Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––– –––––––––
PHẠM MINH CHUYÊN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG
Ở TRƢỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH THÁI NGUYÊN
ĐÁP ỨNG TÌNH HÌNH MỚI LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. NGUYỄN VĂN HỘ
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn chân thành cảm ơn:
- Ban Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
- Các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy và tham gia đào tạo cao học
của Trường và các cơ quan khoa học khác có liên quan.
- GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, người hướng dẫn tác giả thực hiện luận
văn này.
- Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên.
- Ban Giám hiệu, các Phòng, Khoa, cán bộ và giảng viên của TCT tỉnh
Thái Nguyên.
Đã có công lao hỗ trợ, động viên, hướng dẫn và tạo những điều kiện
thuận lợi giúp tôi thực hiện thành công nhiệm vụ học tập và hoàn thành Luận
văn tốt nghiệp đúng thời hạn.
Tác giả
1.2.5. Quản lý đào tạo ở trường Chính trị cấp tỉnh 27
1.2.6. Những vấn đề cơ bản về chất lượng đào tạo cán bộ, và các yếu tố
ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở Trường Chính trị tỉnh Thái
Nguyên trong tình hình mới 33
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở
TRƢỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH THÁI NGUYÊN 44
2.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trường Chính trị
tỉnh Thái Nguyên 44
2.1.1. Vài nét về trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên qua 53 năm xây
dựng và trưởng thành 44
2.1.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trường Chính
trị tỉnh Thái Nguyên hiện nay 48
2.2. Thực trạng hoạt động đào tạo ở Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên
trong những năm gần đây (2001- 2009) 51
2.2.1. Sự quan tâm lãnh đạo của các cấp bộ Đảng, sự chỉ đạo của chính
quyền, ngành chuyên môn và của lãnh đạo Nhà trường đối với hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh Thái
Nguyên trong những năm gần đây 51
2.2.2. Đánh giá về hoạt động đào tạo của Trường Chính trị tỉnh Thái
Nguyên qua những năm gần đây 54
2.3. Thực trạng quản lý đào tạo ở Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên 60
2.3.1. Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý đào tạo 60
2.3.2. Kết quả khảo sát 62
2.4. Đánh giá chung thực trạng quản lý đào tạo ở TCT tỉnh TN 72
2.4.1. Về quản lý mục tiêu, kế hoạch đào tạo và nội dung các chương
2. Khuyến nghị 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ 116
PHỤ LỤC 118 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT
Ý nghĩa, nội dung của ký hiệu hoặc chữ viết tắt
Ký hiệu, chữ
viết tắt
1
Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên
TCT tỉnh TN
1
Trung cấp lý luận
TCLL
3
Trung học hành chính
THHC
4
Trung cấp lý luận chính trị - hành chính
TCLL CT-HC
5
Cao cấp lý luận chính trị - hành chính
CCLL CT-HC
6
%
16
Kinh tế - xã hội
KT-XH
17
Bộ Giáo dục - Đào tạo
Bộ GD&ĐT
18
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CNH-HĐH
19
Ban Giám hiệu
BGH
20
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
HVCT-HCQG
Hồ Chí Minh
21
Ủy ban nhân dân
UBND
22
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
23
Lãnh đạo, quản lý
LĐ,QL Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Vai trò của hoạt động quản lý đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng lý
luận, nghiệp vụ lãnh đạo, quản lý cho cán bộ, công chức, viên chức ở các
trường Chính trị nói chung và ở trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
Trước hết, có thể xem xét từ vai trò của công tác cán bộ và đào tạo lý
luận, nghiệp vụ lãnh đạo, quản lý cho cán bộ là hết sức quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng nói chung và sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực cốt
cán nói riêng cho sự phát triển bền vững hiện nay của mỗi địa phương và
của đất nước.
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn coi trọng vai trò của
lý luận trong mối quan hệ biện chứng với thực tiễn cách mạng. V.I.Lênin đã chỉ
rõ: Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Chỉ có
đảng nào có được lý luận tiền phong dẫn đường thì đảng đó mới có thể hoàn
thành vai trò cách mạng tiền phong. Kế thừa tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sớm khẳng định vai trò quan trọng của lý luận khoa học đối với sự
phát triển phong trào cách mạng Việt Nam, vì thế Người đặc biệt chú trọng đến
việc đào tạo, bồi dưỡng lý luận cách mạng cho đội ngũ cán bộ cốt cán của
Đảng. Tư tưởng của Người về vấn đề này là tài sản quý giá để chúng ta nghiên
cứu và vận dụng vào thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay. Người cho rằng
“Cán bộ là gốc của cách mạng, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của
Đảng”[15].
Công tác ĐT,BD cán bộ như vậy trong điều kiện hiện nay càng
trở thành công việc trọng yếu của cách mạng XHCN ở nước ta và ở mỗi
địa phương.
- Hệ thống ĐT,BD cán bộ LĐ,QL ở các địa phương do các TCT đảm
nhiệm, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, đã góp một phần trọng yếu vào công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
quyết đúng tầm và khoa học. Qua rà soát từ “Cơ sở dữ liệu khoa học” của
Quốc gia, thấy rằng, việc nghiên cứu khoa học về QLĐT cán bộ LĐ,QL chưa
nhiều. Những người làm công tác quản lý cũng chưa thực sự tập trung nghiên
cứu, tổng kết thực tiễn giáo dục và đào tạo để tìm ra những biện pháp hiệu
quả, những giải pháp cơ bản có tính chiến lược, đột phá và khả thi về quản lý
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đối với cán bộ LĐ,QL làm hạt
nhân chấn hưng đất nước. Hiện trạng nền giáo dục, đào tạo của đất nước đang
đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Trong một bình diện hẹp của hệ thống
các “Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”[21], tình hình còn
khó khăn hơn. Hoạt động QLĐT cán bộ LĐ,QL ở địa phương cũng chưa được
ai nghiên cứu và công bố một cách chính thức, mới chỉ có những tổng kết, rút
ra kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nhỏ lẻ, chưa chính thống và đồng bộ, tác
động chưa đủ mạnh và đủ sức thuyết phục vào hoạt động giáo dục, đào tạo
cán bộ, công chức, dẫn tới chất lượng đào tạo cán bộ, công chức chưa đáp
ứng kịp yêu cầu của tình hình. Gần đây, có một số nghiên cứu liên quan đến
việc chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng của các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp
huyện cho cán bộ cấp cơ sở, nhưng số này không thuộc các nhóm đối tượng
của TCT cấp tỉnh. Hoạt động QLĐT ở TCT tỉnh TN cũng nằm trong tình hình
chung đó.
- Từ đây, có vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nghiên cứu, tìm ra những
biện pháp tăng cường QLĐT nhằm nâng cao chất lượng cán bộ LĐ,QL, đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới.
Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Quản lý đào tạo, bồi dưỡng ở
Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên đáp ứng tình hình mới” làm đề tài luận
văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục, với mong muốn được tham gia một cách thiết
Sử dụng các quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh, của các tư tưởng khoa học, tiến bộ, của Đảng và Nhà nước ta về
công tác quản lý, quản lý đào tạo nói chung và quản lý đào tạo cán bộ lãnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
đạo, quản lý ở trường Chính trị tỉnh nói riêng (đó là phương pháp biện chứng
duy vật về lịch sử) để luận giải theo:
+ Quan điểm hệ thống;
+ Quan điểm phát triển, toàn diện;
+ Phương pháp tiếp cận theo quan điểm thực tiễn, lịch sử và cụ thể.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, phân loại tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
nghiên cứu.
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: các phương pháp: điều tra, phỏng
vấn, quan sát, chuyên gia, phân tích, tổng kết thực tiễn, thống kê - tổng hợp
nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo cán bộ tại trường
Chính trị tỉnh Thái Nguyên và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
+ Phương pháp sử dụng các công cụ toán học để xử lý thông tin, số liệu;
+ Phương pháp khảo nghiệm.
7. Những đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận:
Xác định rõ và hệ thống hóa, đồng bộ hóa những biện pháp khoa học về
quản lý đào tạo, góp phần vào việc hoàn thiện chủ trương, chính sách phát
triển trường Chính trị tỉnh trong tình hình mới.
- Về mặt thực tiễn
Làm rõ tình hình công tác quản lý đào tạo trong TCT tỉnh TN hiện nay,
bộ LĐ,QL.
Về yêu cầu đào tạo:
1. Kiên trì nguyên tắc tính đảng nhằm tăng cường hiểu biết về Chủ
nghĩa Mác, niềm tin và ý thức phục vụ nhân dân.
2. Kiên trì xoay quanh trung tâm tiến kịp thời đại. Bất kể nội dung,
phương pháp đào tạo nào cũng phải tiến cùng thời đại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
3. Kiên trì lý luận liên hệ với thực tiễn làm cho mỗi cán bộ, đảng viên
phải hiểu rõ lý luận bắt nguồn từ thực tiễn và phải vận dụng thành công lý
luận vào từng công việc đảm nhận.
4. Kiên trì nguyên tắc khoa học, dân chủ thể hiện ở việc phân bổ thời
gian học tập, nội dung, phương thức đào tạo, dựa trên tinh thần tự quản của
học viên.
Kế hoạch đào tạo của các trường đều căn cứ vào nhiệm vụ công tác,
nhu cầu của học viên. Có 4 trọng tâm trong kế hoạch đào tạo: Giáo dục lòng
trung thành (làm cơ sở), xây dựng năng lực (làm hạt nhân), tu dưỡng tính
đảng (làm đường hướng chính), học tập sáng tạo (để thực hiện công việc,
hoàn thành nhiệm vụ).
Nội dung đào tạo bao gồm: Cơ sở lý luận về kiên trì Chủ nghĩa Mác,
Tư tưởng Mao Trạch Đông, trọng tâm là lý luận Đặng Tiểu Bình, thuyết “ba
đại diện” của Giang Trạch Dân, thuyết “Xây dựng xã hội hài hoà” của Hồ
Cẩm Đào. Trung Quốc kiên trì đào tạo cán bộ về thế giới quan Chủ nghĩa
Mác, xây dựng ý thức phục vụ nhân dân, cán bộ là nô bộc của nhân dân. Kiên
trì xây dựng Đảng cầm quyền vì việc công, vì nhân dân. Xác định rõ 8 điều
“vinh”, 8 điều “nhục” theo quan điểm xã hội chủ nghĩa. 8 điều vinh, nhục đó
là: 1. Yêu Tổ quốc là vinh. Làm hại Tổ quốc là nhục; 2. Phục vụ nhân dân là
vinh. Xa rời nhân dân là nhục; 3. Hiểu biết khoa học là vinh. Ngu muội, kém
chính trị, đạo đức cho cán bộ, đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
mẫu mực, trước hết là người đứng đầu bộ máy của Đảng và Nhà nước ở các
cấp, các ngành.
Ở Pháp, có hệ thống các Học viện, Trường Hành chính để đào tạo các
nhà lãnh đạo và quản lý đa ngành, lĩnh vực và chuyên sâu cho toàn bộ hệ
thống quản lý.
Các cơ sở đào tạo công chức ở Pháp gồm: Trường Hành chính Quốc
gia (ENA), Trường Hành chính khu vực (IRA), Trung tâm đào tạo kinh tế,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Trung tâm đào tạo giáo dục, Trường đào tạo công chức của các bộ và các
trung tâm đào tạo tư nhân. Công chức lãnh đạo được đào tạo ở trường Hành
chính, trong đó công chức loại A đào tạo tại ENA, công chức loại A’ đào tạo
ở IRA. Các hình thức đào tạo công chức ở Pháp gồm có: đào tạo ban đầu cho
người mới được tuyển dụng, đào tạo thi nâng ngạch, đào tạo thường xuyên.
Công chức có thể lựa chọn hình thức đào tạo phù hợp với nguyện vọng công
tác của mình. Hiện nay đào tạo thường xuyên được quan tâm nhiều hơn, vì
loại hình này đáp ứng được những thay đổi thường xuyên của môi trường làm
việc trong quá trình nhất thể hóa châu Âu và sự phát triển của khoa học kỹ
thuật. Các giáo viên trong các cơ sở đào tạo thường là công chức có kinh
nghiệm, có năng lực và đã được bồi dưỡng về kỹ năng sư phạm. Chương
trình, tài liệu học được xây dựng theo nhu cầu đào tạo, theo yêu cầu và vị trí
công tác của người học. Ví dụ chương trình đào tạo dài hạn của ENA có 27
tháng thì 90% thời gian học viên được học qua các tình huống thực tế điển
hình. Phương pháp học chủ yếu thông qua công việc nên ít nhất 50% thời gian
học viên tiếp cận với thực tế tại các cơ quan hành chính. Môn Quản lý lãnh
thổ học 4 tháng thì 1 tháng học lý thuyết, 3 tháng đi thực tập tại tỉnh, học viên
phải tham gia vào công việc hàng ngày của tỉnh, tham gia giải quyết công việc
làm việc cho cán bộ, công chức. Thứ hai, ĐT,BD là một thuật ngữ không tách
rời, là hoạt động thường xuyên của các cơ quan quản lý và sử dụng công chức
nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ,
công chức.
Trao đổi về đào tạo công chức, TS. Nguyễn Ngọc Vân - Phó Vụ trưởng
Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ cho biết: đối với các
nước, khi cán bộ, công chức, viên chức được bầu, tuyển dụng và bổ nhiệm
vào một vị trí nhất định, họ đã phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn của vị trí đó, trong
đó có tiêu chuẩn về trình độ đào tạo. Khi cần nguồn nhân lực có trình độ cao
hơn, họ sẽ tổ chức tuyển dụng những đối tượng đã được đào tạo trình độ họ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
cần mà không tổ chức hoặc cử công chức đi đào tạo. Hoạt động của các cơ
quan, tổ chức nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm
việc cho đội ngũ công chức được diễn đạt bằng khái niệm “huấn luyện”.
Không có nước nào hiểu sang nội dung “đào tạo”. Ở những nước này, việc
“đào tạo” (Education) thuộc nhiệm vụ của giáo dục quốc dân, còn cơ quan
hành chính chỉ thực hiện nhiệm vụ “huấn luyện” (Training) là cập nhật kiến
thức, trang bị kỹ năng và tổ chức cho cán bộ, công chức gặp gỡ trao đổi kinh
nghiệm, phương pháp thực hiện công vụ (quan niệm là “huấn luyện” như Chủ
tịch Hồ Chí Minh thường dùng, hoặc “đào tạo, bồi dưỡng” như hệ thống
trường Chính trị đang dùng). Trong thực tế thì cả hai cách hiểu đều phù hợp
với thuật ngữ mà Đề tài Luận văn đang đề cập, bởi lẽ hệ thống trường Chính
trị ở Việt Nam còn thực hiện cả nhiệm vụ đào tạo một số ngành, bậc học như
hệ thống giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp.
1.1.2. Tình hình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam vừa có
nét chung của các nước, lại vừa có những đặc thù.
Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong
những nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai
đoạn 2001-2010 mà nước ta đã tiến hành tích cực trong thời gian qua.
Những năm gần đây, Bộ Chính tri, Ban Bí thư, Chính phủ, Ban Tổ
chức Trung ương, HVCT-HCQG Hồ Chí Minh đã xây dựng và ban hành
nhiều văn bản hướng dẫn, cụ thể hóa, nhằm chủ động hơn trong công tác
ĐT,BD cán bộ, đáp ứng yêu cầu của công tác cán bộ, tác động tích cực đến
nâng cao trình độ LLCT-HC, đổi mới tư duy của đội ngũ cán bộ LĐ,QL. Để
chuẩn bị cho nhiệm kỳ 2010 - 2015, Ban Tổ chức Trung ương Đảng đã đặt ra
yêu cầu:“đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Học viện Chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và các trường Chính trị cấp tỉnh, Trung
tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện để tạo nguồn cán bộ có chất lượng cao,
phục vụ cho sự nghiệp đổi mới”[4].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Nhìn về chặng đường đã qua, có thể nói, công tác ĐT,BD đã có những
bước tiến rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức. Nhưng bên cạnh đó, công tác ĐT,BD hiện nay vẫn còn bộc lộ những
hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội
nhập kinh tế quốc tế. Chương trình ĐT,BD còn nặng về lý luận, dàn trải, thiếu
sự liên thông, liên kết, kế thừa, còn trùng lặp về nội dung, thiếu tính thiết
thực, chưa đi sâu vào rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ công tác cho cán bộ, công
chức. Do đó, một số cán bộ, công chức mặc dù đã được ĐT,BD qua nhiều
trường, lớp nhưng vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện nhiệm vụ; năng lực
LĐ,QL, điều hành, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra còn hạn chế, chưa
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Để công tác ĐT,BD cán bộ, công chức thực sự đạt hiệu quả, góp phần
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
1.2. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1. Về quản lý
1.2.1.1. Khái niệm
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Theo Hà Thế Ngữ và Đặng
Vũ Hoạt, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản
lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống
mà người quản lý mong muốn ” [23]. Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là một
quá trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các
tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi
trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó
phát triển tới mục đích đã định” 13. Theo Nguyễn Văn Hộ - Đặng Quốc
Bảo: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể
(người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt
chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra
môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [12]. Theo Nguyễn
Văn Lê: Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính
nghệ thuật, ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật
tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiệu
quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” 18
Từ những điểm chung của các quan niệm trên có thể hiểu:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm
năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến
động của môi trường” [14]. Ta có: Sơ đồ 1.1:
lực và tài lực. Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải đảm bảo
các yêu cầu: Tính tối ưu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế. Trong quá
trình xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp và gián tiếp đó là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể có
ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện.
c. Chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều
hành tổ chức- nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch
ra. Lãnh đạo bao hàm cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của con người,
động viên, khuyến khích họ hoàn thành nhiệm vụ. Trong chức năng chỉ đạo,
chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết định (mệnh lệnh) cho nhân viên dưới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
quyền và hướng dẫn, quan sát, phối hợp, động viên để thuyết phục, thúc
đẩy họ hoạt động đạt được các mục tiêu đó bằng nhiều biện pháp khác nhau.
d. Kiểm tra: Là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể
quản lý thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh
giá, giám sát thành quả hoạt động, đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót
lệch lạc nhằm thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục tiêu đã định. Để tiến hành
kiểm tra, cần phải có các tiêu chuẩn, nội dung và phương pháp kiểm tra, dựa
trên các nguyên tắc khoa học để hình thành hệ thống kiểm tra thích hợp.
Ngoài 4 chức năng quản lý trên, nguồn thông tin là yếu tố cực kỳ quan
trọng trong quản lý. Vì thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý,
không có thông tin thì không có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm, nhờ có
thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường
xuyên, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả.
1.2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý
Bất kỳ một tổ chức nào đều tồn tại và phát triển trong một môi trường
cụ thể và bị chi phối, ảnh hưởng của các yếu tố sau: