BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHAN THÙY LINH
CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC ĐỘ
SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT
VỀ HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHAN THÙY LINH
CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC ĐỘ
SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT
VỀ HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài.......................................................................... 3
3.
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................... 3
4.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn ............................................................... 3
5.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn ........................................................... 4
6.
Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 5
7.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ................................................ 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT ............................. 6
1.1 Những vấn đề lý luận về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ........... 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ........ 6
1.1.2 Các hình thức của chế tài do vi phạm hợp đồng ........................................12
1.1.3 Vai trò của chế tài do vi phạm hợp đồng ....................................................13
1.2 Khái quát về Bộ Nguyên tắc UNIDROIT và các biện pháp đối với hành vi
không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT .....................14
1.2.1 Lịch sử hình thành của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT..................................14
1.2.2 Nguyên tắc áp dụng Bộ Nguyên tắc UNIDROIT .......................................16
1.2.3 Biện pháp đối với hành vi không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT.................................................................................................17
CHƯƠNG 23: CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DƯỚI
GÓC ĐỘ SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ BỘ NGUYÊN TẮC
UNIDROIT ............................................................................................................23
2.1 Căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và
Bộ Nguyên tắc UNIDROIT..........................................................................23
2.1.1 Hành vi vi phạm hợp đồng .........................................................................23
3.1.2
Tiếp thu các nhân tố tiến bộ của luật pháp và thực tiễn thương mại quốc tế
....................................................................................................................74
Nâng cao hiệu quả giải quyết của cơ quan tài phán ..................................75
Gia nhập Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT) ............76
3.1.3
3.1.4
3.2 Kiến nghị cụ thể để hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam......78
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng.....................................................................................................78
3.2.2
Hoàn thiện các quy định về căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
....................................................................................................................80
3.2.3 Hoàn thiện các quy định về các chế tài do vi phạm hợp đồng ....................82
KẾT LUẬN ............................................................................................................89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................90
1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khi Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp
2
lớn trong số họ là các nhà khoa học, cùng với một vài thẩm phán và viên chức có uy tín,
những người có khả năng thực sự.1
Với mục tiêu hướng tới cách giải quyết công bằng đối với các vấn đề phát sinh
trong quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế dù dưới góc nhìn của bất kỳ hệ thống pháp
luật nào, các quy định trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đều sử dụng các khái niệm đã
được công nhận một cách rộng rãi đồng thời có sự tương thích với các tập quán thương
mại quốc tế. Một điểm cần được lưu ý đó là Bộ Nguyên tắc UNIDROIT được xây dựng
không trên cơ sở nguyên lý bắt buộc mà nó được xây dựng theo hướng hài hoà hoá pháp
luật, chính vì vậy, đây là văn bản chỉ có giá trị tham khảo đối với các bên tham gia quan
hệ hợp đồng thương mại quốc tế. Tuy nhiên không vì vậy mà Bộ nguyên tắc này mất đi
giá trị của nó. Được xây dựng bởi các chuyên gia, nhà khoa học thuộc các hệ thống
pháp luật khác nhau cũng như được xây dựng trên cơ sở thực tiễn thương mại quốc tế,
vì vậy, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT được đánh giá cao cả về mặt thực tiễn cũng như lý
luận. Văn bản này đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ và được tham khảo, nghiên cứu
không chỉ trong quá trình áp dụng pháp luật mà còn cả trong giai đoạn lập pháp của
nhiều quốc gia.
Trong giao dịch dân sự nói chung và giao dịch thương mại quốc tế nói riêng, hợp
đồng với vai trò là sự ghi nhận nội dung thoả thuận của các bên trong giao dịch sẽ bao
gồm tất cả các thoả thuận của các bên liên quan đến việc thực hiện giao dịch. Với một
giao dịch diễn ra bình thường, khi các bên thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp
đồng thì mọi việc sẽ không có gì đáng nói. Tuy nhiên, trên thực tế, hành vi vi phạm
nghĩa vụ trong hợp đồng xảy ra khá thường xuyên và các bên trong hợp đồng luôn phải
đối mặt với rủi ro, hậu quả từ các hành vi. Do vậy, để phòng ngừa hành vi vi phạm và
đưa ra biện pháp đền bù cho bên bị vi phạm trong trường hợp xảy ra vi phạm, chế tài vi
phạm hợp đồng đã ra đời. Pháp luật Việt Nam và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đều có
quy định về nội dung này. Tuy nhiên, bên cạnh các điểm tương đồng, pháp luật Việt
Nam và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT cũng có các điểm chưa tương thích.
quan đến các quy định về chế tài trong thương mại theo quy định của Luật thương mại
của tác giả Nguyễn Thị Khế đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1/2008, tác giả
Phan Thị Thanh Thuỷ với bài viết So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong Luật thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980 đăng trên tạp chí
Luật học, Tập 30, Số 3(2014)… Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các
trang thông tin điện tử , và
các trang thông tin điện tử của Trung tâm trọng tài quốc tế, Bộ Tư pháp ... cũng đề cập
đến nội dung này. Thêm vào đó có kể đến Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giải Phạm
Thị Ngọc Ánh với đề tài So sánh các chế tài do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt
Nam và theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế.
3.
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: hành vi vi phạm hợp đồng và các chế tài
do vi phạm hợp đồng được quy định trong pháp luật Việt Nam (cụ thể là Bộ luật dân sự
năm 2005 và Luật thương mại năm 2005, trong đó có một số tham chiếu đến Bộ luật
dân sự năm 2015) và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT.
Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề lý luận liên quan đến đối tượng nghiên cứu và
các quy định của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong quy định của pháp luật
Việt Nam (cụ thể là Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật thương mại năm 2005, trong đó
tác giả cũng có tham chiếu đến một số nội dung điều chỉnh quan trọng của Bộ luật dân
sự năm 2015 có liên quan đến chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại) và Bộ Nguyên
tắc UNIDROIT.
4.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
4
(i)
Pháp luật Việt Nam và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đang quy định về chế tài do
vi phạm hợp đồng thương mại như thế nào?
(ii)
Dưới góc độ so sánh, các quy định đó có những điểm nào đã tương đồng và có
những điểm nào chưa tương thích?
(iii) Hạn chế trong các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại của pháp
luật Việt Nam trong mối tương quan với quy định của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT là gì?
5
(iv) Việt Nam cần có những phương hướng hoàn thiện pháp luật và các biện pháp cụ
thể nào để hoàn thiện pháp luật trên cơ sở tham khảo các quy định của Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT?
6.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Cụ thể bao gồm:
phân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh pháp luật nhằm đưa ra các điểm tương đồng cũng
như các điểm chưa tương thích giữa pháp luật Việt Nam và Bộ nguyên tắc UNIDROIT,
từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam.
7.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trong phạm vi luận văn này, tác giả mong muốn có thể đưa ra các vấn đề lý luận
chung về vi phạm hợp đồng và chế tài do vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó tác giả cũng
mong muốn có thể đem đến một cái nhìn toàn diện về các chế tài do vi phạm hợp đồng,
đồng thời cũng đưa ra các phân tích cụ thể đối với các chế tài do vi phạm hợp đồng theo
Khi xã hội ngày càng phát triển thì số lượng các quan hệ hợp đồng được thiết lập
cũng ngày càng tăng lên nhằm đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Về
nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của các bên trong thoả thuận hợp đồng trừ trường
hợp cần có sự giới hạn của pháp luật.
Bản chất của hợp đồng nói chung là việc các chủ thể trong xã hội tự do thoả
thuận, thống nhất ý chí nhằm xác lập, điều chỉnh hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể đó. Đây là căn cứ để phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên. Pháp luật
Việt Nam hiện hành không có quy định về hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, Bộ luật
dân sự năm 2005 có quy định khái niệm chung về hợp đồng dân sự tại Điều 388, như
sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 1 của Bộ luật dân
sự năm 2005 thì “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách
ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về ….,
kinh doanh, thương mại…”. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng tiếp tục kế thừa các quy định
này tại Điều 1 và Điều 385. Theo đó, khi Luật thương mại năm 2005 không có quy
định cụ thể về định nghĩa của hợp đồng thương mại thì định nghĩa về hợp đồng dân sự
chung sẽ được áp dụng trên cơ sở phù hợp với quy định về quan hệ thương mại.
Về mặt lý luận hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự,
tuy nhiên, hợp đồng thương mại cũng có các đặc điểm riêng xuất phát từ quan hệ
thương mại.
Theo đó, hợp đồng thương mại có thể được nhận diện thông qua một số tiêu chí
sau:
Thứ nhất, chủ thể hợp đồng thương mại chủ yếu là thương nhân. Theo quy định
tại khoản 1, Điều 6, Luật thương mại năm 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Trong quan hệ hợp đồng thương mại, có một số loại
hợp đồng mà các bên tham gia đều phải là thương nhân (hợp đồng đại diện cho thương
7
sẽ đương nhiên được áp dụng và khi đó, nghĩa vụ chịu các chi phí bảo hành sẽ thuộc về
bên bán. Trong trường hợp này nếu bên bán không chịu các chi phí bảo hành thì sẽ được
coi là hành vi vi phạm hợp đồng.
8
Nhìn chung có thể hiểu, hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng một cách không đúng đắn, không phù hợp của một bên trong hợp đồng.
Khi một hợp đồng đã được xác lập nhưng một trong các bên của hợp đồng không
thực hiện đúng theo các nghĩa vụ đã được thoả thuận sẽ dẫn đến hậu quả bên còn lại
không đạt được một phần hoặc toàn bộ mục đích của việc giao kết hợp đồng. Khi đó,
bên vi phạm sẽ phải gánh chịu trách nhiệm cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình.
Đây là trách nhiệm dân sự - một loại trách nhiệm pháp lý được quy định tại Bộ luật dân
sự năm 2005. Trách nhiệm pháp lý là các hậu quả bất lợi mà chủ thể có hành vi vi phạm
hợp đồng phải gánh chịu. Những quy định về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi
phạm hợp đồng sẽ góp phần đảm bảo việc thực thi hợp đồng cũng như tính nghiêm
minh của pháp luật.
Đối với quan hệ hợp đồng thương mại, Luật thương mại năm 2005 sử dụng thuật
ngữ chế tài. Theo đó, Luật thương mại năm 2005 liệt kế các loại chế tài trong thương
mại tại Điều 292. Theo đó chế tài thương mại là các hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm
khi vi phạm nghĩa vụ phát sinh trong quan hệ thương mại. Các chế tài thương mại bao
gồm chế tài do pháp luật quy định và chế tài do các bên tự thoả thuận phù hợp với quy
định của pháp luật.
Việc sử dụng hai thuật ngữ trách nhiệm dân sự trong Bộ luật dân sự năm 2005 và
chế tài trong Luật thương mại năm 2005 không phải là sự mâu thuẫn mà chỉ là sự khác
biệt trong cách trình bày và thể hiện. Trong khoa học pháp lý, khái niệm “trách nhiệm
dân sự” và “chế tài” là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết. Đây là
hai khái niệm có mối quan hệ nội dung và hình thức. Chế tài là hình thức thể hiện của
trách nhiệm pháp lý còn trách nhiệm pháp lý là nội dung của chế tài. Theo đó, trong
phạm hợp đồng được luật thương mại định nghĩa là hành vi không thực hiện, thực hiện
không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Đối chiếu với Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT thì “Không thực hiện hợp đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa
vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm
trễ”.
Như vậy, nhìn chung pháp luật trong nước và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đều
đưa ra các dạng vi phạm hợp đồng là “không thực hiện”, “thực hiện không đúng nghĩa
vụ” là hành vi vi phạm hợp đồng – căn cứ để áp dụng chế tài xử lý vi phạm.
Vấn đề thứ hai cần phải xem xét khi xác định hành vi vi phạm hợp đồng thương
mại đó là hành vi vi phạm hợp đồng bao gồm hành vi vi phạm cơ bản và hành vi vi
phạm không cơ bản. Đây không chỉ là sự phân biệt của riêng pháp luật Việt Nam mà nó
đã được luật quốc tế công nhận, vì hai loại hành vi vi phạm này có tính nghiêm trọng
khác nhau và có thể dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau. Theo quy định tại khoản 13,
Điều 3, Luật thương mại năm 2005: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một
bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của
việc giao kết hợp đồng”. Bộ luật dân sự năm 2005 không có quy định về vi phạm cơ bản
10
mà có nhắc tới vi phạm nghiêm trọng là một căn cứ để áp dụng chế tài huỷ bỏ hợp đồng
tuy nhiên, lại không đưa ra quy định về khái niệm về vi phạm này. Bộ luật dân sự năm
2015 đã bổ sung khái niệm vi phạm nghiêm trọng tại khoản 2, Điều 423, theo đó, “Vi
phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm
cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Việc tồn tại hai khái
niệm có nội dung tương đối giống nhau nhưng lại có tên gọi khác nhau ở hai văn bản có
thể sẽ gây khó khăn, nhầm lẫn trong việc áp dụng luật sau khi Bộ luật dân sự năm 2015
có hiệu lực vào năm 2017. Ngoài ra, có thể thấy khái niệm vi phạm cơ bản theo pháp
luật Việt Nam là một quy định mơ hồ, rất khó xác định, có thể được diễn giải theo nhiều
cách khác nhau, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Luật thương mại năm 2005 cũng
Các bên có quyền tự do thoả thuận, giao kết hợp đồng trên cơ sở phù hợp với quy
định của pháp luật. Thoả thuận, hợp đồng đó sẽ làm cơ sở ràng buộc, phát sinh các
quyền nghĩa vụ của các bên. Do đó, khi bên vi phạm hợp đồng có hành vi vi phạm thì
bên vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với bên bị vi phạm. Các chế tài do vi
phạm pháp luật mà pháp luật quy định là các quy định buộc bên vi phạm phải có trách
nhiệm với hành vi mà mình gây ra.
1.1.1.2.4. Bên bị vi phạm có quyền lựa chọn áp dụng các hình thức chế tài do vi phạm
hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật
Trong phạm vi pháp luật cho phép, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bên vi phạm
chịu một hoặc nhiều chế tài theo thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của
pháp luật hay cũng có thể từ bỏ quyền yêu cầu của minh. Trong trường hợp bên vi phạm
không thực hiện theo yêu cầu của bên bị vi phạm. Bên bị vi phạm có thể yêu cầu Toà án
hoặc trọng tài bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên, Toà án hay trọng tài trong
trường hợp này không quyết định việc áp dụng chế tài nào đối với bên vi phạm mà
quyền quyết định yêu cầu thuộc về bên bị vi phạm. Theo đó, bên bị vi phạm sẽ đưa ra
các yêu cầu của mình đối với bên vi phạm và Toà án/Trọng tài sẽ là chủ thể công nhận
hoặc bác bỏ yêu cầu của bên bị vi phạm trên cơ sở các thoả thuận trong hợp đồng và
quy định của pháp luật.
1.1.1.2.5. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại không nhất thiết phải có sự hội tụ
đầy đủ những điều kiện về mặt hình thức như đối với trách nhiệm pháp lý
Theo khoa học pháp lý, căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý bao gồm 4 yếu tố
cơ bản là: hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi
phạm và thiệt hại thực tế và yếu tố lỗi.
Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015, lỗi là
một trong các căn cứ để làm phát sinh trách nhiệm dân sự, trong khi đó, theo Luật
thương mại năm 2005, yêu tố lỗi không phải là một căn cứ làm phát sinh trách nhiệm
khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Yếu tố lỗi theo Luật thương mại năm 2005 chỉ được
thể hiện dưới dạng “lỗi suy đoán”. Nói cách khác, bên vi phạm sẽ bị coi là có lỗi nếu
toàn bộ các chi phí phát sinh để có thể thực hiện được yêu cầu của bên bị vi phạm. Đây
có thể được coi là một chế tài mang tính thiện chí của bên bị vi phạm vì nó không nhằm
mục đích đạt được sự bồi thường hay tiền phạt của bên vi phạm mà chỉ có mục đích để
hợp đồng tiếp tục được thực hiện theo những điều khoản và điều kiện đã được các bên
cam kết từ đầu.
13
Phạt hợp đồng là chế tài mà theo đó, bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm
một khoản tiền đã được hai bên thoả thuận trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp
luật. Hình thức này có ý nghĩa phòng ngừa hành vi vi phạm hợp đồng đồng thời nhằm
mục đích trừng phạt, giáo dục ý thức tôn trọng các nội dung đã thoả thuận trong hợp
đồng.
Bồi thường thiệt hại là một chế tài mang tính bù đắp đối với các thiệt hại vật chất
của bên bị vi phạm do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm. Theo đó, hình thức
này sẽ chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra. Bên yêu cầu bồi thường sẽ phải chứng
minh được mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị
vi phạm sẽ được hưởng nếu không có hành vi của bên vi phạm. Do tính chất bù đắp
thiệt hại của chế tài này, bên bị vi phạm sẽ chỉ có thể yêu cầu bồi thường tương ứng với
những tổn thất mà mình có thể chứng minh được.
Tạm ngừng, đình chỉ và huỷ bỏ hợp đồng là các chế tài có tính nghiêm khắc cao
nhất đối với bên vi phạm. Theo đó, đối với cả ba chế tài này, hợp đồng sẽ bị tạm ngừng
thực hiện, hoặc chấm dứt hiệu lực của hợp đồng hoặc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ nội
dung của hợp đồng. Các chế tài này thực chất sẽ mang lại kết quả tiêu cực cho tất cả các
bên vì sẽ dẫn đến hợp đồng bị kéo dài hoặc lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng sẽ hoàn
toàn không đạt được.
Ngoài ra, trong quan hệ hợp đồng thương mại, theo quy định tại Điều 239, Luật
thương mại năm 2005 thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền cầm giữ
một số lượng hàng hoá nhất định và các chứng từ liên quan đến số lượng hàng hoá đó
đắp các tổn thất, đảm bảo các thoả thuận sẽ được thực hiện, đồng thời bên vi phạm cũng
được bảo vệ thông qua các quy định của phạm luật về các căn cứ, các trường hợp miễn
trách nhiệm để việc xử lý vi phạm hợp đồng thật sự công bằng cho tất cả các bên. Việc
pháp luật có quy định nhiều loại chế tài khác nhau đã tạo điều kiện cho các chủ thể có
các phương thức xử lý vi phạm hợp đồng trong các trường hợp cụ thể. Qua đó, bảo vệ
các quyền và lợi ích của các bên một cách hiệu quả nhất.
1.2
Khái quát về Bộ Nguyên tắc UNIDROIT và các biện pháp đối với hành vi
không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
1.2.1
Lịch sử hình thành của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
UNIDROIT (International Institute for the Unification of Private Law/Institut
international pour l'unification du droit privé) – Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật
tư là một tổ chức liên chính phủ độc lập với trụ sở được đặt tại Villa Aldobrandini,
Rome. UNIDROIT được thành lập lần đầu vào năm 1926 như là một cơ quan phụ trợ
của Hội quốc tế (League of Nation) – Tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc. Sau sự tan
rã của Hội quốc tế, UNIDROIT đã được thiết lập lại vào năm 1940 trên cơ sở một thoả
thuận đa phương – UNIDROIT Statute. Mục đích hoạt động của UNIDROIT là nhằm
nghiên cứ nhu cầu và phương pháp để hài hoà hoá, kết nối hệ thống pháp luật tư (cụ thể
là luật thương mại) giữa các quốc gia và xây dựng các nguyên tắc, công cụ và quy định
để đạt được mục đích trên.
15
Từ khi thành lập đến nay, UNIDROIT đã soạn thảo hơn 70 nghiên cứu và bản
International Institute for the Unification of Private Law (1994), “Principles of International Commercial
Contract”
16
Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế. Đó là các trường phái: luật Dân sự (Civil
Law hoặc Continetal Law), luật thông dụng (Common Law hoặc AngloSaxon Law), và
luật xã hội chủ nghĩa (socialist Systems). Tuy vậy, mãi tới năm 1980 UNIDROIT mới
thành lập được Nhóm Công tác đặc biệt để soạn thảo các Chương trong Nguyên tắc
Hợp đồng Thương mại Quốc tế. Nhóm này bao gồm các đại biểu của các hệ thống luật
lớn trên thế giới và các chuyên gia hàng đầu về luật Hợp đồng và luật Thương mại
Quốc tế. Phần lớn trong số họ là các nhà khoa học, cùng với một vài thẩm phán và viên
chức có uy tín, những người có khả năng thực sự.3
1.2.2
Nguyên tắc áp dụng Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
Với mục tiêu hướng tới cách giải quyết công bằng đối với các vấn đề phát sinh
trong quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế dù dưới góc nhìn của bất kỳ hệ thống pháp
luật nào, các quy định trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đều sử dụng các khái niệm đã
được công nhận một cách rộng rãi đồng thời có sự tương thích với các tập quán thương
mại quốc tế. Do được xây dựng trên cơ sở sự thoả thuận và thống nhất của các chuyên
gia hàng đầu của các hệ thống luật trên toàn thế giới. Vì vậy, Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT phản ánh cách thức giao dịch thương mại quốc tế của tất cả các hệ thống
luật. Tuy nhiên, trên cơ sở là những nguyên tắc được xây dựng nhằm mục đích cung cấp
đặc biệt để phù hợp với nhu cầu của các giao dịch thương mại quốc tế, trong Bộ
Nguyên tắc cũng thể hiện những nguyên tắc mà những người soạn thảo cho rằng đó là
giải pháp tốt nhất dù có thể đó chưa phải là những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi.
áp dụng khi các bên không lựa chọn một luật cụ thể nào
điều chỉnh hợp đồng của họ; (iv) Bộ Nguyên tắc này có thể được sử dụng để giải thích
hay bổ sung cho các văn bản luật quốc tế thống nhất khác; (v) Bộ Nguyên tắc cũng có
thể được được áp dụng khi hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp luật của một quốc gia cụ
thể mặc dù việc áp dụng Bộ Nguyên tắc không được quy định trong hợp đồng. Trong
trường hơp này, khi phải giải quyết một vấn đề cụ thể, nếu nhận thấy không để đưa ra
một quy định liên quan của nội luật và một giải pháp có thể được tìm thấy trong Bộ
Nguyên tắc thì Bộ Nguyên tắc có thể được áp dụng. Tuy nhiên, việc căn cứ vào Bộ
Nguyên tắc như một biện pháp thay thế cho nội luật là giải pháp cuối cùng được cân
nhắc đến trong trường hợp này4; (vi) Bộ Nguyên tắc còn có thể được áp dụng như một
công cụ để làm mẫu cho các nhà lập pháp quốc gia và quốc tế.
1.2.3
Biện pháp đối với hành vi không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT
Không giống như trong Luật thương mại năm 2005, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
sử dụng thuật ngữ “non-performance” – không thực hiện hợp đồng thay vì thuật ngữ vi
phạm hợp đồng. Mặc dù có tên gọi khác nhau do một khái niệm xuất phát từ hệ thống
4
Liu Chengwei (2003), “Remedies for Non-performance – Perspectives from CISG, UNIDROIT Principles and
PECL, tại địa chỉ
/>u/portrait.a5.pdf ngày truy cập 19/11/2016.
18
Tất nhiên, do đây là các biện pháp/chế tài được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hợp đồng/không thực hiện hợp đồng nên các biện pháp/chế tài này thường sẽ có tính bất
19
lợi cho chủ thể vi phạm/không thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, với các cách tiếp cận
khác nhau, vì vậy, tính cân bằng về quyền lợi của các bên khi áp dụng các biện pháp khi
xảy ra hành vi không thực hiện hợp đồng trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT là cao hơn
so với quy định tại Luật thương mại năm 2005. Do tiếp cận dưới góc độ là chế tài, mang
nhiều tính chất trừng phạt, do đó, quy định tại Luật thương mại năm 2005 có phần ưu
đãi cho quyền của bên bị vi phạm nhiều hơn so với Bộ Nguyên tắc UNIDROIT với cách
tiếp cận biện pháp bồi thường và chỉ hướng tới bồi thường, bù đắp.
Mặc dù có sự khác biệt trong việc sử dụng các thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” và
“không thực hiện hợp đồng”, “chế tài” và “biện pháp khi có hành vi không thực hiện
hợp đồng”; tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, xuất phát từ mục đích nghiên cứu
của luận văn là nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam và để thống nhất cách sử dụng một
thuật ngữ nhằm thuận tiện trong quá trình so sánh, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “vi
phạm hợp đồng” và “chế tài” như tên đề tài đã đưa ra.
Trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT, không thực hiện hợp đồng được quy định ở
Chương 7, theo đó, trong chương này, Bộ nguyên tắc đưa ra các quy định chung về
không thực hiện hợp đồng và các biện pháp xử lý trong trường hợp xảy ra hành vi
không thực hiện hợp đồng. Khái niệm không thực hiện hợp đồng được quy định tại
Điều 7.1.1: “Không thực hiện hợp đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa vụ
nào đó phát sinh từ hợp đồng, kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm trễ”.
Khái niệm này thể hiện hai đặc điểm của không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT, thứ nhất, không thực hiện hợp đồng trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT bao
gồm tất cả các hình thức của việc thực hiện không đúng hợp đồng cũng như việc hoàn
toàn không thực hiện hợp đồng. Thứ hai, không thực hiện hợp đồng bao gồm cả việc
không thực hiện hợp đồng được phép và không được phép.5
Mục 1: Những quy định chung về không thực hiện hợp đồng
Mục 2: Quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng
Mục 3: Huỷ hợp đồng
Mục 4: Bồi thường thiệt hại
Khi ký kết hợp đồng, các bên đều mong muốn đạt được các mục đích nhất định.
Do đó, tư tưởng thống nhất khi xây dựng quy định về phương thức xử lý khi xảy ra các
hành vi không thực hiện hợp đồng trong nội luật của các nước hay trong pháp luật quốc
tế đó là ưu tiên áp dụng các biện pháp để có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng và giảm
thiểu các trường hợp mà ở đó hợp đồng bị chấm dứt trước khi việc thực hiện được hoàn
thiện. Bộ Nguyên tắc UNIDROIT cũng không phải là ngoại lệ. Mục 1 của Chương 7 tập
trung vào việc đưa ra quy định cơ bản về không thực hiện hợp đồng và đưa ra những
quy định để các bên có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng và tránh việc phải chấm dứt hợp
đồng, đặc biệt là bởi các phương thức như Sự khắc phục của bên có nghĩa vụ - Cure by
6
Arthur Rosett (1997), “UNIDROIT Principles and Harmonization of International Commercial Law: Focus on
Chapter Seven”, tại địa chỉ ngày
truy cập 10/11/2016