TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
BÀI TIỂU LUẬN
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ
THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG
(TRỤ CỘT 2) TẠI VIỆT NAM
GVHD : Nguyễn Thị Hai Hằng
Lớp : K09404A
Nhóm : 34
Thành viên nhóm:
1/ Nguyễn Thị Minh Trâm K094040622
2/ Lương Minh Tuấn K094040630
3/ Phạm Lan Hương K095011513
TP.HCM, Năm 2013
MỤC LỤC
O 47
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TCTD Tổ chức tín dụng
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
KLTT Kỷ luật thị trường
BHTG Bảo hiểm tiền gửi
TTNH Thanh tra ngân hàng
"
!
Để hệ thống NHTM Việt Nam tham gia tốt hơn vào sân chơi chung quốc tế, nâng cao
năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập, cần phải tuân thủ theo một số điều ước quốc
tế, để từ đó có cơ sở so sánh, đánh giá và xếp hạng giữa các ngân hàng Việt Nam với các
ngân hàng nước ngoài của các quốc gia khác trên thế giới.
Một trong những điều ước quốc tế được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quan tâm
chính là hiệp ước quốc tế về an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng – còn được biết thông
dụng với tên gọi Hiệp ước Basel. Ra đời từ cách đây hơn 20 năm, hiệp ước này được rất
nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng làm chuẩn mực để đánh giá và giám sát hoạt động của
hệ thống ngân hàng nước mình.
Ở Việt Nam, việc ứng dụng hiệp ước Basel này trong công tác giám sát và quản trị
ngân hàng vẫn còn nhiều vướng mắc, nên chỉ dừng lại ở việc lựa chọn một số tiêu chí đơn
giản trong Hiệp ước Basel I để vận dụng và việc tiếp cận với Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức
tạp và chi phí khá cao và Basel III thì càng chưa được áp dụng rộng rãi vào hệ thống Việt
Nam ta.
Tuy nhiên trong tương lai, các ngân hàng ở Việt Nam, đặc biệt là những ngân hàng có
hoạt động quốc tế, sẽ phải tuân thủ các chuẩn mực Basel để hoàn thiện chính hệ thống quản
trị rủi ro ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Vì thế mà bài tiểu luận “Đánh giá
mức độ đáp ứng các quy định về thanh tra, giám sát ngân hàng (trụ cột 2) ở Việt Nam”
được chọn. Đây chỉ là một trụ cột trong Hiệp ước Basel nhưng việc nghiên cứu về bài tiểu
luận trên giúp cho ta hiểu được một phần nào đó về những quy định thanh tra, giám sát ngân
hàng ở Việt Nam đang được thực hiện ra sao, mức độ như thế nào, Từ đó, tìm được điểm
mạnh và điểm yếu mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang tồn tại nhằm giúp việc áp dụng
Hiệp ước Basel một cách tốt và phù hợp hơn và cũng là cho hệ thống được hoạt động một
cách trơn tru cũng như phát triển kinh tế ngày một tăng trưởng.
#
!
nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu
tiên,… thì điều này có thể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho ngân hàng.
&
!
• Rủi ro uy tín: là rủi ro dư luận đánh giá xấu về ngân hàng, gây khó khăn
nghiêm trọng cho ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách
hàng rời bỏ ngân hàng.
1.1.2. Quản trị rủi ro trong hoạt động NHTM
Quản trị rủi ro so với quản lý rủi ro là khác nhau về mặt ý nghĩa. Quản lý rủi ro là việc
sử dụng các công cụ, biện pháp, quy trình cần thiết nhằm hạn chế tối đa khả năng xảy ra tổn
thất, vì vậy chỉ cần né tránh rủi ro thông qua lựa chọn khách hàng giao dịch hoặc chỉ lựa
chọn những danh mục đầu tư an toàn hơn. Trong khi quản trị rủi ro là việc sử dụng các biện
pháp để xác định và đo lường rủi ro, lựa chọn chấp nhận rủi ro, quản lý kiểm soát rủi ro để
nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả và an toàn.
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là việc theo dõi quá trình sử dụng vốn của
ngân hàng với nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát và hạn chế các loại rủi ro phát sinh cũng như
đưa ra giải pháp xử lý rủi ro hiệu quả nhất, đồng thời xác định tương quan hợp lý giữa vốn
tự có của ngân hàng với mức độ mạo hiểm trong sử dụng vốn của ngân hàng.
Quản trị rủi ro ngân hàng được dựa trên hàng loạt những nguyên tắc, trong đó bao gồm
9 nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc chấp nhận rủi ro.
Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép.
Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt.
Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập.
Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính.
Nguyên tắc hiệu quả kinh tế.
Nguyên tắc hợp lý về thời gian.
Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng.
Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép.
- Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định
nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn
an toàn của ngân hàng. Tiêu chuẩn này quy định:
Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
- Vốn cấp 1: lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố,
như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh
!
viễn; Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority
interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh
doanh (goodwill).
- Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung): Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng
đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ
vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính
và các tổ chức tài chính khác.
- Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
- Vốn tính theo rủi ro gia quyền:Basel I mới chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng, và tùy
theo mỗi loại tài sản sẽ được gắn cho một hệ số rủi ro.
RWA = Tài sản * Hệ số rủi ro
Theo Basel I, hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50%, và
100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản.
Nhìn chung, Basel I đã thể hiện một bước đột phá cơ bản liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn
trong hoạt động ngân hàng. Basel I phân loại tài sản có rủi ro và xác định hệ số rủi ro cho
từng loại tài sản, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% tính trên tổng tài sản điều chỉnh
theo rủi ro.
Những hạn chế của Basel I
Mặc dù Basel I đã giúp quản trị ngân hàng hiệu quả hơn, đảm bảo khả năng chống đỡ
của ngân hàng với rủi ro tốt hơn. Tuy nhiên, qua quá trình dài áp dụng với xu thế phát triển
như vũ bão của hệ thống ngân hàng trên thế giới thì Basel I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn
Nhóm chúng em đã tìm nhiều nguồn thông tin khác nhưng vẫn không thể tìm ra thêm
bốn nguyên tắc được thêm vào, vì thế nhóm chúng em xin chỉ tập trung nói về Bộ 25 nguyên
tắc và sẽ điều chỉnh trong thời gian sớm nhất nếu nhóm chúng em tìm được và nghiên cứu
kỹ nhằm đáp ứng đúng thông tin chân thật về bộ nguyên tắc mới được ban hành.
Tiếp theo sau Hiệp ước Basel I, để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của các
TCTD, đặc biệt là đối với những tập đoàn ngân hàng lớn có phạm vi hoạt động quốc tế, từ
năm 1999, Uỷ ban Basel đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu.
$$
!
Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nhóm nội dung chủ yếu liên quan đến việc giám
sát ngân hàng, bao gồm:
Nguyên tắc về điều kiện cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả
Nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu
Nguyên tắc về quy định và yêu cầu thận trọng
Nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ ngân hàng
Nguyên tắc về yêu cầu thông tin
Nguyên tắc về quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát
Nguyên tắc về ngân hàng xuyên biên giới
1.2.3. Hiệp ước Basel II
Nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I và khuyến khích các ngân hàng thực hiện các
phương án quản lý rủi ro tiên tiến hơn, cho đến 2004 bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel II
đã chính thức được ban hành. Ngày hiệu lực của Hiệp ước Basel II là tháng 12/2006. Basel
II tạo một bước hoàn thiện hơn trong xác định tỷ lệ an toàn vốn nhằm khắc phục các hạn
chế của Basel I và khuyến khích các ngân hàng thực hiện các phương pháp quản lý rủi ro
tiên tiến hơn. Basel II đưa ra một loạt các phương án lựa chọn, cho phép quyền tự quyết rất
lớn trong giám sát hoạt động ngân hàng. Basel II bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát
nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản lý rủi ro và được cấu trúc theo 3 trụ cột sau:
Hình 1.1.Cơ cấu của Hiệp ước Basel II
:; 45
46
<.24=>5>,?2>52@
*+9A /BC
Vốn cấp 2
<.24=>5>,?2>52@
*+9A /BCC
D8+9**+,-
D8+99E*>F
D8+9GHI
$
!
Basel II đưa ra nhiều quy định để các ngân hàng tránh khỏi những rủi ro về mặt dữ
liệu và thông tin ngân hàng có thể phát sinh từ khái niệm, quy tắc đến so sánh, kết hợp
những yếu tố quản lý như một chìa khoá để giảm thiểu rủi ro. Ứng dụng Basel II giúp các
ngân hàng quản trị rủi ro ngân hàng tốt hơn.
1.2.3.2.Trụ cột 2 của Basel II
Do bài tiểu luận của nhóm chỉ tập trung vào các quy định thanh tra, giám sát – tức trụ
cột 2 trong Hiệp ước Basel II, do đó nhóm chỉ trình bày trụ cột 2 của basel II.
• Trong trụ cột 2 của Basel II đề cập đến các nội dung sau:
Đưa ra các nguyên tắc chủ chốt của việc kiểm tra, giám sát, đề cập đến các vấn đề cụ
thể phải được quan tâm trong quá trình kiểm tra giám sát: rủi ro lãi suất trong sổ ngân hàng,
rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường. Các hướng khác của quá trình kiểm tra
giám sát: tính minh bạch giám sát, thông tin liên lạc và sự hợp tác tăng cường qua biên giới.
• Với cột trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc chủ chốt của công tác kiểm
tra, giám sát:
- Nguyên tắc 1: Các ngân hàng cần có một quy trình đánh giá mức độ vốn nội bộ theo
danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược duy trì mức vốn của họ. Trong nội dung
này, quản lý ngân hàng phải gánh trách nhiệm cơ bản ñối với việc khẳng định rằng ngân
hàng có vốn để đủ hỗ trợ các rủi ro xảy ra. Quá trình quản lý rủi ro ngân hàng bao gồm các
- Phương pháp đánh giá nội bộ: Phương pháp này chủ yếu dựa vào đánh giá nội bộ của
ngân hàng về hệ số rủi ro để xác định tỷ lệ vốn cần thiết. Tuy nhiên, vẫn dựa vào hướng dẫn
của Uỷ ban Basel để xác định rủi ro cho từng loại tài sản, bao gồm: Yếu tố cấu thành rủi ro,
Phương trình rủi ro, Mức yêu cầu vốn tối thiểu. Basel II phân định các mức rủi ro trên cơ sở
xếp hạng, do đó các ngân hàng sẽ phải phụ thuộc chủ yếu vào kết quả xếp hạng và đánh giá
độ tín nhiệm của các tổ chức độc lập như Moody, S&P.
Xét về phạm vi áp dụng nói chung của Basel II rộng hơn so với Basle I, bao gồm không chỉ
các ngân hàng quốc tế mà cả các công ty mẹ, hay thay đổi định nghĩa về tài sản có rủi ro.
BASEL I BASEL II
Mức vốn an toàn tối thiểu là 8%, mẫu số Mức vốn an toàn tối thiểu là 8%, mẫu số gồm:
$"
!
gồm rủi ro tín dụng rủi ro tín dụng, thị trường, hoạt động
Chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng Basel II bổ sung thêm rủi ro hoạt động, quy trình
giám sát và các quy tắc thị trường
Có một phương pháp duy nhất áp dụng cho
tất cả các trường hợp
Linh động hơn, có nhiều phương pháp để lựa
chọn, hướng đến việc quản trị rủi ro tốt hơn
Hệ thống đo lường đơn giản hơn Hệ thống đo lường theo Basel II phức tạp hơn
Basel I chỉ có thể vận dụng ở ngân hàng
theo kiểu đơn thuần túy
Phạm vi áp dụng của Basel II sẽ rộng hơn bao
gồm các ngân hàng quốc tế và các công ty mẹ
Dựa trên cấu trúc theo diện trải rộng Nhạy cảm hơn với rủi ro
Bảng 1.1. Điểm khác nhau căn bản của Basel II so với Basel I
1.2.4. Hiệp ước Basel III
Basel III có những điểm mới cơ bản hơn so với Basel II:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn. Trước hết, Basel III sẽ giúp nâng cao chất lượng vốn
này cho phép Ủy ban Basel theo dõi biến động tỷ lệ đòn bẩy thực của các ngân hàng
theo chu kỳ kinh tế và mối quan hệ giữa các yêu cầu về vốn với tỷ lệ đòn bẩy.
Thứ ba, giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân hàng áp dụng.
Yếu tố quan trọng thứ 3 của quy định mới về vốn là phương pháp giám sát an toàn vĩ mô đề
cập tới rủi ro hệ thống. Theo BIS, có hai việc cần làm để hạn chế rủi ro hệ thống hiệu quả.
Thứ nhất là giảm mức độ khuyếch đại của khủng hoảng theo chu kỳ kinh tế. Đó là xu hướng
hệ thống tài chính có thể làm khuyếch đại giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế thực. Việc
thứ hai là mối quan hệ phụ thuộc và những rủi ro chung của các tổ chức tài chính, đặc biệt
đối với những ngân hàng có vai trò quan trọng trong hệ thống. Như vậy, Basel III là một
bước ngoặt trong việc xây dựng các quy định tài chính. Lần đầu tiên trong các quy định tài
chính đề cập tới các thước đo giám sát an toàn vĩ mô được sử dụng để bổ sung cho phương
pháp giám sát an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng. Ủy ban Basel đang nghiên cứu các
thước đo đối với những tổ chức có tầm quan trọng đối với hệ thống.
Thứ tư, quy định về tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng. Basel III đưa ra tiêu
chuẩn về thanh khoản. Đây là điều đặc biệt quan trọngchưa có tiêu chuẩn quốc tế nào quy
định về vấn đề này. Tỷ lệ thanh khoản sẽ được ban hành vào 1/1/2015, giúp ngân hàng có
khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn với những căng thẳng thanh khoản. Quy định này yêu
cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng
nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó khăn. Thực tế, việc quản lý rủi ro thanh khoản
$&
!
rất khác nhau tại từng quốc gia. Ủy ban Basel sẽ sử dụng nhiều quy trình báo cáo để theo
dõi các tỷ lệ trong quá trình chuyển đổi để đảm bảo các tiêu chuẩn được tính toán như dự
kiến.
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT
NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về thanh tra ngân hàng
Trong thế kỷ 21, nền kinh tế nước ta sẽ phát triển theo hướng ngày càng hội nhập nền
trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là: ban hành quyết định, tổ chức
thực hiện quyết định; và thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quyết định.
Thực chất thanh tra là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và kết luận
phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành
nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi
ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra chuyên về một ngành nào đó. Khoản 1,
điều 50 luật NHNN Việt Nam quy định: Thanh tra nhà nước là chuyên ngành về ngân
hàng, được tổ chức thành hệ thống bộ máy NHNN.
Mục đích của thanh tra ngân hàng là nhằm góp phần đảm bảo an toàn các tổ chức tín
dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ việc thực thi chính sách
tiên tệ quốc gia.
$
!
2.1.2. Đối tượng của thanh tra ngân hàng
• Tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng:
Các tổ chức tín dụng nhà nước (bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng
phát triển, Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng chính sách và tổ chức tín dụng phi
ngân hàng);
Các tổ chức tín dụng cổ phần của nhà nước và nhân dân (gồm: Ngân hàng
thương mại và tổ chức tín dụng phi ngân hàng);
Các tổ chức tín dụng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam (gồm: tổ
chức tín dụng liên doanh; tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài,
chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, văn phòng đại diện của Tổ
chức tín dụng nước ngoài đặt tại Việt Nam);
Các tổ chức tín dụng hợp tác;
• Hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được Ngân
hàng Nhà nước cấp giấy phép.
• Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và cá nhân trong việc thực hiện
những rủi ro có thể xảy ra, có tác động định hướng cho thanh tra tại chỗ, đảm bảo an toàn
cho hoạt động ngân hàng. Phương thức giám sát từ xa phụ thuộc vào các yếu tố: khuôn khổ
pháp luật, hệ thống kiểm toán, chế độ hạch toán, kỷ luật thông tin báo cáo, ở từng nước có
vận dụng khác nhau về nội dung, về quy mô của phương thức này. Song có nét chung sau
đây:
Việc giám sát được thực hiện tại trụ sở của cơ quan giám sát, không phải trụ sở của
TCTD. Dựa vào nguồn thông tin từ chế độ thông tin báo cáo theo quy định, từ số liệu lịch
sử và các nguồn thông tin khác. Xử lý thông tin, phân tích rút ra những nhận xét về thực
trạng của từng TCTD và của cả hệ thống. Việc giám sát đựơc thực hiện liên tục theo các
định kỳ ngắn, thường là hàng tháng, hàng quý. Các chỉ số phân tích xếp loại đều dựa trên
khuôn khổ CAMELS. Các chương trình giám sát đều thực hiện trên mạng máy tính. Giám
sát từ xa kết hợp với thanh tra tại chỗ chỉ ra những đơn vị, những lĩnh vực cần thiết để
thanh tra tại chỗ;
'$
!
Từ khi quy chế giám sát ra đời, TTNH thực hiện giám sát TCTD theo 2 cấp gồm: Thanh
tra NHNN; thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố. Giám sát từ xa là việc gián tiếp kiểm
tra thông qua tổng hợp và phân tích để đánh giá các nội dung sau đây của tổ chức tín dụng:
Diễn biến về cơ cấu tài sản nợ và tài sản có
Chất lượng tài sản có.
Vốn tự có.
Tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh.
Việc thực hiện quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ
chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.
Các vấn đề liên quan khác.
Việc đánh giá các nội dung trên dựa vào việc phân tích các chỉ số tài chính của TCTD.
Kết quả thực hiện các nội dung giám sát có vai trò trong việc đánh giá, xếp loại, các TCTD
và đưa ra những cảnh báo cho các TCTD về những vấn đề quan tâm.
Hiện nay nhiều nước trên thế giới phương thức giám sát từ xa đối với các NHTM được
tiện và việc xây dựng các tiêu chí cho việc giám sát từ xa còn bị hạn chế, các NHTM chưa
xây dựng cho mình được một hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì phương thức
thanh tra, kiểm tra tại chỗ vẫn có vai trò quan trọng trong việc phát hiện sai phạm va ngăn
ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
2.2. Đánh giá mức độ đáp ứng các quy định về thanh tra, giám sát ở Việt Nam
Một hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại nên có 3 phòng tuyến như sau: cơ chế kiểm
soát nội bộ tốt là phòng tuyết thứ nhất phòng ngừa rủi ro cho chính ngân hàng; kỷ luật thị
trường ngành ngân hàng hoạt động có hiệu quả là phòng tuyến thứ hai giám sát hoạt động
ngân hàng; và phòng tuyến thứ ba chính là hoạt động giám sát của các cơ quan hành chính
nhà nước đối với hoạt động của các NHTM. Đây có thể được xem là 3 trụ cột bảo vệ hệ
thống NHTM hoạt động ổn định và có hiệu quả, bổ trợ lẫn nhau trong quá trình phòng ngừa
và khống chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Ngoài ra có thể trình bày kết cấu một hệ
thống giám sát ngân hàng hiện đại như sau:
'
!
Hình 2.1.Hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại
Nguồn: thoibaonganhang.vn
Hiện nay tại Việt Nam các phòng tuyến vẫn chưa được gắn kết và phối hợp với nhau để
phát huy tối đa tính hiệu quả trong hoạt động giám sát ngân hàng, bảo đảm sự ổn định và
phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Đồng thời mỗi
phòng tuyến đều có những tồn tại riêng của nó như: mô hình tổ chức giám sát tài chính của
các cơ quan nhà nước chưa hoàn thiện, cơ chế thị trường ngành ngân hàng hoạt động không
hiệu quả, bộ máy kiểm soát nội bộ NHTM còn nhiều yếu kém, các phòng tuyến giám sát
khác như bảo hiểm tiền gửi, hiệp hội ngân hàng còn tồn tại rất nhiều vấn đề.
'
!
Hình 2.2.Mô hình giám sát tài chính ở Việt Nam
Nguồn: thoibaonganhang.vn
sẽ không có những phản ứng tiêu cực khi có những hiện tượng đổ vỡ. Xác định nhiệm vụ
nào là chủ yếu, là trọng tâm của BHTG là một việc làm rất hệ trọng, cần được đặt ra một
cách cấp bách vì nếu xác định không đúng thì việc thực hiện chức năng của BHTG sẽ rất
khó thực hiện; và mục tiêu cho hoạt động của BHTG đã được đặt ra khó có thể đạt được.
Kỷ luật thị trường
Quan điểm của người dân về quy tắc “Too big to fail” ở VN vẫn đang tồn tại. Vì sự ổn
định của xã hội và cả nền kinh tế, nhà nước sẽ không thể để cho các NHTM nhà nước
(NHTMNN) sụp đổ. Quan điểm này đã thấm sâu vào trong suy nghĩ của mọi người, vì vậy
loại BHTG ẩn đã làm cho người gởi tiền hầu như không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro của
các NHTMNN (tất nhiên còn nhiều lý do khác như người gởi tiền có qua ít con đường để
đầu tư). Còn đối với các NHTM cổ phần (NHTMCP), họ là các doanh nghiệp thực sự, họ
hiểu rằng phải tự chịu trách nhiệm kinh doanh và mục tiêu lợi nhuận của mình, và chỉ nhận
được sự bảo đảm tín dụng và giúp đỡ từ nhà nước có giới hạn. Đã từng có những NHTMCP