NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
LÊ THỊ THU HÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CHO HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TIẾN ĐÔNG
Hà Nội - năm 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Thu Hà
MỤC LỤC
CNTT : Công nghệ thông tin 5
NHNN : Ngân hàng Nhà nước 5
NHTM : Ngân hàng thương mại 5
NHĐT : Ngân hàng điện tử 5
TMĐT : Thương mại điện tử 5
WTO : Word Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới 5
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu của đề tài 2
1.2.1. Website quảng cáo 9
1.2.2. Thương mại điện tử 9
1.2.3. Quản lý điện tử 9
3.3.3. Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử 80
3.3.4. Tăng cường hoạt động Marketing để quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường 83
3.3.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngân hàng 86
3.3.6. Tăng cường sự hợp tác liên kết giữa các ngân hàng thương mại trong nước và hợp
tác quốc tế 87
3.4.1. Kiến nghị với chính phủ 88
3.4.2. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước 91
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHĐT : Ngân hàng điện tử
TMĐT : Thương mại điện tử
WTO : Word Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới.
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC BẢNG
CNTT : Công nghệ thông tin 5
CNTT : Công nghệ thông tin 5
NHNN : Ngân hàng Nhà nước 5
NHNN : Ngân hàng Nhà nước 5
NHTM : Ngân hàng thương mại 5
NHTM : Ngân hàng thương mại 5
NHĐT : Ngân hàng điện tử 5
NHĐT : Ngân hàng điện tử 5
TMĐT : Thương mại điện tử 5
TMĐT : Thương mại điện tử 5
WTO : Word Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới 5
WTO : Word Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới 5
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
4. Phương pháp nghiên cứu 2
Bên cạnh là thành viên của hệ thống TTĐTLNH do NHNN quản lý và vận
hành, đa số các NHTM đều tham gia, thiết lập kênh thanh toán điện
tử song phương với một hoặc một số ngân hàng quy mô lớn, có đầu tư
và phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thanh
toán, như: VCB (hệ thống VCB-Money với 181 đơn vị đối tác), Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) (hệ thống INCAS
với 5 ngân hàng đối tác), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV), (hệ thống BIDV Home banking với 7 ngân hàng đối tác),
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)
(hệ thống VBA với 2 ngân hàng đối tác). Trong đó, Vietinbank, BIDV
và Agribank trực tiếp kết nối với nhau hình thành một mạng lưới kết
nối thanh toán song phương bên cạnh hệ thống VCB-Money của
Vietcombank 27
2.2.1. Máy rút tiền tự động (ATM) và đơn vị chấp nhận thẻ (POS) 29
2.2.1.2.Thực trạng phát triển mạng lưới ATM và đơn vị chấp nhận thẻ (POS) 31
2.2.2. Thực trạng phát triển dịch vụ Internet banking 36
2.2.3. Thực trạng phát triển dịch vụ Mobile banking 52
2.3.1. Những kết quả đạt được 58
2.3.2.Những tồn tại và nguyên nhân 60
3.2.1.Cơ hội 70
3.2.1.Cơ hội 70
3.3.1.Các ngân hàng thương mại Việt Nam phải vạch ra chiến lược và kế hoạch triển khai
dịch vụ ngân hàng điện tử cụ thể và có chiều sâu 77
3.3.1.Các ngân hàng thương mại Việt Nam phải vạch ra chiến lược và kế hoạch triển khai dịch
vụ ngân hàng điện tử cụ thể và có chiều sâu 77
3.3.2. Phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư công nghệ hiện đại 79
3.3.2. Phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư công nghệ hiện đại 79
3.3.3. Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử 80
3.3.3. Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử 80
3.3.4. Tăng cường hoạt động Marketing để quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường 83
tương xứng trong khi thói quen dùng tiền mặt của người dân còn phổ biến. Trước
thực trạng đó, vấn đề phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là yêu cầu cấp bách hiện
nay của ngân hàng nên trong quá trình nghiên cứu tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải
pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử cho hệ thống Ngân hàng thương mại
Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu và làm rõ những vấn đề cơ bản về dịch vụ ngân hàng điện tử.
- Đánh giá thực trạng triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM
Việt Nam giai đoạn 2008 -2011, phân tích những mặt được, mặt hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế đó.
1
- Đề xuất các giải pháp và đưa ra kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ ngân
hàng điện tử tại các NHTM Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các dịch vụ
ngân hàng điện tử như dịch vụ Internet banking, Mobile banking, các dịch vụ giá
trị gia tăng trên ATM……
- Phạm vi nghiên cứu: Các dịch vụ ngân hàng điện tử của NHTM Việt Nam
trong giai đoạn từ 2008 đến 2011
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là: phương pháp
phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp để đánh giá tình hình thực tế, dựa vào các
bảng, biểu số liệu để chứng minh và rút ra kết luận.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử cho hệ thống ngân
không định nghĩa về dịch vụ ngân hàng. Điều 7 chương 1 luật các tổ chức tín dụng:
“hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng ”
như vậy có sự phân biệt giữa hoạt động kinh doanh tiền tệ với dịch vụ ngân
hàng. Cũng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, dịch vụ ngân hàng bao
gồm hoạt động nhận tiền gửi và cho vay Tuy nhiên, luận văn được nghiên cứu
theo quan điểm: Dịch vụ ngân hàng thương mại được hiểu theo nghĩa rộng, tức
là toàn bộ các hoạt động tiền tệ tín dụng, thanh toán, ngoại hối … mà ngân hàng
cung cấp cho doanh nghiệp và công chúng. Do đó có thể thấy dịch vụ ngân hàng
có hai đặc điểm nổi bật là:
Thứ nhất, đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó
mới có thể thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Thứ hai, đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng.
1.1.1.2. Các dịch vụ ngân hàng thương mại
Trên thực tế, các NHTM hoạt động kinh doanh trên 3 mảng nghiệp vụ lớn:
nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ tín dụng – đầu tư và nghiệp vụ kinh doanh sản
phẩm dịch vụ ngân hàng. Mỗi nghiệp vụ đều có một vị trí và tác dụng khác nhau,
nhưng đều hướng tới mục tiêu chung và tổng quát của bất kỳ NHTM nào đó là đáp
ứng được nhu cầu của khách hàng với hiệu quả cao nhất, thông qua các sản phẩm
dịch vụ mà ngân hàng mang lại cho khách hàng, gồm 2 loại: sản phẩm dịch vụ tài
chính truyền thống và sản phẩm dịch vụ tài chính hiện đại.
• Dịch vụ ngân hàng truyền thống
Khi nói đến dịch vụ ngân hàng truyền thống, chúng ta thường ngụ ý nói đến
hoạt động của các sản phẩm đã thực hiện trong nhiều năm trên nền công nghệ cũ,
quen thuộc với khách hàng. Có thể kể đến một số sản phẩm dịch vụ truyền thống
của ngân hàng như sau:
Dịch vụ huy động vốn: Vốn dùng cho các hoạt động của ngân hàng bao gồm
các nguồn vốn sau: Vốn chủ sở hữu, Vốn huy động và Vốn đi vay. Huy động vốn là
hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội.
4
Trong nghiệp vụ này, NHTM được phép sử dụng những công cụ và biện pháp
quản và lưu giữ chứng khoán của khách hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu hộ, trả
lãi, trả gốc, trả cổ tức,…cho các tổ chức phát hành chứng từ có giá.
Ngoài ra, còn có các sản phẩm dịch vụ truyền thống khác như: Dịch vụ ngân
quỹ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ cung cấp các tài khoản giao dịch…
Các sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng được cải tiến theo hướng
hoàn chỉnh hơn, gọn về thủ tục, rút ngắn được thời gian giao dịch, các ngân hàng đã
hướng tới việc xuất phát từ nhu cầu của khách hàng hơn là áp đặt sản phẩm mình
có.
• Dịch vụ ngân hàng hiện đại
Dịch vụ ngân hàng hiện đại là hình thức dịch vụ ngân hàng mới được đưa
vào hoạt động của tổ chức tín dụng, được ra đời trên nền các công nghệ mới, đem
lại các tiện ích mới cho khách hàng. Một số dịch vụ ngân hàng hiện đại như:
Dịch vụ thẻ ngân hàng: Ngân hàng cấp thẻ cho khách hàng có tài khoản
dùng để thanh toán tiền mua hàng, chi trả tiền dịch vụ, hay rút tiền mặt tự động
thông qua các máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động ATM. Công nghệ thanh
toán bằng thẻ có nhiều ưu điểm so với thanh toán bằng tiền mặt như: tập trung vốn
tiền gửi vào ngân hàng, giảm thiểu rủi ro, chống tham nhũng và trốn thuế, nên đã
nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Dịch vụ quản lý tiền mặt: Thông qua việc thu hút khách hàng mở tài khoản
giao dịch tại ngân hàng, ngân hàng sẽ quản lý tài khoản của khách hàng và tiến
hành chi trả tiền hàng hoá dịch vụ cũng như thu hộ các khoản thu theo lệnh của
khách hàng và đầu tư các khoản tiền mặt thặng dư để sinh lợi cho khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng điện tử: Bằng những công cụ hỗ trợ như điện thoại, máy
vi tính và mạng internet khách hàng có thể hoạt động giao dịch thanh toán, xem
thông tin tại nhà mà không cần phải đến ngân hàng. Mỗi khách hàng có một mã số
riêng và một mật khẩu riêng do ngân hàng cung cấp và được giữ bí mật nhằm bảo
đảm an toàn nhất cho các hoạt động giao dịch của mình. Với dịch vụ này, khách
6
hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch
thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng
- Ngân hàng điện tử được giải thích như là khả năng của một khách hàng có
thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các giao
dịch thanh toán, tài chính dựa trên các khoản lưu ký tại ngân hàng đó, đăng ký sử
dụng dịch vụ mới.
- Ngân hàng điện tử được định nghĩa như là một phương thức cung cấp các sản
phẩm truyền thống đến người tiêu dùng thông qua con đường điện tử và các kênh
truyền thông tương tác. Đây được coi là kênh phân phối mới so với kênh phân phối
truyền thống.
- Ngân hàng điện tử được định nghĩa là các hoạt động giao dịch ngân hàng trên
các nền tảng sau:
+ Internet banking (or online banking)
+ Telephone banking
+ Tvbased banking
+ Mobile phone banking
+ PC banking (or offline banking)
+ Thẻ ATM (Automated Teller Machine)
- Ngân hàng điện tử là việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán
lẻ có giá trị thấp thông qua các kênh điện tử cũng như các dịch vụ thanh toán điện
tử có giá trị lớn và các dịch vụ ngân hàng bán buôn được cung cấp qua kênh điện
tử.
Các khái niệm trên đều định nghĩa ngân hàng điện tử thông qua các dịch vụ
cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử. Khái niệm này có thể đúng ở từng thời
điểm nhưng không thể khái quát hết được cả quá trình lịch sử phát triển cũng như
tương lai phát triển của ngân hàng điện tử.
Một khái niệm tổng quát nhất về ngân hàng điện tử có thể được diễn đạt như
sau: Ngân hàng điện tử bao gồm tất cả các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và
khách hàng dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hoá nhằm cung cấp
sản phẩm dịch vụ ngân hàng
8
Thực chất của ngân hàng điện tử là việc thiết lập một kênh trao đổi thông tin
xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng được nhanh chóng và chính xác hơn. Internet
và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa ngân hàng, đối tác,
khách hàng, và cơ quan quản lý.
1.2.4. Ngân hàng điện tử
Đây chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh
tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh doanh và phong cách quản
lý. Những ngân hàng này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm
cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lượng tốt nhất. Từ
những bước ban đầu là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều
kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp
nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt.
1.3. Đánh giá về dịch vụ ngân hàng điện tử
1.3.1. Lợi ích của dịch vụ ngân hàng điện tử
1.3.1.1. Đối với ngân hàng
Thứ nhất, giảm chi phí, tăng doanh thu cho hoạt động ngân hàng. Phí giao
dịch NHĐT được đánh giá là ở mức rất thấp so với giao dịch truyền thống, đặc biệt
là giao dịch qua Internet.
Bảng 1.1: Chi phí bình quân của một giao dịch ngân hàng
Stt Hình thức giao dịch Phí bình quân 1 giao dịch (USD)
1 Giao dịch qua nhân viên ngân hàng 1,07
2 Giao dịch qua điện thoại 0,54
3
Giao dịch qua máy rút tiền tự động
(ATM)
0,27
4 Giao dịch qua Internet 0,015
(Nguồn : Kết quả khảo sát của hãng nghiên cứu Booz, Ailen & Hamilton)
10
Theo Bảng 1.1, chi phí giao dịch trung bình với mỗi loại dịch vụ ở ngân hàng
là vào khoảng 1,07USD. Chi phí này có thể giảm tới 0,27USD khi sử dụng ATM và
một giải pháp của NHTM để nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động,
qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM. Điều quan trọng hơn là NHĐT
còn giúp NHTM thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa” mà không cần mở thêm chi
nhánh ở trong nước cũng như ở nước ngoài. NHĐT cũng là công cụ quảng bá,
khuyếch trương thương hiệu của NHTM một cách sinh động, hiệu quả.
Thứ tư, giúp ngân hàng nâng cao hình ảnh, thương hiệu
Đây là sản phẩm cần hỗ trợ nhiều của công nghệ hiện đại, do vậy phát triển
thành công dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ giúp nâng cao danh tiếng của ngân hàng
trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao trên thị trường.
Bên cạnh đó, thông qua ngân hàng điện tử, ngân hàng có thể đăng tải tất cả
những thông tin truyền thông về ngân hàng, phục vụ cho mục đích xúc tiến quảng
cáo. Nhờ vậy ngân hàng có thêm một kênh quảng cáo hiệu quả, góp phần nâng cao
hình ảnh, thương hiệu của ngân hàng.
Thứ năm, cung cấp dịch vụ trọn gói. Điểm đặc biệt của NHĐT là có thể cung
cấp dịch vụ trọn gói. Theo đó các ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm,
công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ
nhằm đáp ứng căn bản các nhu cầu của một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng
về các dịch vụ liên quan tới ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán
1.3.1.2. Đối với khách hàng
Thứ nhất, giúp khách hàng tiết kiệm chi phí.Việc sử dụng các dịch vụ ngân
hàng điện tử cho phép khách hàng tiết kiệm rất nhiều chi phí giao dịch so với các
dịch vụ truyền thống. Theo một nghiên cứu của Qũy tiền tệ thế giới( IMF), một
khách hàng thường phải trả khoảng 1 USD cho một giao dịch truyền thống, 0,06
USD cho một giao dịch qua điện thoại và chỉ 0,02 USD cho một giao dịch điện tử.
Thứ hai, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian giao dịch.Trong thời đại công
nghệ thông tin bùng bổ như vũ bão hiện nay, những con người hiện đại, với quỹ
thời gian eo hẹp, mong muốn chỉ ngồi một chỗ và kích vài “nháy” chuột là có thể
12
thực hiện được giao dịch của mình. Dịch vụ ngân hàng điện tử đã làm được việc đó,
đáp ứng tối đa các nhu cầu của khách hàng.
chứng khoán để kịp thời nắm bắt các cơ hội đầu tư kinh doanh.
NHĐT là một kênh giao dịch, giúp cho khách hàng có thể liên lạc với ngân
hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện để thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng tại
bất kỳ thời điểm nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần) và ở bất cứ nơi đâu. Mọi
thứ đều diễn ra rất nhanh chóng qua một hệ thống tự động của ngân hàng, không
mất thời gian đến tận nơi chờ đợi xếp hàng.
Ngoài ra, khách hàng không phải mang theo nhiều tiền mặt khi giao dịch với
ngân hàng nên giảm thiểu được rủi ro mất tiền, tiền giả…
1.3.1.3. Đối với nền kinh tế
Dịch vụ ngân hàng là một trong những dấu hiệu cho thấy trình độ phát triển
của một quốc gia, do vậy việc phát triển dịch vụ ngân hàng mà đặc biệt là dịch vụ
ngân hàng điện tử trong xu thế quốc tế hóa hiện nay ngày càng có ý nghĩa to lớn đối
với nền kinh tế, cụ thể:
-Dịch vụ ngân hàng điện tử giúp tăng quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa.
Các dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng giảm lượng tiền mặt,
người bán hàng nhanh chóng nhận được tiền thanh toán, bất chấp khoảng cách địa
lý với khách hàng…do đó có thể yên tâm tiến hàng giao dịch một cách nhanh chóng
nhất, sớm thu hồi vốn để đầu tư tiếp tục sản xuất hay mua bán. Như vậy, các dịch
vụ thanh toán trực tuyến giúp thúc đẩy vòng quay của đồng vốn, hay nói cách khác,
làm tăng lưu thông tiền tệ và hàng hóa.
- Dịch vụ ngân hàng điện tử góp phần thúc đẩy sự phát triển của thương mại,
đặc biệt là thương mại điện tử. Các dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời đã làm cho vấn
đề thanh toán trở nên thuận tiện hơn nhiều. Nhờ các phương thức thanh toán điện tử
mà doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn hơn trong các giao dịch thương mại. Xét trên
nhiều phương diện các dịch vụ ngân hàng điện tử, đặc biệt là dịch vụ thanh toán
trực tuyến là nền tảng của các hệ thống thương mại điện tử. Sự khác biệt cơ bản
giữa thương mại điện tử với các ứng dụng khác cung cấp qua mạng Internet chính là
ở khả năng thanh toán trực tuyến này.
14
1.3.2. Hạn chế của dịch vụ ngân hàng điện tử
và duy trì mối quan hệ khách hàng sẽ trở nên khó khăn. Rủi ro danh tiếng có thể
phát sinh khi hệ thống hoặc sản phẩm không hoạt động đúng theo mong muốn và
tạo ra những phản ứng tiêu cực của công chúng. Sự vi phạm trầm trọng hệ thống an
toàn bảo mật do sự tấn công từ bên ngoài hay ngay từ bên trong vào hệ thống điện
tử của ngân hàng đều có thể làm “xói mòn” lòng tin của công chúng vào ngân hàng.
Rủi ro danh tiếng cũng có thể phát sinh khi các khách hàng gặp phải trở ngại đối với
các loại dịch vụ mới nhưng do không được cung cấp thông tin đầy đủ về việc sử
dụng và thủ tục giải quyết những khó khăn.
+Rủi ro luật pháp.
Rủi ro có thể phát sinh từ các vi phạm hay sự không tuân thủ các luật, các
quy chế, các quy định hoặc các thông lệ, hoặc khi các quyền lợi cũng như nghĩa vụ
hợp pháp của các bên trong một giao dịch đã được thiết lập. Hệ thống tiền điện tử
có thể là phương tiện đối với những kẻ rửa tiền nếu như hệ thống không có quy định
về hạn mức giao dịch và bảo đảm khả năng kiểm soát giao dịch. Các ngân hàng
tham gia vào hợp đồng ngân hàng và tiền điện tử có thể gặp phải những rủi ro luật
pháp liên quan đến việc tiết lộ thông tin khách hàng và việc bảo mật cá nhân. Các
ngân hàng chọn phương thức tăng cường các dịch vụ cho khách hàng bằng cách nối
mạng Internet của mình với các mạng khác cũng có thể đối mặt với rủi ro luật pháp.
Một kẻ xâm nhập trái phép có thể sử dụng mạng được kết nối này để lừa gạt một
khách hàng của ngân hàng, và ngân hàng khi đó có thể là đối tượng khiếu kiện của
khách hàng này.
Ngoài ra, ngân hàng có thể gặp các rủi ro truyền thống khác như là rủi ro
tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường cũng có thể phát sinh từ hoạt động
kinh doanh tiền và NHĐT mặc dù hậu quả thực tế của những rủi ro này có ảnh
hưởng khác xa so với rủi ro luật pháp, rủi ro danh tiếng và rủi ro hoạt động.
16