BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHAN THÙY LINH
CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC ĐỘ SO
SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT VỀ
HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHAN THÙY LINH
CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC ĐỘ SO
SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT VỀ
HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG
1.
Tính cấp thiết của đề tài
1
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
3
3.
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3
4.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
3
5.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
4
1.1.3
Vai trò của chế tài do vi phạm hợp đồng
13
1.2
6
Khái quát về Bộ Nguyên tắc UNIDROIT và các biện pháp đối với hành vi
không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
14
1.2.1
Lịch sử hình thành của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
14
1.2.2
Nguyên tắc áp dụng Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
16
1.2.3
28
2.1.4
Lỗi của bên vi phạm
28
2.2
Các chế tài do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và Bộ Nguyên
tắc UNIDROIT
2.2.1
Buộc thực hiện đúng hợp đồng
30
30
2.2.2
Phạt vi phạm
41
2.2.3
Thống nhất và đồng bộ các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật
thương mại năm 2005 về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và chế tài
thương mại
69
3.1.2
Tiếp thu các nhân tố tiến bộ của luật pháp và thực tiễn thương mại quốc tế
71
3.1.3
Nâng cao hiệu quả giải quyết của cơ quan tài phán
72
3.1.4
Gia nhập Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT)
73
3.2
3.2.1
Kiến nghị cụ thể để hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam
Hoàn thiện các quy định về các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng
phủ ngày càng lớn. Các giao dịch cũng ngày càng trở nên đa dạng thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau dẫn đến tính phức tạp của các giao dịch này cũng càng ngày càng tăng. Tình hình thực
tế này đã thách thức tất cả các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam phải có sự điều
chỉnh và hoàn thiện các quy định của pháp luật quốc gia để phù hợp với các tập quán và điều
ước quốc tế nhằm tạo nên một môi trường pháp lý thống nhất trên toàn cầu góp phần vào sự
phát triển của thương mại quốc tế. Tuy nhiên đây vẫn là một vấn đề mang nhiều thách thức.
Trên thế giới, những nỗ lực nhằm thống nhất các quy định về thương mại quốc tế
vẫn đã và đang được thực hiện thông qua các điều ước quốc tế, luật mẫu…Ngoài ra, đó
là định hướng tập hợp, phát triển các tập quán thương mại quốc tế hay những nguyên
tắc cơ bản của hợp đồng để các bên trong quan hệ thương mại quốc tế có thể áp dụng
một cách linh hoạt và sự ra đời của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng trong
thương mại quốc tế (Principles of International Commercial Contracts) là một ví dụ
điển hình cho xu hướng này. Đây là một trong các tài liệu tham khảo được đề cập đến
nhiều nhất trong thương mại quốc tế bên cạnh Công ước Viên năm 1980 về buôn bán
hàng hoá quốc tế (CISG). Bộ nguyên tắc này ra đời là sự nỗ lực rất lớn của Viện quốc tế
về nhất thể hoá pháp luật tư - UNIDROIT (International Institute for the Unification of
Private Law/Institut international pour l'unification du droit privé).
Ngay từ năm 1971 Hội Đồng UNIDROIT đã quyết định đặt vấn đề này vào
chương trình làm việc. Một uỷ ban chuyên trách gồm những giáo sư René David
(Pháp), Clive M.Smitthoff (Anh) và Tudor Popescu (Rumani), đại diện cho ba trường
phái luật lớn đã được thành lập để xác định những yêu cầu cho việc biên soạn Nguyên
tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế. Đó là các trường phái: luật Dân sự (Civil Law hoặc
Continetal Law), luật thông dụng (Common Law hoặc AngloSaxon Law), và luật xã hội
chủ nghĩa (socialist Systems). Tuy vậy, mãi tới năm 1980 UNIDROIT mới thành lập
được Nhóm Công tác đặc biệt để soạn thảo các Chương trong Nguyên tắc Hợp đồng
Thương mại Quốc tế. Nhóm này bao gồm các đại biểu của các hệ thống luật lớn trên thế
giới và các chuyên gia hàng đầu về luật Hợp đồng và luật Thương mại Quốc tế. Phần
lớn trong số họ là các nhà khoa học, cùng với một vài thẩm phán và viên chức có uy tín,
những người có khả năng thực sự.1
quy định của Việt Nam cũng như của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT để có cách cư xử và
quy định phù hợp trong quan hệ thương mại quốc tế khi xảy ra các hành vi vi phạm hợp
đồng, tác giả lựa chọn đề tài: “Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại dưới góc độ so
sánh pháp luật Việt Nam và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng trong thương mại
quốc tế”
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
1 Lê Nết (1999), Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, NXB thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh,
tr.3.
8
Liên quan đến chế tài vi phạm hợp đồng, tại Việt Nam đã có nhiều bài viết cũng
như các công trình nghiên cứu về vấn đề chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung và các
bài viết, công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và tạo ra sự
thống nhất giữa quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế nói riêng. Trong đó có các
bài viết và công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra các bất cập của pháp luật Việt Nam khi
quy định về vấn đề này cũng như đề xuất các giải pháp trên cơ sở tham khảo các quy
định của quốc tế. Tiêu biểu có thể kế đến là cuốn sách “Các biện pháp xử lý việc không
thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” của Tiến sỹ Đỗ Văn Đại. Bên cạnh
đó, cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề này như bài viết Một số ý kiến liên
quan đến các quy định về chế tài trong thương mại theo quy định của Luật thương mại
của tác giả Nguyễn Thị Khế đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1/2008, tác giả
Phan Thị Thanh Thuỷ với bài viết So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong Luật thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980 đăng trên tạp chí
Luật học, Tập 30, Số 3(2014)… Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các
trang thông tin điện tử http://thongtinphapluatdansu.edu.vn, http://tcdcpl.moj.gov.vn/ và
các trang thông tin điện tử của Trung tâm trọng tài quốc tế, Bộ Tư pháp ... cũng đề cập
sở học tập kinh nghiệm lập pháp của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT góp phần tạo ra một
hành lang pháp lý phù hợp trong quá trình hội nhập.
Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, tác giả đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
như sau: Thứ nhất, luận văn sẽ phân tích vấn đề lý luận liên quan đến hợp đồng thương
mại, hành vi vi phạm hợp đồng và chế tài vi phạm hợp đồng thương mại (cụ thể là các
khái niệm, đặc điểm, vai trò…của các nội dung này) và các vấn đề khái quát chung về
Bộ Nguyên tắc UNIDROIT. Thứ hai, luận văn sẽ so sánh quy định về chế tài do vi
phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam (cụ thể là Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật
thương mại năm 2005, trong đó có một số tham chiếu đến Bộ luật dân sự năm 2015) và
Bộ Nguyên tắc UNIDROIT trên cơ sở so sánh sự tương đồng cũng như khác biệt của
từng chế tài vi phạm hợp đồng trong hai nguồn luật này. Từ đó, luận văn sẽ chỉ ra các
điểm chưa hoàn thiện, chưa tương thích với Bộ Nguyên tắc UNIDROIT của pháp luật
Việt Nam. Cuối cùng, luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của
pháp luật Việt Nam về chế tài do vi phạm hợp đồng trên cơ sở tham khảo các quy định
của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT cũng như thực tiễn quan hệ hợp đồng thương mại tại
Việt Nam.
5.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Nội dung nghiên cứu của luận văn sẽ trả lời cho các câu hỏi:
(i)
Pháp luật Việt Nam và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đang quy định về chế tài do
vi phạm hợp đồng thương mại như thế nào?
(ii)
Dưới góc độ so sánh, các quy định đó có những điểm nào đã tương đồng và có
những điểm nào chưa tương thích?
(iii) Hạn chế trong các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại của pháp
luật Việt Nam trong mối tương quan với quy định của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT là gì?
(iv) Việt Nam cần có những phương hướng hoàn thiện pháp luật và các biện pháp cụ
thể nào để hoàn thiện pháp luật trên cơ sở tham khảo các quy định của Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT?
luật Việt Nam và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
Chương 3: Hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam về chế tài do vi phạm
hợp đồng và một số kiến nghị
11
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT
1.1
Những vấn đề lý luận về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm chế tài do vi phạm hợp đồng
Khi xã hội ngày càng phát triển thì số lượng các quan hệ hợp đồng được thiết lập
cũng ngày càng tăng lên nhằm đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Về
nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của các bên trong thoả thuận hợp đồng trừ trường
hợp cần có sự giới hạn của pháp luật.
Bản chất của hợp đồng nói chung là việc các chủ thể trong xã hội tự do thoả
thuận, thống nhất ý chí nhằm xác lập, điều chỉnh hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể đó. Đây là căn cứ để phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên. Pháp luật
Việt Nam hiện hành không có quy định về hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, Bộ luật
dân sự năm 2005 có quy định khái niệm chung về hợp đồng dân sự tại Điều 388, như
sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 1 của Bộ luật dân
sự năm 2005 thì “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách
ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về ….,
kinh doanh, thương mại…”. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng tiếp tục kế thừa các quy định
này tại Điều 1 và Điều 385. Theo đó, khi Luật thương mại năm 2005 không có quy
định cụ thể về định nghĩa của hợp đồng thương mại thì định nghĩa về hợp đồng dân sự
chung sẽ được áp dụng trên cơ sở phù hợp với quy định về quan hệ thương mại.
dụng sẽ do bên không có mục đích lợi nhuận trong hợp đồng đó quyết định (khoản 3,
Điều 1, Luật thương mại năm 2005).
Hợp đồng được hình thành trên cơ sở tự do thoả thuận, thống nhất ý chí của các
bên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, không phải lúc nào các bên cũng
thực hiện các nghĩa vụ của mình một cách phù hợp và đúng đắn theo hợp đồng. Trong
trường hợp đó, các hành vi này sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng.
Các hành vi vi phạm hợp đồng được biểu hiện dưới hình thức không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng. Các nghĩa vụ
này không chỉ là các nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng, mà nó còn có thể bao gồm
những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Ví dụ như, theo quy định tại khoản 3, Điều
49, Luật thương mại năm 2005, “Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ
trường hợp có thoả thuận khác”. Như vậy, trong trường hợp các bên không có thoả
thuận về vấn đề bảo hành trong hợp đồng thì quy định của Luật thương mại năm 2005
sẽ đương nhiên được áp dụng và khi đó, nghĩa vụ chịu các chi phí bảo hành sẽ thuộc về
bên bán. Trong trường hợp này nếu bên bán không chịu các chi phí bảo hành thì sẽ được
coi là hành vi vi phạm hợp đồng.
Nhìn chung có thể hiểu, hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng một cách không đúng đắn, không phù hợp của một bên trong hợp đồng.
13
Khi một hợp đồng đã được xác lập nhưng một trong các bên của hợp đồng không
thực hiện đúng theo các nghĩa vụ đã được thoả thuận sẽ dẫn đến hậu quả bên còn lại
không đạt được một phần hoặc toàn bộ mục đích của việc giao kết hợp đồng. Khi đó,
bên vi phạm sẽ phải gánh chịu trách nhiệm cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình.
Đây là trách nhiệm dân sự - một loại trách nhiệm pháp lý được quy định tại Bộ luật dân
sự năm 2005. Trách nhiệm pháp lý là các hậu quả bất lợi mà chủ thể có hành vi vi phạm
hợp đồng phải gánh chịu. Những quy định về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi
phạm hợp đồng sẽ góp phần đảm bảo việc thực thi hợp đồng cũng như tính nghiêm
Chế tài chỉ được đặt ra, khi các bên có sự vi phạm đối với các thoả thuận đó. Hành vi vi
phạm này cũng sẽ là căn cứ cơ bản và quan trọng nhất để xác định các bên có bị áp
dụng chế tài hay không (có đầy đủ các căn cứ để xác định trách nhiệm không) và nếu áp
dụng thì hình thức chế tài được áp dụng là gì.
Theo quy định tại Điều 303, Bộ luật dân sự năm 2005 thì “Bên có nghĩa vụ mà
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự
đối với bên có quyền”. Như vậy, hành vi vi phạm ở đây là không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ . Bộ luật dân sự năm 2015 có một số điều chỉnh về khái niệm
này, theo đó “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng
thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của
nghĩa vụ”. Theo khoản 12, Điều 3, Luật thương mại năm 2005 thì “Vi phạm hợp đồng
là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”. Như vậy, vi
phạm hợp đồng được luật thương mại định nghĩa là hành vi không thực hiện, thực hiện
không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Đối chiếu với Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT thì “Không thực hiện hợp đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa
vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm
trễ”.
Như vậy, nhìn chung pháp luật trong nước và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đều
đưa ra các dạng vi phạm hợp đồng là “không thực hiện”, “thực hiện không đúng nghĩa
vụ” là hành vi vi phạm hợp đồng – căn cứ để áp dụng chế tài xử lý vi phạm.
Vấn đề thứ hai cần phải xem xét khi xác định hành vi vi phạm hợp đồng thương
mại đó là hành vi vi phạm hợp đồng bao gồm hành vi vi phạm cơ bản và hành vi vi
phạm không cơ bản. Đây không chỉ là sự phân biệt của riêng pháp luật Việt Nam mà nó
đã được luật quốc tế công nhận, vì hai loại hành vi vi phạm này có tính nghiêm trọng
khác nhau và có thể dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau. Theo quy định tại khoản 13,
Điều 3, Luật thương mại năm 2005: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một
bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của
việc giao kết hợp đồng”. Bộ luật dân sự năm 2005 không có quy định về vi phạm cơ bản
mà có nhắc tới vi phạm nghiêm trọng là một căn cứ để áp dụng chế tài huỷ bỏ hợp đồng
phạm sẽ phải gánh chịu hậu quả bằng việc bị bắt buộc yêu cầu phải thực hiện hợp đồng,
không được tiếp tục thực hiện hợp đồng trong một khoảng thời gian hoặc dừng thực
hiện hợp đồng. Đây đều là các chế tài gắn với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp
đồng. Ngoài ra, các biện pháp này cũng có thể ảnh hưởng đến tài sản vật chất của bên vi
phạm. Ví dụ như khi bị yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng, điều này có thể ảnh hưởng đến mục
đích lợi nhuận của bên vi phạm.
Do đó, có thể thấy chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có tính tài sản
và/hoặc gắn với việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng.
16
1.1.1.2.3. Chế tài do vi phạm hợp đồng được áp dụng trực tiếp đối với bên vi phạm
Các bên có quyền tự do thoả thuận, giao kết hợp đồng trên cơ sở phù hợp với quy
định của pháp luật. Thoả thuận, hợp đồng đó sẽ làm cơ sở ràng buộc, phát sinh các
quyền nghĩa vụ của các bên. Do đó, khi bên vi phạm hợp đồng có hành vi vi phạm thì
bên vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với bên bị vi phạm. Các chế tài do vi
phạm pháp luật mà pháp luật quy định là các quy định buộc bên vi phạm phải có trách
nhiệm với hành vi mà mình gây ra.
1.1.1.2.4. Bên bị vi phạm có quyền lựa chọn áp dụng các hình thức chế tài do vi phạm
hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật
Trong phạm vi pháp luật cho phép, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bên vi phạm
chịu một hoặc nhiều chế tài theo thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của
pháp luật hay cũng có thể từ bỏ quyền yêu cầu của minh. Trong trường hợp bên vi phạm
không thực hiện theo yêu cầu của bên bị vi phạm. Bên bị vi phạm có thể yêu cầu Toà án
hoặc trọng tài bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên, Toà án hay trọng tài trong
trường hợp này không quyết định việc áp dụng chế tài nào đối với bên vi phạm mà
quyền quyết định yêu cầu thuộc về bên bị vi phạm. Theo đó, bên bị vi phạm sẽ đưa ra
các yêu cầu của mình đối với bên vi phạm và Toà án/Trọng tài sẽ là chủ thể công nhận
hoặc bác bỏ yêu cầu của bên bị vi phạm trên cơ sở các thoả thuận trong hợp đồng và
thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, có 6 chế tài cụ thể đối với vi
phạm hợp đồng thương mại. Ngoài ra các bên có thể thoả thuận các biện pháp khác
không trái với quy định của pháp luật, điều ước quốc tế và tập quán thương mại. Như đã
trình bày ở trên, việc áp dụng chế tài nào sẽ phụ thuộc vào lựa chọn của bên bị vi phạm
tuy nhiên, pháp luật vẫn có hạn chế đối với quyền lựa chọn đó nhằm bảo vệ được quyền
và lợi ích của tất cả các bên. Ví dụ như đối với chế tài phạt vi phạm, nếu các bên không
có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm sẽ chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt
hại (Điều 307, Luật thương mại năm 2005).
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là hình thức chế tài mà theo đó, bên vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng phải thực hiện đúng theo hợp đồng hoặc áp dụng các biện pháp khác
để hợp đồng được thực hiện theo yêu cầu của bên bị vi phạm. Bên vi phạm sẽ phải chịu
toàn bộ các chi phí phát sinh để có thể thực hiện được yêu cầu của bên bị vi phạm. Đây
có thể được coi là một chế tài mang tính thiện chí của bên bị vi phạm vì nó không nhằm
mục đích đạt được sự bồi thường hay tiền phạt của bên vi phạm mà chỉ có mục đích để
hợp đồng tiếp tục được thực hiện theo những điều khoản và điều kiện đã được các bên
cam kết từ đầu.
Phạt hợp đồng là chế tài mà theo đó, bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm
một khoản tiền đã được hai bên thoả thuận trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp
luật. Hình thức này có ý nghĩa phòng ngừa hành vi vi phạm hợp đồng đồng thời nhằm
mục đích trừng phạt, giáo dục ý thức tôn trọng các nội dung đã thoả thuận trong hợp
đồng.
18
Bồi thường thiệt hại là một chế tài mang tính bù đắp đối với các thiệt hại vật chất
của bên bị vi phạm do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm. Theo đó, hình thức
này sẽ chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra. Bên yêu cầu bồi thường sẽ phải chứng
minh được mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị
vi phạm không yêu cầu áp dụng chế tài). Do đó, các bên đều có thể thấy trước được các
19
nguy cơ xảy ra trong trường hợp vi phạm hợp đồng. Điều này sẽ giúp hạn chế các hành
vi vi phạm, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên.
1.1.3.2. Vai trò bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng
Khi giao kết hợp đồng, các bên đều mong muốn có thể đạt được những mục đích
nhất định. Trong khi đó, hành vi vi phạm hợp đồng của một bên sẽ trở thành mối nguy
hại đối với lợi ích của bên bị vi phạm. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích của bên bị vi
phạm thì chế tài có một vai trò rất quan trọng. Qua đó, bên bị vi phạm có thể được bù
đắp các tổn thất, đảm bảo các thoả thuận sẽ được thực hiện, đồng thời bên vi phạm cũng
được bảo vệ thông qua các quy định của phạm luật về các căn cứ, các trường hợp miễn
trách nhiệm để việc xử lý vi phạm hợp đồng thật sự công bằng cho tất cả các bên. Việc
pháp luật có quy định nhiều loại chế tài khác nhau đã tạo điều kiện cho các chủ thể có
các phương thức xử lý vi phạm hợp đồng trong các trường hợp cụ thể. Qua đó, bảo vệ
các quyền và lợi ích của các bên một cách hiệu quả nhất.
1.2
Khái quát về Bộ Nguyên tắc UNIDROIT và các biện pháp đối với hành vi
không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
1.2.1 Lịch sử hình thành của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
UNIDROIT (International Institute for the Unification of Private Law/Institut
international pour l'unification du droit privé) – Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật
tư là một tổ chức liên chính phủ độc lập với trụ sở được đặt tại Villa Aldobrandini,
Rome. UNIDROIT được thành lập lần đầu vào năm 1926 như là một cơ quan phụ trợ
của Hội quốc tế (League of Nation) – Tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc. Sau sự tan
rã của Hội quốc tế, UNIDROIT đã được thiết lập lại vào năm 1940 trên cơ sở một thoả
thuận đa phương – UNIDROIT Statute. Mục đích hoạt động của UNIDROIT là nhằm
Ngay từ năm 1971 Hội Đồng UNIDROIT đã quyết định đặt vấn đề này vào
chương trình làm việc. Một uỷ ban chuyên trách gồm những giáo sư René David
(Pháp), Clive M.Smitthoff (Anh) và Tudor Popescu (Rumani), đại diện cho ba trường
phái luật lớn (thông luật – common law, luật dân sự - civil law và hệ thống xã hội chủ
nghĩa – socialist systems) đã được thành lập để xác định tính khả thi của việc biên soạn
Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế. Đó là các trường phái: luật Dân sự (Civil
Law hoặc Continetal Law), luật thông dụng (Common Law hoặc AngloSaxon Law), và
luật xã hội chủ nghĩa (socialist Systems). Tuy vậy, mãi tới năm 1980 UNIDROIT mới
thành lập được Nhóm Công tác đặc biệt để soạn thảo các Chương trong Nguyên tắc
Hợp đồng Thương mại Quốc tế. Nhóm này bao gồm các đại biểu của các hệ thống luật
lớn trên thế giới và các chuyên gia hàng đầu về luật Hợp đồng và luật Thương mại
Quốc tế. Phần lớn trong số họ là các nhà khoa học, cùng với một vài thẩm phán và viên
chức có uy tín, những người có khả năng thực sự.3
2 International Institute for the Unification of Private Law (1994), “Principles of International Commercial
Contract”
21
1.2.2
Nguyên tắc áp dụng Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
Với mục tiêu hướng tới cách giải quyết công bằng đối với các vấn đề phát sinh
trong quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế dù dưới góc nhìn của bất kỳ hệ thống pháp
luật nào, các quy định trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đều sử dụng các khái niệm đã
được công nhận một cách rộng rãi đồng thời có sự tương thích với các tập quán thương
mại quốc tế. Do được xây dựng trên cơ sở sự thoả thuận và thống nhất của các chuyên
gia hàng đầu của các hệ thống luật trên toàn thế giới. Vì vậy, Bộ Nguyên tắc
mercatoria” hay một cách diễn đạt tương tự; (iii) Bộ Nguyên tắc này cũng có thể được
áp dụng khi các bên không lựa chọn một luật cụ thể nào
điều chỉnh hợp đồng của họ; (iv) Bộ Nguyên tắc này có thể được sử dụng để giải thích
hay bổ sung cho các văn bản luật quốc tế thống nhất khác; (v) Bộ Nguyên tắc cũng có
thể được được áp dụng khi hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp luật của một quốc gia cụ
thể mặc dù việc áp dụng Bộ Nguyên tắc không được quy định trong hợp đồng. Trong
trường hơp này, khi phải giải quyết một vấn đề cụ thể, nếu nhận thấy không để đưa ra
một quy định liên quan của nội luật và một giải pháp có thể được tìm thấy trong Bộ
Nguyên tắc thì Bộ Nguyên tắc có thể được áp dụng. Tuy nhiên, việc căn cứ vào Bộ
Nguyên tắc như một biện pháp thay thế cho nội luật là giải pháp cuối cùng được cân
nhắc đến trong trường hợp này4; (vi) Bộ Nguyên tắc còn có thể được áp dụng như một
công cụ để làm mẫu cho các nhà lập pháp quốc gia và quốc tế.
1.2.3
Biện pháp đối với hành vi không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT
Không giống như trong Luật thương mại năm 2005, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT
sử dụng thuật ngữ “non-performance” – không thực hiện hợp đồng thay vì thuật ngữ vi
phạm hợp đồng. Mặc dù có tên gọi khác nhau do một khái niệm xuất phát từ hệ thống
pháp luật Anh – Mỹ (breach of contract) và một khái niệm xuất phát từ hệ thống pháp
luật Roman (non-performance) nhưng về cơ bản đây là hai khái niệm không có sự khác
biệt về mặt bản chất. Cả hai khái niệm này đều là khái niệm về các hành vi không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng.
Ngoài ra, nếu như pháp luật Việt Nam ghi nhận hai thuật ngữ là “trách nhiệm do
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng” (civil liability for breach of civil obligations) trong Bộ luật
dân sự năm 2005 (Điều 302) và “chế tài trong thương mại” (trade sanctions) trong Luật
thương mại năm 2005 (Chương VII) thì Bộ Nguyên tắc UNIDROIT sử dụng thuật ngữ
biện pháp đối với các hành vi không thực hiện hợp đồng (remedies for breach of
contract). Các khái niệm này đều nhằm mục đích đề cập đến các biện pháp, hành vi mà
hợp đồng/không thực hiện hợp đồng nên các biện pháp/chế tài này thường sẽ có tính bất
lợi cho chủ thể vi phạm/không thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, với các cách tiếp cận
khác nhau, vì vậy, tính cân bằng về quyền lợi của các bên khi áp dụng các biện pháp khi
xảy ra hành vi không thực hiện hợp đồng trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT là cao hơn
so với quy định tại Luật thương mại năm 2005. Do tiếp cận dưới góc độ là chế tài, mang
nhiều tính chất trừng phạt, do đó, quy định tại Luật thương mại năm 2005 có phần ưu
đãi cho quyền của bên bị vi phạm nhiều hơn so với Bộ Nguyên tắc UNIDROIT với cách
tiếp cận biện pháp bồi thường và chỉ hướng tới bồi thường, bù đắp.
Mặc dù có sự khác biệt trong việc sử dụng các thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” và
“không thực hiện hợp đồng”, “chế tài” và “biện pháp khi có hành vi không thực hiện
hợp đồng”; tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, xuất phát từ mục đích nghiên cứu
của luận văn là nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam và để thống nhất cách sử dụng một
thuật ngữ nhằm thuận tiện trong quá trình so sánh, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “vi
phạm hợp đồng” và “chế tài” như tên đề tài đã đưa ra.
24
Trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT, không thực hiện hợp đồng được quy định ở
Chương 7, theo đó, trong chương này, Bộ nguyên tắc đưa ra các quy định chung về
không thực hiện hợp đồng và các biện pháp xử lý trong trường hợp xảy ra hành vi
không thực hiện hợp đồng. Khái niệm không thực hiện hợp đồng được quy định tại
Điều 7.1.1: “Không thực hiện hợp đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa vụ
nào đó phát sinh từ hợp đồng, kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm trễ”.
Khái niệm này thể hiện hai đặc điểm của không thực hiện hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT, thứ nhất, không thực hiện hợp đồng trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT bao
gồm tất cả các hình thức của việc thực hiện không đúng hợp đồng cũng như việc hoàn
toàn không thực hiện hợp đồng. Thứ hai, không thực hiện hợp đồng bao gồm cả việc
không thực hiện hợp đồng được phép và không được phép.5
Nội dung về không thực hiện hợp đồng và các biện pháp trong trường hợp xảy ra
Khi ký kết hợp đồng, các bên đều mong muốn đạt được các mục đích nhất định.
Do đó, tư tưởng thống nhất khi xây dựng quy định về phương thức xử lý khi xảy ra các
hành vi không thực hiện hợp đồng trong nội luật của các nước hay trong pháp luật quốc
tế đó là ưu tiên áp dụng các biện pháp để có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng và giảm
thiểu các trường hợp mà ở đó hợp đồng bị chấm dứt trước khi việc thực hiện được hoàn
thiện. Bộ Nguyên tắc UNIDROIT cũng không phải là ngoại lệ. Mục 1 của Chương 7 tập
trung vào việc đưa ra quy định cơ bản về không thực hiện hợp đồng và đưa ra những
quy định để các bên có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng và tránh việc phải chấm dứt hợp
đồng, đặc biệt là bởi các phương thức như Sự khắc phục của bên có nghĩa vụ - Cure by
non-performing party (Điều 7.1.4) và Thời hạn bổ sung thực hiện nghĩa vụ - Additional
Period for Performance (Điều 7.1.5). Đây là các phương thức được xây dựng để thúc
đẩy việc thực hiện hợp đồng thay vì dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng sau khi các bên đã
gặp phải các khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Mục 2 là các quy định với cách thức được coi là hiệu quả và hài hoà hơn đó là
thông qua quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng – hay còn được gọi là buộc thực hiện hợp
đồng (specific performance) và cũng là một biện pháp cơ bản được ưu tiên sử dụng
trong những quy định của CISG cũng như trong nhiều hệ thống luật trên thế giới (bao
gồm cả Việt Nam). Điều 7.2.1 (Thực hiện nghĩa vụ thanh toán) và Điều 2.2.2 (Thực
hiện nghĩa vụ phi tiền tệ) đưa ra các ưu tiên chung trong thứ tự thực hiện nhưng điều
7.2.2 cũng lưu ý các ngoại lệ đối với quy định chung này. Điều 7.2.3 đặc biệt giải quyết
vấn đề sửa chữa và thay thế đối với các trường hợp thực hiện nghĩa vụ không đúng.
Mặc dù được coi là phương pháp cứng rắn nhất và thường chỉ được xem xét cuối
cùng trong trường hợp không thực hiện hợp đồng, quyền chấm dứt hợp đồng cũng được
Bộ Nguyên tắc UNIDROIT đảm bảo tại Mục 3, Chương 7. Theo đó, Điều 7.3.1 và 7.3.2
đưa ra các quy định chung về quyền huỷ hợp đồng và thông báo huỷ hợp đồng. Điều
6 Arthur Rosett (1997), “UNIDROIT Principles and Harmonization of International Commercial Law: Focus on
Chapter Seven”, tại địa chỉ http://www.unidroit.org/english/publications/review/articles/1997-3-rosett-e.pdf ngày
truy cập 10/11/2016