Nền kinh tế Việt nam đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, các nguồn
lực xã hội đang được tận dụng ở mức tối đa, các dự án đầu tư tăng nhanh cả về số
lượng lẫn quy mô. Trong tình hình đó, với tư cách là một kênh dẫn vốn quan trọng
cho nền kinh tế, các ngân hàng thương mại đã và đang góp phần tích cực vào sự
thành công của các dự án đầu tư, đặc biệt với nhiều dự án lớn, có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển đất nước.
Đối với ngân hàng thương mại, dự án là một trong những đối tượng tài trợ
quan trọng mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi
ro do quy mô tài trợ lớn, thời gian tài trợ kéo dài. Chính vì vậy, các ngân hàng luôn
coi trọng công tác thẩm định tài chính dự án trước khi ra quyết định cho vay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, trong thời gian qua em đã
nghiên cứu và lựa chọn vấn đề: !"#
$%&'()**+,-./01
"2 làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Dựa trên những phân tích từ thực tiễn và phương pháp so sánh, bài viết đã
đưa ra một cái nhìn tổng quát về chất lượng thẩm định tài chính dự án tại các
NHTM nói chung và thực tiễn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam nói
riêng, từ đó đưa ra một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài
chính dự án trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng.
Chuyên đề tập trung nghiên cứu những vấn đề chính sau
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về dự án và thẩm định dự án tại Ngân
hàng thương mại
- Phân tích thực trạng hoạt động của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt
Nam giai đoạn 2010 - 2012
- Đề xuất một hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay đối với Ngân hàng TMCP Kỹ
thương Việt Nam.
FG673GHI6723G;JK2LJ67M63A6734567H
N'OPQ+RSS&TS%U6V
#*'&
:;:;:;,<=*%&
Đầu tư là một hoạt động quan trọng của bất kì một tổ chức nào trong nền
kinh tế. Đó là hoạt động bỏ vốn với hy vọng đạt được lợi ích tài chính, kinh tế xã
hội trong tương lai. Nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, các hoạt động đầu tư đều
được thực hiện theo dự án.
Xét về hình thức: dự án là một bộ hồ sơ tài liệu được trình bày một cách chi
tiết và có hệ thống, các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được
những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lí: dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng vốn,
vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong 1 thời gian dài.
Xét trên góc độ kế hoạch hóa: dự án là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội hay
là tiền đề để ra các quyết định đầu tư và tài trợ vốn. Xét trên góc độ này dự án
đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa
nền kinh tế nói chung ( một đơn vị sản xuất kinh doanh một thời kì có thể thực
hiện nhiều dự án)
Xét về mặt nội dung: dự án là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết,
được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để
tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhằm thực hiện những mục tiêu
nhất định trong tương lai.
Như vậy một cách tổng quát nhất, dự án có thể được hiểu là một tập hợp các
hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong
tương lai ý tưởng đã đặt ra với nguồn lực và thời gian xác định.
34,56+76,89
(
Có thể phân chia dự án theo những tiêu thức sau:
Xét theo tính chất đầu tư:
,
Xét theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đầu tư đã bỏ ra.
• Đầu tư ngắn hạn
• Đầu tư dài hạn
Xét theo sự phân cấp quản lí dự án
- Nhóm đầu tư quan trọng quốc gia( đầu tư cho an ninh quốc phòng, nghiên
cứu khoa học cấp quốc gia )
• Dự án nhóm A
• Dự án nhóm B
• Dự án nhóm C
• Dự án đầu tư nước ngoài được chia thành 3 nhóm: A, B, C
Ngoài ra còn nhiều tiêu thức phân loại khác như phân loại theo nguồn vốn
hay chủ đầu tư… nhưng nhìn chung các dự án đều mang các đặc trưng sau
Đặc trưng của dự án
* Dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn hàm ý hành động
với mục tiêu cụ thể. Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng
mà phải đáp ứng một nhu cầu cụ thể đã được đặt ra, tạo nên một thực tế mới.
* Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn. Môi trường triển khai
dự án thường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố bất định nên trong dự án rủi
ro thường rất lớn.
* Dự án bị khống chế bởi thời hạn. Là một tập hợp các hoạt động đặc thù
phải có thời hạn kết thúc. Mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽ làm mất cơ hộ
phát triển, kéo theo những bất lợi, tổn thất cho nhà đầu tư và nền kinh tế.
* Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực. Thông thường, các dự án bị ràng buộc
về vốn, vật tư, lao động. Đối với dự án quy mô càng lớn, mức độ ràng buộc về nguồn
lực càng cao và càng phức tạp, mọi quyết định liên quan đến các vấn đề nảy sinh trong
quá trính thực hiện dự án đều bị chi phối bở nhiều mối quan hệ, chẳng hạn chủ đầu tư,
nhà tư vấn, nhà thẩu, các nhà tài trợ, nhân công, các kĩ thuật viên… Xử lí tốt các ràng
buộc này là yếu tố quan trọng góp phần đạt được mục tiêu của dự án.
:;:;>;?&@5!"#$%&'()*A
phải được thẩm định kĩ lưỡng để hạn chế nguy cơ đối với ngân hàng cũng như với
khách hàng.
Khái niệm thẩm định dự án: thẩm định dự án là rà soát, kiểm tra lại một
cách khoa học, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến
34,56+76,89
X
dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi
quyết định dịnh đầu tư.
Nội dung thẩm định dự án bao gồm 3 nội dung. Đó là thẩm định kĩ thuật
( bao gồm thẩm định sự cần thiết của dự án, quy mô của dự án, công nghệ và trang
thiết bị của dự án, nguồn nguyên liệu và các yếu tố đầu vào của dự án…), thẩm định
kinh tế và thẩm định tài chính. Trong đó, đứng trên giác độ là người tài trợ vốn
ngân hàng thương mại sẽ quan tâm hàng đầu tới nội dung thẩm định tài chính dự án.
Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học toàn diện
mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế khác, các cá nhân. Nếu như chính phủ thường xem xét tới hiệu quả
kinh tế xã hội của dự án thì các nhà đầu tư lại lại quan tâm đến khả năng sinh lời
của dự án. Từ đó giúp họ đưa ra quyết định có nên đầu tư hay cho vay hay không,
dựa trên việc họ có thể nhận được lợi nhuận hay có thể thu hồi vốn vay hay không.
Thẩm định tài chính dự án còn giúp ngân hàng xác định hiệu quả vốn đầu tư, khả
năng hoàn vốn của dự án, khả năng trả nợ… để ra không chỉ quyết định có cho vay
hay không mà mà còn là quyết định cho vay bao nhiêu, thời hạn bao lâu, lãi suất
cũng như hình thức cho vay hay thu nợ và hình thức đảm bảo nào…
Như vậy, thẩm định tài chính dự án là hoạt động hết sức cần thiết đối với ngân
hàng thương mại. Thực hiện tốt thẩm định tài chính dự án giúp ngân hàng đưa ra quyết
định tài trợ đúng đắn, không chỉ để mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, hạn chế rủi ro
mà còn chọn ra phương án cũng cấp vốn tối ưu nhất cho hoạt động của dự án
:;:;B;)%!"#$%&'()*A,-
Khi thẩm định tài chính dự án, ngân hàng thương mại thường chú trọng các
nội dung thẩm định sau:
của dự án sẽ đạt được trong thời gian vận hành dự án.
Ở nội dung này, cán bộ thẩm định sẽ xác định xem các khoản doanh thu và
chi phí mà người lập dự án đã dự báo có hợp lí hay không? Liệu doanh thu có được
khai tăng hay kì vọng quá không cũng như chi phí hàng năm có được phân bổ hợp lí
hay không từ đó xác định được kết quả kinh doanh hàng năm sẽ được là bao nhiêu?
Doanh thu của dự án bao gồm các khoản lợi ích thu được từ việc vận hành
tài sản cố định được đầu tư bởi dự án, gồm doanh thu từ sản phẩm chính, sản phẩm
phụ , doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ hay doanh thu thanh lí…
Chi phí của dự án bao gồm cho phí cố định và chi phí biến đổi.
34,56+76,89
Z
• Chi phí cố định gồm chi phí bảo dưỡng máy móc, thiết bị , khấu hao máy
móc thiết bị, lãi vay… thường được tính theo phần trăm trên doanh thu
• Chí phí biến đổi gồm chi phí nguyên vật liệu, nhân công , được tính toán
dựa trên sản lượng sản xuất và định mức tiêu hao.
Vì chi phí quyết định trực tiếp tới giá bán và doanh thu nên cán bộ thẩm định
cần chú ý tới việc người lập dự án đã đưa đầy đủ các chi phí vào giá thành hay
chưa, khấu hao, tiêu hao nguyên nhiên vật liệu có hợp lí hay không…
• Thẩm định dòng tiền của dự án:
Dòng tiền của dự án được hiểu là các khoản thu chi được dự đoán sẽ xuất
hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong quá trình thực hiện và đi vào hoạt động
của dự án. Chênh lệch giữa khoản thu và chi là dòng tiền ròng của dự án tại từng
thời điểm.
Thẩm định dòng tiền của dự án là việc ngân hàng cách định dòng tiền của dự
án được dự báo sẽ phát sinh có hợp lí hay không, nếu hợp lí rồi thì phải xem xét
xem với dòng tiền như vậy, ngân quỹ trong tương lai của khách hàng có đủ khả
năng để trả nợ hay không để tính toán phương án cho vay hợp lí nhất. Hơn nữa còn
là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án.
Các chú ý khi thẩm định dòng tiền của dự án:
Một là, phải xem xét đến giá trị thời gian của tiền. Tức là ta phải chiết khấu
ngắn hạn và doanh nghiệp chỉ phải chi trả cho phần vốn lưu động ròng. Phần vốn
này sẽ không được khấu hao và đến cuối dự án thì sẽ được thu hồi. Nó được đưa
vào dòng tiền ra khi dự án bắt đầu và được thu hồi khi dự án kết thúc.
- Phân bổ chi phí quản lí chung: chi phí quản lí chung chính là những chi phí
chung của doanh nghiệp có trước khi dự án bắt đầu, ví dụ chi phí cho quản lí, chi
phí hành chính, văn phòng…Nếu sau khi thực hiện dự án mà các chi phí này phải
trả thêm thì mới đưa phần tăng thêm vào chi phí của dự án.
Ta có thể xác định dòng tiền của dự án thông qua việc xác định các bộ phận
cấu thành nên nó
• Xác định dòng tiền đầu tư: dòng tiền đầu tư bao gồm 2 bộ phận:
+ Chi phí mua sắm tài sản cố định và lắp đặt:
Khi bắt đầu dự án, chúng ta không những phải bỏ tiền ra để mua tài sản cố
định như trang thiết bị, máy móc, công nghệ về mà còn phải chi tiền để đưa các
34,56+76,89
thiết bị ấy vào sử dụng như vận chuyển, lắp đặt, chạy thử… các chi phí này được
coi là dòng tiền ra đối với doanh nghiệp ở thời điểm đầu tư.
Ngược lại, ta cũng phải xem xét đến giá trị thanh lý tài sản cố định, đây được coi
là dòng tiền vào của dự án. Và giá trị này khi đưa vào dòng tiền thì cần phải tính đến cả
phần thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải chịu khi thanh lý tài sản.
Thu hồi từ thanh lý TSCĐ = thu thanh lý – ( thu thanh lý – giá trị còn lại ) * thuế
suất thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Chi phí cơ hội: chi phí cơ hội là cơ hội thu nhập bị bỏ qua do chấp nhận dự
án này mà không chấp nhận dự án khác. Ví dụ doanh nghiệp đang xem xét tiến
hành một dự án mới trong khi doanh nghiệp có thể sử dụng một thiết bị cũ đã sẵn có
vào dự án này. Việc đưa thiết bị này vào dự án mới rõ ràng là không làm tăng chi
phí mua sắm, lắp đặt thiết bị của doanh nghiệp nhưng ta vẫn phải đưa giá trị hiện tại
của thiết bị này vào chi phí và nó là 1 dòng tiền ra đối với dự án.
+ Đầu tư vào tài sản lưu động ròng: đầu tư vào tài sản lưu động ròng khi bắt
đầu dự án thì được coi là dòng tiền ra, khi kết thúc dự án, đầu tư vào tài sản lưu
phải xác định được chi phí vốn chủ sở hữu.
- Đứng trên giác độ ngân hàng cho vay: lãi suất chiết khấu chính là lãi suất
cho vay trung dài hạn cộng thêm một phần bù rủi ro.
Việc xác định chính xác lãi suất chiết khấu là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng
tới việc đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án, là căn cứ để chủ đầu tư
và nhà tài trợ xem xét có nên thực hiện dự án hay không.
• Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án chính là kết quả của quá trình
thẩm định tài chính dự án. Dựa vào các chỉ tiêu này mà chủ đầu tư hoặc cán bộ
thẩm định xem xét xem có nên đầu tư hay cho vay hay không.
Các chỉ tiêu thường sử dụng khi ngân hàng thẩm định tài chính dự án:
- Giá trị hiện tại ròng (NPV)
Giá trị hiện tại ròng của dự án là chênh lệch tổng giá trị hiện tại của các dòng
tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư ban đầu được chiết
khấu về mốc 0.
34,56+76,89
!
Công thức tính NPV:
NPV=
∑
=
+
n
t 1
k)t(1
CFt
Trong đó: NCFt : dòng tiền của dự án năm thứ t
k : lãi suất chiết khấu
Co : vốn đầu tư ban đầu của dự án
Ct : luồng tiền dự tính năm t.
(
thì hiện tại hóa giá trị tương lai đó thông qua một mức lãi suất cân bằng với tổng
vốn đầu tư bỏ ra ở mốc 0.
Thông thường, ngân hàng sẽ kết hợp với chỉ tiêu NPV và lựa chọn cho vay
các dự án có IRR cao. Tuy nhiên trong 1 số trường hợp thì dự án sẽ cho nhiêu giá trị
IRR. Khi đó ta lại phải làm thêm một bước điều chỉnh để có được IRR của dự án.
- Thời gian hoàn vốn
Thời gian hoàn vốn là thời gian để tổng dòng tiền thu được từ dự án bằng tổn
vốn đầu tư ban đầu. Thông thường ngân hàng chấp nhận cho vay các dự án có thời
gian hoàn vốn ngắn hơn hoặc bằng thời gian hoàn vốn yêu cầu.
Có 2 cách xác định thời gian hoàn vốn
• Thời gian hoàn vốn không chiết khấu – PP
Thời gian hoàn vốn không chiết khấu là thời gian để tổng dòng tiền thu được
từ dự án bằng tổng vốn đầu tư ban đầu nhưng chưa xét đến giá trị thời gian của tiền.
Công thức tính:
∑ NCFt
PP = n +
∑NCFt+1
Trong đó: n là số năm để ∑ NCF < 0
n + 1 là số năm để ∑ NFC > 0
Cách tính này đơn giản, nhanh chóng, tuy nhiên lại chưa quan tâm tới giá trị
thời gian của tiền nên ngân hàng thường sử dụng cách tính khác.
• Thời gian hoàn vốn đã chiết khấu
Công thức tính
∑ NCF’t
PP = n+
∑ NCF’t+1
NCFt
Trong đó ∑ NCF’t = ∑
(1+ k)^t
AVC : chi phí biến đổi của một đơn vị sản phẩm
P : giá bán sản phầm
Giống như thời gian hoàn vốn, điểm hoàn vốn càng nhỏ thì rủi ro của dự án
càng thấp, đồng thời khi đó thì số lượng sản phẩm sản xuất ra sau đó sẽ đem lại lợi
nhuận cho dự án.
34,56+76,89
W
- Chỉ tiêu lợi nhuận kế toán bình quân (APP)
Lợi nhuận kế toán bình quân là lợi nhuận kế toán thuần túy bình quân trong
các năm của dự án. Thường được sử dụng kết hợp với NPV.
APP cho biết khả năng dự án tạo được lợi nhuân bình quân trong các năm thực
hiện dự án là bao nhiêu. Tuy nhiên nó chưa xét đến giá trị thời gian của tiền nên cũng
ít khi được sử dụng để ra quyết định mà chỉ được sử dụng kết hợp với NPV.
• Thẩm định rủi ro tài chính dự án
Rủi ro của dự án được hiểu là khả năng xảy ra một sự kiện bất lợi làm ảnh
hưởng đến tài chính của dự án. Thông thường rủi ro được nhà đầu tư quan niệm là
việc xảy ra khi lợi tức thực tế thấp hơn lợi tức dự kiến.
Có thể chia làm 3 loại rủi ro của dự án:
Rủi ro loại 1: đây là rủi ro riêng của chính bản thân dự án. Rủi ro này được
đo bằng sự biến thiên lợi tức của dự án
Rủi ro loại 2: rủi ro này thể hiện ở sự ảnh hưởng của dự án đối với rủi ro của
toàn doanh nghiệp. Rủi ro này được đo bằng sự tác động của dự án đối với sự biến
thiên thu nhập của doanh nghiệp.
Rủi ro loại 3: đây là rủi ro của dự án được đánh giá từ quan điểm của nhà
đầu tư cổ phiếu hay là rủi ro không thể loại bỏ được do bằng việc đa dạng hóa đầu
tư. Được đo bằng hệ số beta của dự án.
Việc nghiên cứu các loại rủi ro của dự án giúp làm giảm thiểu các rủi ri và
kiểm soát các rủi ro đó. Lý do là vì khi xuất hiện rủi ro thì thu nhập của dự án sẽ bị
ảnh hưởng từ đó cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của chủ đầu tư, dẫn đến rủi ro
cho ngân hàng.
Chất lượng thẩm định tài chính dự án là sự phù hợp giữa kết quả tính toán
khi thẩm định tài chính dự án với các kết quả thực tế đạt được sau khi triển khai dự
án. Một dự án được thẩm định tốt, có chất lượng cao khi dự án đáp ứng được các
mục tiêu thẩm định tài chính dự án của ngân hàng và thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng với thời gian và chi phí phù hợp.
Mục tiêu thẩm định của ngân hàng là chi phí thẩm định thấp và thời gian
thẩm định phải ngắn nhưng đồng thời phải đánh giá được hiệu quả tài chính của dự
án một cách chính xác nhằm làm cơ sở đưa ra quyết định tài trợ đúng đắn nhất: có
cho vay hay không? Cho vay bao nhiêu? Trong bao lâu và cách thức cho vay như
34,56+76,89
Y
thế nào? nhằm hạn chế tối đa được rủi ro nhưng không bỏ lỡ cơ hội đầu tư với
những dự án tốt.
Cũng như vậy, yêu cầu của khách hàng là được tài trợ đầy đủ phần vốn mong
muốn với thời gian và lãi suất phù hợp, thời gian thẩm định hợp lí để không bị lỡ
thời cơ kinh doanh và được cung cấp các tư vấn về dự án
Để một dự án có chất lượng thẩm định tốt thì nó phải đảm bảo được yêu cầu của cả
2 bên là ngân hàng và chủ đầu tư. Sau đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thẩm
định tài chính dự án đầu tư.
:;>;>;D !"#$%&
:;>;>;:D#$
Khó có thể đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể cho các chỉ tiêu định tính. Do đó,
tùy vào mỗi Ngân hàng khác nhau sẽ tự xác định tiêu chí cho các chỉ tiêu định
tính. Có thể kể đến vài chỉ tiêu như sau:
a. Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quy trình tín dụng
Hoạt động cho vay và thẩm định tài chính dự án có chất lượng phải tuân thủ
các quy định pháp luật của Nhà Nước: luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho
vay, các văn bản của Ngân hàng Nhà Nước và các văn bản có liên quan.
Khi tiến hành hoạt động cho vay và thẩm định tài chính dự án, phải luôn đảm
bảo tuân thủ các quy trình cho vay và thẩm định, nguyên tắc cho vay và thẩm định
Thông qua cho vay đối với các dự án thì Ngân hàng đã đóng góp vào sự phát
triển chung của kinh tế - xã hội, tăng việc làm, thúc đẩy sản xuất Tuy nhiên, đây
là một chỉ tiêu khó có thể đánh giá chính xác.
:;>;>;>D#
a) Thời gian thẩm định
Cả chủ đầu tư lẫn ngân hàng cho vay đều không muốn kéo dài thời gian thẩm
định. Việc thẩm định càng nhanh chóng, đơn giản thì càng tiết kiệm được chi phí
cũng như công sức chờ đợi của cả 2 bên. Tuy nhiên, để thẩm định một dự án thì
phải làm rất nhiều công việc, trước hết là phải thu thập thông tin, phân tích rồi đánh
giá các thông tin đó nhằm đưa ra kết luận chính xác về tính khả thi của dự án. Các
công việc này chiếm một khoảng thời gian không nhỏ và nếu nhanh chóng vội vàng
thì kết quả đạt được sẽ không chính xác. Chính vì thế, thời gian thẩm định cần được
34,56+76,89
[
tính toán, xem xét để hợp lí, không thực hiện vội vàng nhưng cũng không kéo dài
gây ảnh hưởng đến tiến trình đầu tư.
b) Chi phí thẩm định
Chi phí thẩm định là toàn bộ các chi phí phát sinh cần thiết mà ngân hàng
phải bỏ ra trong suốt quá trình thẩm định tài chính dự án ví dụ như chi phí mua
thông tin, chi phí trả lương cho cán bộ thẩm định, chi phí cơ hội cho việc xem xét
các dự án khác tại cùng thời điểm…
Doanh thu cho ngân hàng là tiền lãi từ hợp đồng tín dụng và các khoản phí
dịch vụ. Nếu doanh thu không bù đắp được chi phí thì ngân hàng sẽ bị thua lỗ chính
vì vậy ngân hàng phải xem xét đến chi phí của hoạt động thẩm định, nếu chi phí
thẩm định quá cao trong khi dự án lại không thể cho vay để tang doanh thu thì ngân
hàng sẽ bị thiệt.
c) Chất lượng báo cáo thẩm định
Báo cáo thẩm định chính là kết quả của quá trình thẩm định, nó đóng vai trò
là căn cứ để ra quyết định tài trợ của ngân hàng và là cơ sở để tái thẩm định.
Nhìn vào báo cáo thẩm định ta có thể thấy rõ được chất lượng của dự án
huy động vốn và sử dụng vốn hợp lí nhất. Các ý kiến của cán bộ thẩm định sẽ giúp
chủ đầu tư quyết định nên sử dụng nguồn vốn nào để đầu tư vào tài sản cố định hay
tài sản lưu động, nên vay nợ hoặc huy động vốn chủ theo hình thức nào, hình thức
mua trang thiết bị nào, đi mua hay đi thuê…
:;B;E+ !"#$%&
'()*A1"(
Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bị chi phối bởi nhiêu nhân tố,
song có thể phân chia thành nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ
quan là nhân tố thuộc về nội bộ ngân hàng mà ngân hàng có thể kiểm soát, điều
chỉnh. Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài môi trường tác động nó
không thể kiểm mà chỉ khắc phục để thích nghi.
:;B;:;A=
1.3.1.1 .Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định
Con người đóng vai trò quan trọng mang tính chất quyết định đến chất lượng
thẩm định tài chính dự án đầu tư. Kết quả thẩm định tài chính dự án là kết quả của
quá trình đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của con người
bởi vì con người là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động tài chính theo
phương pháp và kỹ thuật của mình. Mọi nhân tố khác sẽ không có ý nghĩa nếu như
34,56+76,89
cán bộ thẩm định không đủ trình độ và phương pháp làm việc khoa học và nghiêm
túc, sai lầm của con người trong quá trình thẩm định tài chính dự án dù vô tình hay
cố ý đều dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến ngân hàng. Thẩm
định tài chính dự án là một công việc hết sức phức tạp, tinh vi nó không đơn giản
chỉ là việc tính toán theo nhưng công thức cho sẵn đòi hỏi cán bộ thẩm định phải
hồi tụ được các yếu tố: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức.
1.3.1.2 . Thông tin thu thập phục vụ cho quá trình thẩm định
Thông tin chính là nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho quá trình tác nghiệp
của cán bộ thẩm định. Do đó, số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của
thông tin có tác đông rất lớn đến chất lượng thẩm định. Trong môi trường cạnh
quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến
hành cũng như mối liên hệ giữa các cá nhân và các bộ phận trong quá trình thực
hiên. Việc tổ chức điều hành công tác thẩm định tài chính dự án nếu được xây dựng
khoa học, chặt chẽ, phát huy được năng lực, sức sáng tạo của từng cá nhân và sức
mạnh tập thể tạo thành một hệ thống đồng bộ sẽ nâng cao chất lượng thẩm định tài
chính dự án. Đồng thời, ngân hàng phải có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá
trình thẩm định đối với từng cá nhân và bộ phận thẩm định.
:;B;>;/=
Thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng bị chi
phối bởi nhiều nhân tố khách quan, đó là những nhân tố bên ngoài tác động vào dự
án làm cho chất lượng thẩm định tài chính dự án bị giảm sút. Các dự án thường có
tuổi thọ dài, do đó rủi ro mà các nhân tố khách quan mang lại là rất khó dự báo như:
tình hình kinh tế, chính trị, các cơ chế chính sách, pháp luật của nhà nước mà các
nhân tố này luôn luôn thay đổi và nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và chủ
dự án.
1.3.2.1. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế của một quốc gia phản ánh kinh nghiệm năng lực phổ
biến của chủ thể trong nền kinh tế, phản ánh độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh
hưởng đến chất lượng thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu
đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô đã hạn chế việc cung
cấp những thông tin xác thực, phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường,
những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế. Đồng thời, các định hướng, chính
34,56+76,89
(
sách phát triển kinh tế, xã hội chưa được xây dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn
định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích, chấp nhận hay phê duyệt dự án.
1.3.2.2.Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý với những khiếm khuyết trong tính hợp lý, đồng bộ và
hiệu lực của các văn bản pháp lý, chính sách quản lý của nhà nước đều tác động xấu
đến chất lượng thẩm định tài chính dự án cũng như kết quả hoạt động của dự án.
nhân tố này bao gồm khách quan và chủ quan cần được tiết giảm tối đa trong hoạt
động tài trợ dự án của Ngân hàng thương mại.
Tất cả những điều trên là cơ sở để đánh giá thực trạng công tác thẩm định và
tài trợ dự án tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam.
34,56+76,89