạt;
7. Quản lý, sử dụng các công trình và kinh phí của đơn vị mình;
được tăng dần theo đà phát triển của kinh tế quốc dân và sự gia tăng của khoản thu
ngân sách. Tỷ lệ cụ thể và từng bước thực thi do Quốc vụ viện quy định.
Trong tổng chi ngân sách, các cấp trong cả nước, tỷ lệ kinh phí dành cho giáo
dục phải nâng dần theo sự phát triển của kinh tế quốc dân.
Điều 55: Kinh phí dành cho giáo dục của chính quyền các cấp, thể theo nguyên
tắc thống nhất giữa công việc và tài chính, sẽ được giải trình riêng trong dự toán ngân
sách.
Mức tăng tài chính mà chính quyền các cấp dành cho giáo dục phải cao hơn
mức tăng thu nhập thường xuyên của tài chính, đồng thời tăng dần theo kinh phí giáo
dục tính theo bình quân học sinh trong trường, đảm bảo tăng dần lương cho giáo viên
và kinh phí chung bình quân học sinh.
Điều 60: Nhà nước khuyến khích tổ chức xã hội và cá nhân trong và ngoài nước
quên góp, tài trợ cho trường học.
Điều 61: Kinh phí giáo dục trong ngân sách Nhà nước, tiền quyên góp của tổ
chức xã hội cá nhân phải dùng cho giáo dục, không dùng vào việc khác hay bớt xén đi.
Điều 62: Nhà nước khuyến khích dùng khoản vay, tín dụng ủng hộ sự nghiệp
giáo dục phát triển.
Điều 63: Chính quyền các cấp và ngành quản lý giáo dục khác phải tăng cường
quản lý, giám sát kinh phí giáo dục của các trường và cơ sở giáo dục, nâng cao hiệu
quả đầu tư cho giáo dục.
Điều 64: Chính quyền địa phương các cấp và ngành quản lý liên quan khác phải
đưa việc xây dựng cơ bản trường học vào quy hoạch. Xây dựng thành phố nông thôn,
lên quy hoạch tổng thể những khu đất dành để xây dựng cơ bản các trường và vật tư
cần thiết, có chính sách ưu đãi theo quy định hữu quan của Nhà nước.
Điều 65: Chính quyền các cấp có chính sách ưu tiên, ưu đãi theo quy định của
Nhà nước đối với việc xuất bản sách giáo khoa và sách báo, tư liệu dạy học, việc sản
xuất và cung ứng máy móc đồ dùng dạy học, nhập khẩu sách báo tư liệu, thiết bị giảng
dạy, đồ dùng dạy học, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu của các trường.
Điều 66: Chính quyền cấp huyện trở lên, phải phát triển dạy học trên ti vi, vệ
tinh và các phương pháp dạy học hiện đại khác, ngành quản lý hữu quan khác phải
chiến lược phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chiến lược: Khoa – Giáo – Hưng – Quốc
và gói gọn trong 16 chữ: “Giáo dục hướng tới hiện đại hóa, hướng ra thế giới, hướng
tới tương lai”.
Giáo dục bây giờ được coi là lực lượng sản xuất thứ nhất, chứ không chỉ là công cụ
của giai cấp chuyên chính.
- Cải tổ mạnh mẽ hệ thống giáp dục quốc dân theo hướng ngày càng hoàn thiện
và hiện đại.(đặc điểm chung của cả 3 nền giáo dục đã nghiên cứu)
240 triệu học sinh-sinh viên, giáo viên là 11,5 triệu.
Cải tổ theo hướng sau:
Về cơ cấu: Xác định xây dựng hệ thống cơ cấu: 6-3-3-4 có tính đến các yếu tố
lịch sử, tức là chưa chuyển đồng loạt mà vẫn còn có vùng để 5-4-3-4
Chuyển mục tiêu PC THCS lên 9 năm và mục tiêu hoàn thành vào năm 2010.
Thực hiện phân luồng giáo dục sau THCS mạnh thành 2 nhánh: lên THPT và
TH dạy nghề.
Hiện đại hóa và cải tổ nội dung chương trình đào tạo, chế độ thi cử giáo dục phổ
thông.
Phát triển mạnh hệ thống giáo dục cho người trưởng thành, từ xóa mù cho đến
đào tạo đại học. Được coi là 1 bộ phận tổ thành quan trọng trong hệ thống giáo dục
quốc dân với đa dạng các hình thức.
Chuẩn bị ban hành bộ luật giáo dục suốt đời.
2.2. Đa dạng hoá giáo dục: phương thức hiệu quả để giải bài toán công bằng xã hội
Giáo dục cho mọi người luôn là mục tiêu hướng tới của các cải cách liên quan đến
giáo dục. Bình đẳng về tiếp cận có vai trũ quan trọng trong duy trì ổn định xã hội cũng
như tăng cường đoàn kết dân tộc. Trung Quốc lại gặp phải vấn đề về chênh lệch giàu
nghèo giữa các tầng lớp dân cư và đặc biệt là giữa các vùng miền của đất nước. Do sự
9
khác biệt về kinh tế của các khu vực trực tiếp ảnh hưởng đến đầu tư giáo dục, cộng
thêm với tác dụng thu hút nguồn trí lực của các khu vực kinh tế phát triển, sự không
đồng đều về giáo dục giữa các khu vực sẽ khiến cho khoảng cách chênh lệch về giáo
dục giữa các khu vực mở rộng, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của khu vực lạc
cải cách, đó là sự chuyển dịch trọng tâm từ “giáo dục khoa cử” chuyển sang “ giáo dục
tố chất”, là sự chuyển biến từ “ giáo dục sách vở” sang “giáo dục nhân bản”; là bước
chuyển từ chỗ “mọi người đều có thể thất bại” sang “mọi người đều có thể thành
công”.
Nhận thức được tầm quan trọng của phân quyền trong giáo dục, Trung Quốc đó
tiến hành một số cải cách quan trọng liên quan đến quản lý, tài chính và chương trình.
Chương trình về Cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc năm 1993 khẳng định
rằng “hệ thống để vận hành các trường sẽ chứng kiến sự thay đổi lớn lao với sự độc
quyền của chính phủ sẽ thay đổi. Trong khi mà trọng tâm vẫn còn là những trường học
công thì bên cạnh đó các trường học được tài trợ từ cộng đồng đang dần dần được
10
khuyến khích thành lập. Giáo dục cơ bản (basic education) đạt được chủ yếu thông
qua những trường của chính phủ ở địa phương”.
Trên thực tế, về tài chính, chính quyền TW đó bắt đầu giảm sự bao cấp cho các
trường ở địa phương, các nhân viên giáo dục tại các Tỉnh thành, thị trấn, làng mạc đó
theo đuổi các nguồn khác ngoài kinh phí rót từ trung ương để tài trợ cho giáo dục cơ
bản. Các nguồn khác đến từ đóng góp từ các tổ chức công nghiệp và xã hội; quỹ được
tài trợ từ các tổ chức cộng đồng và các cá nhân; học phí từ học viên; và thu nhập từ
các xí nghiệp vận hành trường.
Sự phân quyền về tài chánh và quản lý cũng làm xuất hiện khu vực phi chính
phủ trong giáo dục đào tạo. Các loại trường trung học phi chính phủ hoặc bán công
(semi-private) đó được phép mọc lên. Trước đây, các quỹ được cung cấp bởi cộng
đồng hay tập thể và sau này thì bởi cá nhân hoặc doanh nghiệp. Sự khác biệt chính
giữa chúng với các trường của chính phủ (công lập) là sự tự trang trải, sử dụng các
nguồn tài trợ khác nhau.
Sự kiểm soát toàn bộ nội dung học tập là một trong những lĩnh vực cuối cùng
mà những người có thẩm quyền của trung ương đang muốn phân quyền. Đây là thực tế
đối với các nhà nước dân chủ tập trung như Nhật Bản, cũng như đối với các nhà nước
Leninít, tập trung như Trung quốc. Khung chương trình toàn quốc được soạn thảo
năm 1992 và được thực hiện năm 1993. Tuy nhiên, mặc cho những nỗ lực phân quyền,
- Tọa độ địa lý: 10208’ – 109027’ Đông; Vĩ tuyến: 8027’ – 23023’ Bắc nằm ở cực
Đông Nam của bán đảo Đông Dương, chiếm diện tích khoảng 329.314 km vuông.
Giáp Vịnh Thái Lan ở phía Nam, Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông ở phía Đông, giáp Trung
Quốc ở phía Bắc, Lào và Campuchia ở phía Tây.
- Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng.
Miền Trung là miền đất thấp ven biển, những cao nguyên trải dài trên dãy Trường Sơn
và miền Nam là vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long.
- Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Ở miền Nam có hai mùa: mưa và khô. Miền
Bắc có 4 mùa rõ rệt trong năm.
- Việt Nam là một nước đông dân cư, tuy diện tích đứng thứ 65 nhưng lại xếp thứ 13
về dân số trên thế giới.
- Đơn vị tiền tệ: Việt Nam đồng
II. MỤC TIÊU CỦA NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VIỆT NAM
Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ
thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực phụ vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phù
hợp với thực tiến và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở
các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.
III. HỆ THỒNG GIÁO DỤC VIỆT NAM
- Giáo dục cơ bản kéo dài 12 năm và được chia thành 3 cấp học: Tiểu học, Trung học
cơ sở và Trung học phổ thông.
- Hệ thống Giáo dục phổ thông Việt Nam hiện hành là: 5-4-3-4.
Tiểu học : 5 năm.
Trung học cơ sở: 4 năm.
Trung học phổ thông: 3 năm.
Cao đẳng, đại học: 2,5 năm đến 4 năm.
IV. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM
1/. Lấy người học làm trung tâm, ứng dụng lý luận đi đôi với thực tiễn.
Chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục của các cấp học, bậc học được quy định trong Luật giáo dục
cả về năng lực, trình độ và tâm nguyện là một sự biến đổi ghê gớm đối với hệ thống
giáo dục và xã hội. Những thay đổi này khiến cho mô hình giáo dục tinh hoa và cả xã
hội đều không thích ứng kịp. Xin lấy một ví dụ nhỏ: trong nền giáo dục cho số đông
ấy, cùng học một chương trình nhưng sinh viên trường này, học sinh tỉnh này có thể
làm thầy sinh viên trường khác, học sinh tỉnh khác, có người cần học thực chất, chất
lượng, nhưng có người chỉ cần mua một cái bằng đại học (cho oai). Đông người học
như thế đáng lẽ phải chấp nhận sự phân tầng về chất lượng mà vẫn yêu cầu ở Mù Cang
Chải phải cùng học một chương trình, SGK, phải củng cố chất lượng như ở Thủ đô thì
thực là điều quá khó đối với hệ thống giáo dục. Đó là điều cần quan tâm khi xây dựng
kế hoạch chấn hưng giáo dục nước nhà nói chung và của các vùng miền nói riêng.
Thứ hai, thị trường đang tác động đến từng ngõ ngách của giáo dục Chúng ta
cũng đã phân tích về điểm này, về những mâu thuẫn nảy sinh đối với giáo dục khi nền
kinh tế chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nhưng dường như
chưa thấy hết tầm ảnh hưởng của nó đến sự nghiệp giáo dục vì không thấy bóng dáng
của thị trường trong các hoạch định chính sách giáo dục. Xã hội đó phê phán mạnh mẽ
việc “ lấy thi để học” và chế độ khoa cử … dạy thêm học thêm… nhưng bản chất xã
hội của những việc đó là gì? Tại sao các biện pháp hành chính luôn luôn là “bắt cóc bỏ
đĩa”. Cái đó chính là mặt trái của thị trường. Tuy rằng “Thị trường là nơi mà bạn tự do
chọn lựa cái tốt nhất và cũng là nơi bạn phải đưa ra cái tốt nhất để không bị loại bỏ. Và
điều đó là quan trọng như nhau đối với giáo dục cũng như với bất kỳ khu vực dịch vụ
công nào khác (Kuzminov)” nhưng theo quan niệm giáo dục không tồn tại “trao đổi
13
giáo dục”, hoạt động giữa người dạy và người học không phải là hoạt động giáo dục
được triển khai theo nguyên tắc trao đổi tương đương của thị trường. Sự xung đột về
nguyên tắc đó khiến cho giáo dục nước ta hiện nay đang bị mặt trái của thị trường
công kích dữ dội. Nhà nước cần có sự trợ giúp cho giáo dục trong cuộc đối đầu này.
Giải pháp không chỉ là tăng lương cho giáo viên và lợi nhuận không có giới hạn. Tăng
đến lúc nào thì vừa? Cần thiết phải tổ chức lại hệ thống giáo dục theo kiểu nhà máy. Ở
đó những người có năng lực được xếp vào đúng chỗ trong dây chuyền sản xuất, những
người không thích ứng cần phải điều chuyển. Nhà trường cũng vậy, khi chuyển sang
nội dung của quản lý nhà nước chỉ trong một từ.
Sở dĩ tại sao phải rạch ròi như vậy, vì khi đổi mới giáo dục đòi hỏi phải thay đổi
nội dung và phương thức quản lý nhà nước. Chắc chắn là với các cơ sở công lập, nhà
nước sẽ không cai trị (govern) nữa mà trao quyền tự chủ, sẽ không định chế nữa (de-
regulation - một trong ba phương thức định hướng thị trường) mà giao quyền này cho
cơ sở và sẽ áp dụng phương thức “management” kiểu doanh nghiệp (chủ nghĩa quản lý
mới). Đấy là nếu như chúng ta đang cải cách hành chính theo mô hình phổ biến trên
thế giới hiện nay.
14
Như lời Hồ Chủ tịch dặn quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng trước khi bay sang
Paris “ Dĩ bất biến ứng vạn biến” để áp dụng cho giáo dục Việt Nam. Điều này có thể
hiểu là lấy mục tiêu tối thượng của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và
bồi dưỡng nhân tài cho đất nước làm cái bất biến, nội dung, chương trình, phương
thức, tổ chức hệ thống giáo dục là cái khả biến để đáp ứng với những biến động như
sấm như sét của thị trường. “ Vạn biến như lôi nhất tâm thiền định”. Không áp đặt
toàn bộ hệ thống theo một mô hình cứng nhắc, bao cấp và quan liêu mệnh lệnh để đối
lại với cái hết sức đa dạng và phong phú của thực tiễn giáo dục quốc dân trong nền
kinh tế thị trường vì thị trường không ngoan ngoãn như cấp dưới của một cơ quan
hành chính. Phải chăng đó là cái bước khởi đầu để đổi mới toàn diện và triệt để giáo
dục Việt Nam.
15
PHẦN C. SO SÁNH GIÁO DỤC VIỆT NAM – TRUNG QUỐC
TRUNG QUỐC VIỆT NAM
Mục tiêu: Đào tạo những con người mới
có đủ Đức-trí-thể-mĩ đáp ứng được những
đòi hỏi của xã hội thông tin và toàn cầu
hoá.
Cải cách giáo dục: từ 1949 - nay: 7 cuộc
cải cách -> nhằm xây dựng một nền giáo
dục mở, tạo cơ hội cho mọi người được
1956), lần 3 (năm 1980) -> nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Phổ cập giáo dục: 9 năm, trong đó 5 năm
tiểu học miễn phí.
Tài chính cho giáo dục: Năm 1995 chi
phí cho giáo dục là 2.75% chiếm 9.8%
ngân sách nhà nước. Sẽ tăng lên
3%(2000), 3.6%(2005), 5%(2010).
Phương châm giáo dục:
Phát triển con người toàn diện về mọi mặt
nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Xây dựng con người vừa “ hồng”, vừa “
chuyên”.
Phương pháp GD
Lấy người học làm trung tâm.
coi trọng lí thuyết.
Giáo dục Việt Nam có tính cạnh tranh
tương đối, chương trình học quá nặng nên
đa phần cả giáo viên và học sinh đều khó
theo kịp.
16
PHẦN D. NHỮNG HẠN CHẾ GIÁO DỤC TRUNG QUỐC - VIỆT NAM
I/. GIÁO DỤC TRUNG QUỐC
Các tổ chức học thuật trong các trường đại học cũng đang bị hành chính hóa bởi
thủ tục và mệnh lệnh hành chính. Điều này đã vô hình bóp nghẹt tính sáng tạo trong
học thuật cũng như quyền và lợi ích trong lĩnh vực học thuật của người giảng viên. Nó
đẩy người thầy, người cô, chuyên gia, học giả vào chỗ im lặng.
“Quan hệ thầy trò trên giảng đường đại học bây giờ sao nó xa vời vợi” – một giảng
viên lâu năm chia sẻ. Ngày trước điều kiện học tập và giảng dạy vô cùng thiếu thốn,
khó khăn, nhưng thầy trò quý mến, gần gũi.
ở mô thức giáo dục và những chính sách liên quan đến mục tiêu hàng đầu là phát triển
con người toàn diện. Nói khác đi, nó liên hệ đến mục tiêu phát triển những giá trị
17
chính như sự trong sáng, khả năng sáng tạo, tư duy độc lập, và ý thức tôn trọng sự
khác biệt, v.v.
Một nền giáo dục thực sự phát triển con người toàn diện không thể là một nền
giáo dục nhằm phục vụ một chế độ, một quan điểm chính trị, một tập thể lãnh đạo, một
giai cấp, một tôn giáo, v.v. Lỗi lầm quan trọng nhất trong giáo dục Việt Nam lại nằm ở
điểm này. Ở miền Bắc trước khi chiến tranh chấm dứt, và ở cả nước trong khoảng gần
20 năm tiếp theo đó, nó là một nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa, nó không chấp nhận
những mô hình xã hội khác, những tư duy khác. Bên cạnh đó nó là một nền giáo dục
mang tính giai cấp, dành đặc quyền giáo dục cho một thành phần của xã hội. Ngày
nay, tính giai cấp quả thật đã giảm đi nhiều. Riêng về các môn học như Triết học Mác-
Lê-nin, Chủ nghĩa khoa học xã hội, Lịch sử Ðảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. dù
thực tế cho thấy sự thất bại không thể chối cãi của mô hình xã hội chủ nghĩa, chúng
vẫn còn là những môn học bắt buộc và chiếm một thời lượng không nhỏ trong chương
trình học và cả trong thi cử. Dù rằng, không phải đến bây giờ mà đã hơn mười năm
trước đây, các môn học này đã được xem là những môn mà “thầy không muốn dạy, trò
không muốn học” . Sự bắt buộc này kéo theo một vấn nạn khác của giáo dục: buộc học
trò chấp nhận và sống với sự giả dối và bất công. Nhất là bất công với những triết
thuyết khác, những đóng góp trí tuệ khác trong suốt quá trình phát triển của nhân loại.
Theo Quốc Việt, “Việc đưa lịch sử đảng cộng sản, chứ không phải lịch sử quốc gia và
dân tộc thành một môn học bắt buộc là một việc không những đi ngược lại với yêu cầu
của xã hội mà còn phản lịch sử, phản dân tộc, và phản tiến bộ.”
Ngoài sự bắt buộc giảng dạy các môn chính trị và triết học nói trên, phương
pháp giáo dục của Việt Nam nói chung còn chịu ảnh hưởng nặng nề của một mô thức
giáo dục mà Ngô Tự Lập gọi là mô thức áp đặt . Công bình mà nói, mô thức áp đặt
vẫn có một vị trí quan trọng của nó trong giáo dục, nhất là giáo dục ở bậc tiểu học, và
phần nào ở trung học, với điều kiện nó chỉ là một phần của phương pháp giáo dục mà
mô thức chính chú trọng vào việc gợi ý để học sinh phát triển óc sáng tạo và khả năng
truyền thống dân tộc, các gia đình Việt Nam thường mang lại cho học đường sự hỗ trợ
và hy sinh đáng kể trong việc giáo dục con cái họ. Nhưng nếu giáo dục chỉ dừng lại ở
những giá trị đào tạo chuyên viên và viên chức, thì không khéo, những hỗ trợ và hy
sinh này chỉ còn lại mục tiêu là giúp tạo cơ hội tiến thân. Hiện nay, ý thức trách nhiệm
của cá nhân với cộng đồng chưa được phát triển đúng mức trong học đường như một
trong những mục tiêu chính của giáo dục. Nó gần như chưa có được bao nhiêu sức
mạnh cần thiết để học đường ảnh hưởng tốt lên xã hội, để cuối cùng giữa học đường
và xã hội có những ảnh hưởng hỗ tương, như có thể nhìn thấy ở Singapore, ở Ðại Hàn,
hay Ðài Loan ngày nay. Hay cả mười hay hai mươi năm trước đây. Những trình bày
sau đây liên quan đến một số vấn đề đang được bàn cãi nhiều nhất trong việc giảng
dạy ở trung, tiểu học và ở đại học.
Những người đang ở ngoài nước, nếu nhìn vào nội dung các sách giáo khoa
dành cho học sinh tiểu học ở Việt Nam hiện nay, không khỏi không kính phục. Nhưng
sau đó, suy nghĩ lại, thái độ thay đổi ngay. Chương trình giảng dạy quá nặng, hướng
về nhồi sọ, nhồi thông tin hơn là giáo dục thật sự. Thầy cô giáo không thể có đủ thời
giờ giảng dạy tất cả với thời lượng cho phép ở trường. Không kể, với thực tế về trình
độ hiểu biết nói chung của giáo chức hiện nay, thật khó để tin rằng họ có đủ khả năng
truyền đạt tốt một nội dung như vây. Ðồng thời, rất khó để tin rằng những đầu óc non
nớt của các em ở lứa tuổi tiểu học có thể tiếp thu rồi tiêu hóa phần nội dung đó một
cách dễ dàng. Hậu quả là hầu như tất cả học sinh đều phải đi học thêm.
Giáo dục nhằm đào tạo con người toàn diện, nhưng trong điều kiện như vậy thời
giờ đâu để các em được hưởng những thứ khác, cần thiết không kém những bài học
trong sách, như thể thao, như vui đùa với chúng bạn. Tình trạng ở trung học cũng
không khác mấy. Chuyện học thêm, cũng chính với những thầy cô giáo đó, là một thực
tế ở các trường trung, tiểu học Việt Nam. Nó giúp cho các em có được những điểm số
cao hơn. Nó giúp thầy cô giáo có thêm ít thu hoạch thường rất ít ỏi nếu chỉ dựa trên
đồng lương chính thức. Nhìn kỹ nó tệ hại hơn tình trạng “dạy kèm ngoài giờ học chính
thức”. Ở Việt Nam, nó đang trở thành một thói quen nguy hiểm. Mặt khác, một tình
trạng như vậy dễ tạo nên một loại tham nhũng trong trường học. Thực tế này đưa đến
hai hậu quả vô cùng tai hại và rất phản giáo dục. Tại hại thứ nhất là học sinh dễ trở nên
I/. NHÌN TỪ HỆ THỐNG GIÁO DỤC TẠI MỘT SỐ NƯỚC Á CHÂU.
Singapore, Ðại Hàn, Ðại Loan là một số nước Á châu đã từng trải qua những kinh
nghiệm tương đối giống Việt Nam. Nhìn quá trình phát triển giáo dục của họ trong nửa
thế kỷ qua, ta có thể bắt gặp những vấn đề giáo dục tương tự. Tuy nhiên, những vấn đề đó
của họ xẩy ra ở những thời điểm sớm hơn. Ta cũng có thể nhìn thấy cách giải quyết của
họ khác Việt Nam và quyết tâm của họ cũng khác. Bên cạnh, cũng có những vấn đề rất
giống nhau, nhất là những vấn đề có cội rễ từ hàng ngàn năm phong kiến, từ hàng ngàn
năm ở cửa Khổng sân Trình, từ cả trăm năm thuộc địa, và từ khát vọng vươn lên bằng con
đường ngắn nhất và hợp với truyền thống nhất: con đường học vấn. Từ đó, sự giống nhau
rõ nét nhất vẫn là khuynh hướng tập trung quyền kiểm soát giáo dục vào tay nhà nước, và
khuynh hướng của một số đông thường coi nặng giáo dục như con đường tiến thân mà
xem nhẹ mục tiêu chính của nó. Ðiều này luôn luôn tạo nên tranh cãi, và cách giải quyết
khôn ngoan vẫn là làm sao áp dụng mô hình giáo dục của các nước tiên tiến phương Tây
một cách thích nghi.
Mục tiêu của giáo dục, về căn bản, không khác nhau. Ði vào thực tế, sự phát triển
hay trì trệ trên mỗi mục tiêu thay đổi tùy thuộc hoàn cảnh và mức độ phát triển của quốc
gia. Trong số ba quốc gia nói trên, Singapore có lẽ là quốc gia xác định những nét căn bản
trong nền giáo dục của họ rõ nhất, và chú trọng đặc biệt vào việc giáo dục công dân họ
trên những giá trị này. Sau đây là vài nét chính trong nền giáo dục đó:
II/. NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC LÀ PHÁT TRIỂN CÁ NHÂN VÀ GIÁO DỤC
CÔNG DÂN
Sự phát triển cá nhân phải toàn diện, bao gồm cả đức, trí, thể, mỹ và tính xã hội
Giáo dục đào tạo con người có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, và bè bạn
Giáo dục đào tạo con người có ý thức trách nhiệm với cộng đồng và đất nước
Ðể làm tốt nhiệm vụ nói trên, các cơ quan giáo dục phải giúp trẻ em khám phá những tài
năng riêng biệt của chúng, ý thức rõ tất cả tiềm năng, và phát triển lòng đam mê học hỏi
cho suốt cả cuộc đời. Hệ thống giáo dục phải uyển chuyển, dễ điều chỉnh để thích nghi với
những thay đổi của xã hội và đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của quần chúng.
Hệ thống đó cung ứng nhiều lựa chọn cho học sinh, tạo thói quen đặt câu hỏi khi học,
khuyến khích khả năng tự học, phát triển khuynh hướng suy nghĩ về những cái mới và độc
Bên cạnh hệ thống trường công lập được chú trọng đầu tư phát triển, Trung
Quốc còn chú trọng phát triển hệ thống trường dân lập. Hình thành cục diện mới song
song với việc phát triển trường công lập và dân lập. Đây là con đường tất yếu để một
đất nước còn nhiều khó khăn có thể đại chúng hoá giáo dục ĐH, biến gánh nặng về
dân số thành nguồn nhân lực dồi dào có trình độ cao.
Trung Quốc khẳng định giáo dục ĐH là nũng cốt quan trọng trong công cuộc
hiện đại hoá mà các trường ĐH là nơi đào tạo chuyên gia có trình độ chuyên môn cao
trên nhiều lĩnh vực tri thức và cũng là mảnh đất gieo mềm sáng tạo, nơi bừng nở kiến
thức.
Trung Quốc còn chủ trương phát triển nhiều hình thức trường ĐH đào tạo không
chính quy như ĐH qua truyền hình, ĐH nông dân, ĐH viên chức, học viện Giáo dục
và bồi dưỡng GV, học viện quản lý cán bộ, ĐH tự học có hướng dẫn. Đây là những
trường ĐH kiểu mới trên cơ sở kết hợp 3 yếu tố: cá nhân tự học, xã hội trợ giúp, nhà
nước chỉ đạo.
Phương thức đào tạo này nếu được áp dụng vào Việt Nam sẽ mở ra nhiều cơ hội
học ĐH cho mọi người, góp phần vào thực hiện mục tiêu Giáo dục: nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
Bài học lớn từ thực tiễn 25 năm cải cách mở cửa cho thấy: muốn hiện đại hoá
phải thực hiện cải cách, mà muốn cải cách không còn con đường nào khác ngoài con
đường học hỏi, kế thừa tiến bộ khoa học công nghệ phương tây (chủ yếu là Mỹ). Quá
trình học hỏi, chuyển giao công nghệ nước ngoài đem lại nhiều ưu thế hơn cho Trung
Quốc: không phải tốn nhiều thời gian và tiền của cho nghiên cứu công nghệ mới, tranh
thủ được thời gian, rút ngắn khoảng cách phát triển với các cường quốc trên thế giới.
Để thực hiện mục tiêu này, Trung Quốc chủ trương mở cửa giao lưu với thế giới bên
ngoài trong khi vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những thành
tựu tiên tiến về giáo dục của các nước trên thế giới, thực hiện chủ trương tăng cường
giao lưu và hợp tác quốc tế với phương châm "ủng hộ lưu học sinh, khuyến khích về
nước, đi về tự do".
22
Du học sinh được coi là nguồn tài sản quí giá của đất nước, được nhà nước coi
quy định điều tiết mối quan hệ giữa chính phủ và hệ thống giáo dục đại học , sao cho
các trường không bị hạn chế quyền tự chủ của mình; minh bạch hóa các quy định về
quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội, sao cho các cơ quan quản lý, hội đồng trường
và hiệu trưởng hiểu rõ quyền và trách nhiệm cụ thể của mình; tăng cường năng lực
quản lý của các trường; và xây dựng niềm tin đối với quá trình tự chủ của các trường
đại học .
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách giáo dục, nghiên cứu áp
dụng những mô hình đào tạo, mô hình quản lý giáo dục phù hợp đang là những vấn đề
lớn đặt ra cho Việt Nam.
Cần xác định rõ mục tiêu của phát triển giáo dục, lựa chọn chính sách giáo dục phù
hợp với đặc điểm về văn hoá, kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật trong từng giai
đoạn.
Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy tại các trường tiểu học và trung
học. Mở rộng quy mô các loại hình đào tạo. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục. Tăng
cường tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục.
23
Đổi mới quản lý giáo dục hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân, phát triển
mạng lưới trường lớp và cơ sở giáo dục. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Giáo dục Việt
Nam cần giảm bớt mô thức giảng dạy áp đặt và tăng cường mô thức gợi ý. Cần xem
các mục tiêu “trung thực”, “sáng tạo”, “tôn trọng sự khác biệt”, v.v., là những mục tiêu
hàng đầu của giáo dục chớ không phải việc nhồi nhét kiến thức. Về phương diện này,
các nước phương Tây có rất nhiều chương trình thiết kế cho TV hay computer để phụ
giúp thầy, cô giáo trong giảng dạy mà Việt Nam có thể chọn lựa và thiết kế theo hoàn
cảnh của mình.
Cần giảm thiểu sự mệt mỏi của học sinh, nhất là học sinh cấp tiểu học. Ðặc biệt,
nên giảm bớt lượng kiến thức hay thông tin trong chương trình học. Nhắm đến một
hành trình lâu dài hơn của con người. Không nên để họ gục ngã sớm về đầu óc.
Ðặt nặng vào việc đào tạo giáo chức và dành những đãi ngộ đặc biệt cho họ.
Trong trường hợp các nước đang phát triển như Việt Nam, giáo chức phải được tuyển
chọn từ thành phần ưu tú nhất của đất nước. Trong thực tế, một thanh niên ở tuổi 18
trầm trọng về giáo dục. Khủng hoảng ở những mục tiêu căn bản, vì nền giáo dục đó có
thể đào tạo những học trò giỏi, nhưng gần như suốt đời cũng vẫn là những học trò giỏi
24
của ngày còn đi học. Những nhà giáo Việt Nam gần như suốt đời cũng bị buộc phải
chỉ là những nhà giáo tận tụy truyền đạt kiến thức cho học trò. Ra khỏi phạm vi của
trường học, phạm vi của chữ nghĩa, ảnh hưởng của họ để tác động vào xã hội còn rất
khiêm nhường. Nếu có, thường là do những gì họ học được, không phải ở trường học,
mà ở trường đời, trường chính trị, qua quen biết. Khủng hoảng đó cần được khắc
phục, và có thể được khắc phục. Chỉ với điều kiện, nhà nước quyết tâm xem phát triển
giáo dục toàn diện là ưu tiên số một, học kinh nghiệm của những quốc gia đã nhờ giáo
dục mà đạt những thành tựu vượt bực và bền vững. Và khi làm chính sách giáo dục
nên nghĩ đến những mục tiêu lớn như đào tạo con người trung thực, có sáng tạo, có tư
duy độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, v.v. bên trên sự chuyển giao tri thức. Và, hãy
can đảm quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.
Việt Nam có một gia tài mà rất ít quốc gia khác có được: một số lượng đông đảo
người Việt ở nước ngoài đã và đang được đào tạo tại các trường hàng đầu của thế giới.
Tuy nhiên, sử dụng được nguồn nhân lực này vào việc phát triển đất nước, hay nói
riêng, vào việc phát triển giáo dục của đất nước, đòi hỏi những nỗ lực lớn vô cùng.
Nói tóm lại, sự phát triển của giáo dục đại học Trung Quốc trong thời gian qua
rất đáng làm bài học đế chúng ta tham khảo. Bài học quan trọng nhất có lẽ là cần phải
hoàn thiện hệ thống giáo dục trung và tiểu học trước khi có được một hệ thống đại học
có chất lượng cao. Bài học khác là cần phải quan tâm đến chất lượng đào tạo trong khi
mở rộng hệ thống đại học tư nhân. Bài học thứ ba là các giá trị Khổng giáo, đã giúp
Trung Quốc có được một nền đại học hiện đại và nhân văn. Việt Nam chúng ta hoàn
toàn có khả năng xây dựng một nền giáo dục đại học như Trung Quốc, nhưng cần phải
có một chương trình cải cách lâu dài và có hệ thống.
Hà nội, tháng 6 năm 2012
Nguyễn Lê Huấn
25