BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HỒ THỊ QUỲNH TRANG
SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 2012
VÀ PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Ngân Bình
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Học viên
Hồ Thị Quỳnh Trang
Hợp đồng lao động
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài .................................................................. 4
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài .................................................................... 4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài ................................ 5
6. Cơ cấu của luận văn ................................................................................... 6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO
ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ......... 7
CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG ....................................................................... 7
1.1. Những vấn đề lý luận về cho thuê lại lao động ........................................ 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho thuê lại lao động ................ 7
1.1.1.1 Khái niệm cho thuê lại lao động ......................................................... 7
1.1.2 Ảnh hưởng của hoạt động cho thuê lại lao động ................................. 13
1.1.2.1 Ảnh hưởng tích cực........................................................................... 13
1.1.2.2. Ảnh hưởng tiêu cực.......................................................................... 16
1.1.3 Phân biệt hoạt động cho thuê lại lao động với một số hoạt động khác.17
1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động................ 19
động và doanh nghiệp thuê lại lao động ....................................................... 41
2.3.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cho thuê lại lao động... 44
2.3.4.1. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động ............ 44
2.3.4.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thuê lại lao động ................... 47
2.3.4.3. Quyền và nghĩa vụ của NLĐ thuê lại ............................................... 51
2.3.5. Trách nhiệm pháp lý đối với các bên khi vi phạm pháp luật về cho thuê
lại lao động .................................................................................................. 52
Kết luận chương 2 ........................................................................................ 54
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ
CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ THAM KHẢO ..................... 55
KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC ....................................................... 55
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao động của Việt
Nam ............................................................................................................. 55
3.2. Những yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao
động của Việt Nam....................................................................................... 56
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao động của
Việt Nam trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc trong điều kiện
thực tế ở Việt Nam ....................................................................................... 58
3.3.1.Đề xuất hình thức pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động
..................................................................................................................... 58
3.3.2. Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao
động ............................................................................................................. 60
Kết luận chương 3 ........................................................................................ 68
KẾT LUẬN.................................................................................................. 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 71
1
2
gia có nền lập pháp phát triển trong khu vực nói riêng và trên toàn thế giới
nói chung.
Trong số các quốc gia đó, Trung Quốc là sự lựa chọn được các nhà
nghiên cứu lập pháp đặc biệt quan tâm bởi Trung Quốc có nhiều điểm
tương đồng với Việt Nam về điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
“Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia xây dựng Nhà nước theo con
đường xã hội chủ nghĩa. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản với Nhà nước”. Việt Nam và Trung Quốc chủ trương xây dựng
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường và
định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, Trung Quốc và Việt Nam còn
có đặc điểm chung đều là các thành viên mới gia nhập Tổ chức Thương
mại quốc tế. Đối với cả hai quốc gia, việc tham gia vào Tổ chức Thương
mại quốc tế là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hệ thống pháp luật nói
chung và pháp luật về cho thuê lại lao động nói riêng. Đồng thời, Trung
Quốc cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật
khi chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc nghiên cứu pháp luật về cho thuê lại lao động
của Trung Quốc thông qua so sánh hai hệ thống pháp luật của Việt Nam và
Trung Quốc điều chỉnh vấn đề cho thuê lại lao động sẽ góp phần tiếp thu
học hỏi những kinh nghiệm của Trung Quốc để hoàn thiện các quy định về
cho thuê lại lao động là cần thiết.
Đây là những lý do cơ bản để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “So
sánh các quy định về cho thuê lại lao động trong BLLĐ Việt Nam 2012
và pháp luật Trung Quốc”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, vấn đề cho thuê lại lao động còn khá mới mẻ. Trước khi
BLLĐ2012 được thông qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu về
từ thời điểm này cũng đã có một số bài viết trên các báo, tạp chí viết về các
quy định về cho thuê lại lao động trong BLLĐ 2012, tuy nhiên các bài viết
4
mới chỉ tập trung viết một vài khía cạnh của vấn đề. Hiện nay vẫn chưa có
công trình nào nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về quy định về cho thuê
lại lao động trong BLLĐ Việt Nam 2012, đặc biệt là việc nghiên cứu trên
cơ sở tìm hiểu pháp luật nước ngoài để nhằm bổ sung, hoàn thiện pháp luật
về cho thuê lại lao động. Chính vì vậy công trình nghiên cứu đề tài “So
sánh các quy định về cho thuê lại lao động trong BLLĐ Việt Nam 2012
và pháp luật Trung Quốc” hoàn toàn độc lập và không phải sự lặp lại của
công trình nghiên cứu nào.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nói trên nhằm hướng tới những mục tiêu sau đây:
Thứ nhất, tìm hiểu những vấn đề chung có tính chất lý luận về cho
thuê lại lao động và pháp luật về cho thuê lại lao động
Thứ hai, so sánh quy định về cho thuê lại lao động trong BLLĐ Việt
Nam 2012 và Luật hợp đồng lao động Trung Quốc để tìm ra những điểm
tương đồng và khác biệt giữa pháp luật hai nước về vấn đề này.
Thứ ba, tìm hiểu những kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc ban
hành và thực thi pháp luật về cho thuê lại lao động. Từ đó, xem xét khả
năng vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc trong điều kiện thực tiễn ở
Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn này tập trung nghiên cứu pháp luật về cho thuê lại lao động
trong BLLĐ Việt Nam 2012 và pháp luật Trung Quốc vì đây là đề tài có
tính chất so sánh và tìm hiểu pháp luật của 2 quốc gia nói trên. Các vấn đề
được nghiên cứu đó là: i) các điều kiện đối với các bên tham gia hoạt động
Thứ hai, kết hợp các phương pháp đối chiếu, phân tích, đánh giá dựa
trên việc sử dụng so sánh để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt
giữa các quy định về cho thuê lại lao động của pháp luật Việt Nam và
Trung Quốc, lý giải được nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó.
Trên cơ sở kết quả của các phương pháp trên sẽ đánh giá tính hợp lý các
bài học kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và thực hiện về pháp
6
luật cho thuê lại lao động. Từ đó, vận dụng linh hoạt kinh nghiệm của
Trung Quốc để hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao động của Việt Nam.
6. Cơ cấu của luận văn
Luận văn bao gồm Lời nói đầu, 3 chương, Kết luận và Danh mục tài
liệu tham khảo. Ba chương của luận văn với nội dung sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cho thuê lại lao động và sự điều
chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động
Chương 2: Những điểm tương đồng và khác biệt trong BLLĐ Việt
Nam 2012 và pháp luật Trung Quốc khi quy định về cho thuê lại lao động
Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về cho thuê lại
lao động của Việt Nam trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc.
7
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
sử dụng NLĐ nhằm mục đích cung ứng cho bên thứ ba. Bên thứ ba này sẽ
giao việc và giám sát NLĐ trong việc thực hiện công việc được giao...
Trong mối quan hệ đó, một tổ chức việc làm tư nhân có thể là “NSDLĐ”
chính nhưng doanh nghiệp sử dụng cũng sẽ gánh một số nghĩa vụ của
NSDLĐ khi mối quan hệ giữa doanh nghiệp sử dụng và NLĐ bao hàm
những yếu tố lệ thuộc hay phụ thuộc2. Như vậy, có thể thấy cho thuê lao
động (quan hệ việc làm tam giác) theo quan điểm của ILO được hiểu là
việc các tổ chức việc làm tư nhân (chủ sử dụng lao động chính) tuyển dụng
lao động nhưng không trực tiếp sử dụng mà để cung cấp lao động cho bên
thứ ba (doanh nghiệp trực tiếp sử dụng lao động). Doanh nghiệp sử dụng
lao động có quyền giao việc cũng như giám sát NLĐ trong việc thực hiện
công việc được giao nhưng quyền lợi của NLĐ lại do tổ chức việc làm tư
nhân chịu trách nhiệm chính.
Ở Việt Nam, hoạt động này vẫn còn khá mới mẻ và vấn đề này lần
đầu tiên được ghi nhận trong BLLĐ 2012. Tại Điều 53 –BLLĐ 2012 quy
định: “Cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng
bởi một doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau
đó làm việc cho một người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của
người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh
nghiệp cho thuê lại lao động.” Việt Nam tiếp cận quan niệm về cho thuê lại
lao động dưới góc độ NLĐ cho thuê lại. Theo khái niệm trên thì lao động
cho thuê lại là những NLĐ đã được tuyển dụng bởi một doanh nghiệp
(bằng HĐLĐ giữa NLĐ và doanh nghiệp đó), được NSDLĐ khác thuê lại
trong một thời gian nhất định thông qua hợp đồng cho thuê lại lao động
giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động. Trong
thời gian làm việc cho bên thuê lại lao động, NLĐ chịu sự quản lý, điều
2
ThS. Mai Đức Thiện (2011, tr.31)
10
(góc độ của NLĐ được cho thuê lại hay góc độ doanh nghiệp cho thuê lại
lao động) thì nhìn chung cho thuê lại lao động đều có một số dấu hiệu sau:
- Doanh nghiệp cho thuê lao động tuyển dụng và ký kết các HĐLĐ
đối với NLĐ nhưng sau đó lại cho NSDLĐ khác thuê lại trong một thời hạn
nhất định theo hợp đồng cho thuê lại giữa hai NSDLĐ.
- Quyền lợi của NLĐ thuê lại vẫn do doanh nghiệp cho thuê lại lao
động thực hiện và đảm bảo.
- Trong thời gian làm việc ở bên thuê lại lao động, NLĐ phải chịu sự
giám sát điều hành của bên thuê lại lao động.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về cho thuê lại lao
động như sau: Cho thuê lại lao động là việc một doanh nghiệp tiến hành
tuyển dụng lao động (ký hợp đồng đối với NLĐ) nhưng sau đó lại cho
doanh nghiệp khác thuê lại để sử dụng trong một thời gian nhất định.
Trong thời gian làm việc tại doanh nghiệp thuê lại lao động, quyền lợi của
NLĐ vẫn do doanh nghiệp cho thuê lao động đảm bảo nhưng NLĐ phải
chịu sự giám sát, điều hành, quản lý của doanh nghiệp thuê lại lao động.
1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động cho thuê lại lao động
Thứ nhất, hoạt động cho thuê lại lao động có sự tham gia của ba chủ
thể
Hoạt động cho thuê lại lao động luôn có sự tham gia của ba chủ thể:
NLĐ cung ứng sức lao động để đổi lấy tiền lương; doanh nghiệp cho thuê
lại lao động là người tuyển dụng, ký HĐLĐ với NLĐ và cử NLĐ đến làm
việc trong doanh nghiệp khác; và bên thuê lại lao động là người nhận NLĐ
từ doanh nghiệp cho thuê lại lao động và trực tiếp sử dụng lao động đó cho
các hoạt động kinh doanh của mình. Bên thuê lại lao động có thể là tổ chức,
cá nhân, nhưng chủ yếu vẫn là doanh nghiệp bởi nhu cầu lớn về lao động
với những quan hệ việc làm truyền thống, cho thuê lại lao động là một hoạt
động kinh doanh của bên cho thuê lại lao động, không chỉ liên quan chặt
3
ThS. Mai Đức Thiện (2011, tr 29)
12
chẽ đến quyền và nghĩa vụ của các bên, đặc biệt là bên yếu thế NLĐ, mà
còn ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, quy hoạch vùng, chính sách việc
làm, trật tự xã hội của một quốc gia. Vì vậy mà các nước luôn đặt hoạt
động cho thuê lại lao động là một ngành kinh doanh có điều kiện, theo đó
pháp luật đặt ra các điều kiện đối với bên cho thuê lại lao động để đảm bảo
giao dịch giữa các chủ thể được diễn ra một cách an toàn và nhằm bảo đảm
quyền lợi cho NLĐ, giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia quan hệ, phát
triển kinh tế - xã hội theo đúng hướng.
Thứ ba, hoạt động cho thuê lại lao động vừa mang tính kinh tế, vừa
mang tính xã hội
Hoạt động này phải dựa vào và chịu sự điều tiết của các quy luật
kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung –
cầu. Bên cung cấp lao động phải tính toán mọi hoạt động của mình làm sao
để bù đắp được chi phí và có lãi; bên có nhu cầu sử dụng lao động cũng
phải tính toán kỹ hiệu quả của việc sử dụng lao động đem lại. Đó là những
biểu hiện mang tính kinh tế.
Về mặt xã hội, cho thuê lại lao động là giải pháp quan trọng nhằm
giải quyết việc làm cho lực lượng lao động, qua đó góp phần đảm bảo cuộc
sống của NLĐ cùng gia đình của họ, đồng thời còn góp phần giải quyết nạn
thất nghiệp đang nhức nhối trong xã hội.
Như vậy, cho thuê lại lao động chứa đựng đồng bộ các yếu tố kinh tế
31 triệu Đô la Mỹ, Randstad của Hà Lan với trên 23 triệu Đô la Mỹ,
Manpower của Mỹ với trên 21 triệu Đô la mỹ trong năm 20084. Đặc biệt,
các công ty này đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, với nguồn doanh thu rất
lớn. Tiêu biểu là công ty Adecco của Thụy Sĩ Tập đoàn Adecco đặt trụ sở
tại Thụy Sĩ với hơn 32.000 nhân viên và gần 5.500 chi nhánh tại hơn 60
quốc gia và lãnh thổ. Nhà cung cấp dịch vụ nguồn nhân lực có 50 năm kinh
4
Tổ chức lao động quốc tế (2009)
14
nghiệm này cũng là công ty thuộc nhóm 500 công ty lớn nhất thế giới
(Fortune Global 500)5.
Đối với bên thuê lại lao động, dịch vụ cho thuê lại lao động có thể
nói là một giải pháp hữu hiệu mang lại nhiều thuận lợi. Hoạt động cho thuê
lại lao động giúp cung cấp đầy đủ và kịp thời số lao động có tay nghề cần
thiết cho các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc thù hay
theo thời vụ, giúp các doanh nghiệp này đỡ mất thời gian và chi phí tuyển
dụng, đào tạo. Khi hết nhu cầu lao động thì doanh nghiệp đi thuê lại lao
động có thể cắt giảm nhanh chóng số lượng lao động theo hợp đồng cung
cấp dịch vụ với doanh nghiệp cho thuê lại lao động mà không bị ràng buộc
bởi các quy định của pháp luật lao động. Cho thuê lại lao động tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với nguồn nhân lực cao cấp
như các chuyên gia, nhà quản lý kinh nghiệm...với giá cả phải chăng bằng
việc thuê lại các nhân sự này trong một thời hạn nhất định, thay vì chi phí
rất cao nếu họ làm việc thường xuyên tại doanh nghiệp. Hoạt động cho thuê
lại lao động cũng có thể giúp cho doanh nghiệp đi thuê lại lao động hấp dẫn
nghiên cứu của ILO, ngành công nghiệp dịch vụ việc làm tư nhân toàn cầu
đã phát triển nhanh chóng kể từ giữa những năm 1990 – và tăng gấp đôi
trong giai đoạn 1994 – 1999 và một lần nữa trong các năm 1996 – 2006 đạt
mức 341 tỷ USD trong năm 2007. Trong năm 2007 sáu thị trường quốc gia
thống trị ngành công nghiệp này trên toàn cầu, chiếm 80% tổng doanh thu;
Hoa kỳ (28%), Vương quốc Anh (16%), Nhật Bản (14%), Pháp (9%), Đức
(6%), Hà Lan (5%), các thị trường còn lại chiếm 20% tổng doanh thu trên
toàn cầu. Con số này phản ánh sự phát triển nhanh chóng từ chỉ có 8%
trong năm 2004, phản ánh cả sự tăng trưởng thực tếvà dự liệu sẵn có về
mức độ việc làm tạm thời trong thị trường (ví dụ Brazil không có dữ liệu
trong năm 2004, những vẫn đại diện cho 3% thị trường toàn cầu trong năm
2007). Trong thập kỷ qua, thị trường tăng trưởng mạnh nhất là Nhật Bản,
từ quy mô thị trường là 14,7 tỷ USD năm 2000 lên 43,3 tỷ USD trong năm
20077.
6
7
Youngmo Yoon (2011, tr.11)
Tổ chức lao động Quốc tế (2009, tr. 158)
16
Như vậy, dịch vụ cung cấp lao động tư nhân đã góp phần tăng trưởng
GDP cho các quốc gia, có thể thấy những nền kinh tế lớn trên thế giới
ngành dịch vụ này phát triển rất mạnh. Hằng năm các công ty này cũng
đóng góp một lượng đáng kể vào ngân sách Nhà nước thông qua việc đóng
các loại thuế theo quy định của pháp luật. Về mặt xã hội, cho thuê lại lao
động tạo ra cơ hội việc làm cho NLĐ, giảm gánh nặng của nhà nước đối
với vấn nạn thất nghiệp, từ đó bảo đảm trật tự xã hội, nâng cao đời sống
1.1.3 Phân biệt hoạt động cho thuê lại lao động với một số hoạt
động khác
Hiện nay có một số hoạt động có nhiều đặc điểm gần giống với hoạt
động cho thuê lại lao động, chẳng hạn như : cung ứng lao động, môi giới
lao động, thuê dịch vụ... Để có sự điều chỉnh đúng đắn đối với hoạt động
cho thuê lại lao động cần phân biệt hoạt động cho thuê lại lao động với các
hoạt động trên.
a) Cho thuê lại lao động và thuê dịch vụ
Trong quan hệ cho thuê lại lao động, giữa doanh nghiệp thuê lại lao
động và NLĐ vẫn tồn tại mối quan hệ nhất định: mối quan hệ chỉ quản lý
và NSDLĐ cho thuê lại vẫn có trách nhiệm nhất định đối với NLĐ về điều
kiện làm việc, quản lý lao động…, thì trong quan hệ thuê dịch vụ, bên sử
dụng dịch vụ sẽ không tham gia vào việc điều hành, quản lý NLĐ miễn là
chất lượng dịch vụ đạt được kết quả như họ mong muốn, mọi quyền lợi của
số lao động này sẽ do công ty đã ký kết hợp đồng với họ thực hiện. Trong
quan hệ cho thuê lại lao động, việc NLĐ tham gia vào cơ chế đối thoại giữa
doanh nghiệp cho thuê lao động và doanh nghiệp sử dụng lao động tại nơi
làm việc cần phải được tính đến, còn trong quan hệ thuê dịch vụ việc tham
gia của NLĐ (trực tiếp thực hiện dịch vụ) vào cơ chế đối thoại giữa DN cho
thuê dịch vụ và doanh nghiệp thuê dịch vụ không đặt ra và không cần thiết.
b) Cho thuê lại lao động và “ cung ứng lao động”
Có nhiều chủ thể khác nhau tham gia vào các hoạt động đa dạng làm
cầu nối giữa NLĐ và NSDLĐ, như: các hoạt động giới thiệu việc làm do
18
các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội tổ
chức như hội chợ việc làm hay sàn giao dịch việc làm, hoạt động giới thiệu
việc làm của các tổ chức giới thiệu việc. Ở Việt Nam, các cơ sở pháp lý cho