TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng
thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Ba Đình
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Hữu Tài
Sinh viên thực hiện : Đinh Trọng Đạt
Lớp : Ngân hàng 49A
MSSV: CQ 490524
Hà Nội - 2011
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ba Đình 38
Bảng 2.2: Tình hình cho vay tại Chi nhánh Ba Đình 42
Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh tại Chi nhánh Ba Đình 49
Bảng 2.4. Dư nợ cho vay DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình 56
Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo loại tiền 58
Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo thời hạn cho vay 60
Bảng 2.7: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo ngành 62
Bảng 2.8: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo Tài sản đảm bảo 65
Bảng 2.9: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN 66
Bảng 2.10: Tình hình bảo lãnh đối với DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình 70
Biểu đồ 2.1: Quy mô cho vay DNVVN 58
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ cơ cấu tín dụng DNVVN theo loại tiền 59
Biêu đồ 2.3: Biểu đồ cơ cấu tín dụng DNVVN theo thời hạn cho vay 61
Biêu đồ 2.4: Biểu đồ chất lượng tín dụng DNVVN 68
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức Chi nhánh Ba Đình 35
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đại diện cho khoảng 90% các
nhánh Ba Đình;
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín
dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến chất lượng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với
DNVVN;
Phạm vi nghiên cứu: Chi nhánh Ba Đình qua các năm 2007, 2008,
2009, 2010.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã nghiên cứu từ các quan điểm, lý luận và thực tiễn của các
DNVVN trong nền kinh tế thị trường, từ đó đánh giá thực trạng và tìm biện
pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình.
Luận văn có thể là một tài liệu tham khảo có giá trị đối với cán bộ tín dụng
của Chi nhánh Ba Đình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và
hệ thống các phương pháp điều tra phân tích, hệ thống hoá, tổng hợp, so
sánh, phương pháp thống kê .
6. Kết cấu của Đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh
mục các bảng, sơ đồ, mục lục, Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tín dụng và tín dụng ngân
hàng đối với DNVVN;
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNVVN
tại NHCT- Chi nhánh Ba Đình;
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
DNVVN tại NHCT- Chi nhánh Ba Đình.
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
cho ngân hàng.
Khách hàng vay vốn phải tuân thủ nguyên tắc là sử dụng vốn vay
đúng mục đích, hoàn trả vốn vay cả gốc và lãi đúng thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng.
Khách hàng phải đáp ứng các điều kiện vay vốn do từng NHTM đưa
ra nhằm kiểm soát mức độ an toàn vốn vay. Điều kiện vay vốn về cơ bản
dựa trên các điều kiện chính là tư cách khách hàng phải tốt, có uy tín trong
quan hệ vay vốn, có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi
dân sự; có khả năng tài chính về vốn và tài sản đảm bảo khả năng trả nợ
theo cam kết; có phương án, dự án về sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời
sống khả thi, đảm bảo nguồn thu để trả nợ ngân hàng; có tài sản đảm bảo
hợp pháp đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Các NHTM cũng có thể đưa ra các
điều kiện vay vốn khác để áp dụng cho từng sản phẩm cho vay khác nhau
cũng như những nhóm khách hàng có tính chất khác nhau nhằm đạt được
mục tiêu chiến lược của mình. Ví dụ điều kiện về bảo đảm tiền vay thì
ngân hàng có thể áp dụng điều kiện cho vay có bảo đảm bằng tài sản là cầm
cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh của bên thứ ba, nhưng ngân hàng cũng có
thể cho vay không có bảo đảm đối với những khách hàng tốt trong từng
trường hợp cụ thể.
Việc xác định thời hạn cho vay khác nhau thường phụ thuộc vào các
yếu tố như nguồn trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay của ngân
hàng. Thời hạn cho vay khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau, thời hạn
vay vốn càng dài thì rủi ro càng lớn, để bù đắp rủi ro thời hạn, các NHTM
thường xác định lãi suất cho vay cao hơn đối với các khoản vay có thời hạn
dài hơn và ngược lại.
Để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, các NHTM đưa ra
nhiều sản phẩm vay vốn khác nhau nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu khách
hàng và đem lại hiệu quả cho ngân hàng. Các NHTM đưa ra các sản phẩm
cho vay đa dạng giúp cho khách hàng có cơ hội lựa chọn tốt nhất, khuyến
khích được nhu cầu vay vốn của khách hàng như cho vay trả góp, cho vay
trình chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện được quy
định trong L/C. Thư tín dụng được sử dụng phổ biến như là một phương
thức thanh toán, nhất là trong thanh toán Quốc tế. Để có cơ sở cam kết với
người thụ hưởng L/C thì ngân hàng phải đảm bảo nguồn vốn thanh toán từ
người đề nghị mở L/C hoặc ngân hàng cấp tín dụng cho người đề nghị mở
L/C đó.
- Chiết khấu thương phiếu:
Thương phiếu là một công cụ thương mại xác nhận cho người thụ
hưởng một trái quyền ngắn hạn về tiền đối với người phải trả. Trên thương
phiếu xác định rõ số tiền và thời gian đến hạn phải thanh toán. Ngày nay nó
đang trở thành một công cụ phổ biến, mang tính thống nhất cao.
Cá nhân hay tổ chức được thụ hưởng thương phiếu có thể giữ đến
ngày đáo hạn hoặc trong hạn mang đến các NHTM xin chiết khấu để lấy
được một số tiền nhỏ hơn số tiền ghi trên thương phiếu. Các NHTM nhận
chiết khấu có thể đem thương phiếu này đến NHNN xin chiết khấu lại (tái
chiết khấu) với chi phí hợp lý.
Đây là một nghiệp vụ khá đơn giản của NHTM, không phát sinh
nhiều chi phí khi thực hiện và có độ an toàn cao. Thương phiếu có thời hạn
ngắn và độ an toàn cao nên cũng có tính thanh khoản cao từ đó làm tăng
khả năng luân chuyển vốn của chủ sở hữu thương phiếu cũng như các
NHTM.
- Ngoài ra còn các hình thức tín dụng khác như: cho thuê tài chính…
• Dựa vào thời hạn tín dụng
Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Cho vay ngắn hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn dưới 01
năm. Thông thường, những khoản vốn này tài trợ cho những nhu cầu vốn
lưu động thiếu hụt tạm thời hay theo chu kỳ sản xuất kinh doanh;
- Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 01 năm đến 05
năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài
sản cố định;
lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của
Thống đốc NHNN VN và Quyết định sửa đổi bổ sung số 18/2007/QĐ-
NHNN ngày 25/04/2007, các TCTD phân loại nợ thành 05 nhóm như sau:
• Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng
thời hạn còn lại;
- Các khoản nợ quá hạn nhưng đã trả nợ gốc và lãi quá hạn và nợ
gốc và lãi của các kỳ hạn tiếp theo (tối thiểu 06 tháng đối với khoản vay
trung dài hạn và 03 tháng đối với nợ ngắn hạn) kể từ ngày bắt đầu trả nợ
gốc và lãi bị quá hạn.
• Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
• Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
- Các khoản nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả
năng trả lãi đầy đủ theo Hợp đồng tín dụng.
• Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90
ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
• Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
cực lớn. Có nước (như Mỹ), chỉ những DNVVN độc lập thì mới là
DNVVN, nhưng cũng có nước tính cả DNVVN là thành viên của các công
ty lớn cũng là DNVVN.
Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để
phân loại doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn. Trong hai tiêu
chuẩn ấy, khá nhiều nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan
trọng hơn. Theo Liên minh Châu Âu, DNVVN là doanh nghiệp có số lượng
công nhân không vượt quá 250. Tại Úc, DNVVN là doanh nghiệp có số
lượng công nhân tối đa không vượt quá 300, còn tại Mỹ là không quá 1000.
Trong cùng một khu vực, khái niệm DNVVN cũng có sự khác nhau. Tại
Nam Phi, DNVVN là doanh nghiệp có từ 1đến 500 công nhân. Tại Chilê và
Colombia con số này là 11 đến 200. Trong khi đó tại Mexico thì một doanh
nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi là DNVVN.
Riêng ở Việt Nam hiện nay, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế
của đất nước cùng với yêu cầu bức thiết trong vần đề hỗ trợ phát triển đối
với các DNVVN, ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
56/2009/NĐ- CP ( thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày
23/11/2001) về “ Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Theo đó,
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo
quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô
tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định
trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân
năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương
mại và dịch vụ
10 người
trở xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
người đến
100 người
So với Nghị định 90/2001/NĐ-CP, khái niệm về DNVVN đã được
cụ thể hoá hơn rất nhiều. Điều này cũng phù hợp với thực tiễn và đỡ “thiệt
thòi” hơn cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành Thương mại, dịch vụ.
1.2.2. Đặc điểm của các DNVVN
DNVVN có những đặc điểm khá đặc thù so với các loại hình doanh
Do việc sản xuất của doanh nghiệp lớn thường cần trữ lượng nguyên
vật liệu lớn nên nhiều khi việc sử dụng nguyên liếu sẵn có tại các địa
phương thường gặp khó khăn do lượng dự trữ thấp không đảm bảo cho sản
xuất. Trong khi đó DNVVN có thể tận dụng được những lợi thế này.
- Cuối cùng, DNVVN còn có những ưu thế như: Dễ phát huy bản
chất hợp tác, đa dạng về lĩnh vực hoạt động, có mặt ở khắp các vùng lãnh
thổ…
• Hạn chế của DNVVN
- Khả năng tài chính của DNVVN hạn chế
Quy mô vốn nhỏ là một đặc điểm mang tính chất hai mặt. Nó vừa
mang lại ưu thế như đã nêu trên cho các DNVVN, nhưng đồng thời cũng
đem lại không ít khó khăn cho họ. Khả năng tài chính là vấn đề quan ngại
của ngân hàng khi quyết định cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này,
vì vốn chủ sở hữu nhỏ và thường không đảm bảo về tài sản thế chấp và các
điều kiện khác cũng như báo cáo tài chính thường không rõ ràng, minh
bạch. Do vậy, các DNVVN khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng
chính thức của ngân hàng cũng như của các tổ chức tài chính khác… Chính
vì thế phần lớn các doanh nghiệp thường ở trong tình trạng thiếu vốn, dẫn
đến có thể bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh.
- Môi trường kinh doanh không thuận lợi, thị trường tiêu thụ sản
phẩm nhỏ và bấp bênh
Do có những hạn chế về vốn nên khả năng quảng bá và tiếp cận thị
trường trong nước cũng như nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn. Vốn ít,
công nghệ kém cũng đồng nghĩa với việc chất lượng về sản phẩm, dịch vụ
không đảm bảo và khó cạnh tranh với những sản phẩm của các doanh
nghiệp lớn cùng ngành.
- Thiếu thông tin
Cập nhật thông tin, phân tích và đánh giá thị trường là một trong
những yếu tố rất quan trọng trong quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, hầu hết
các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không quan tâm đến vấn đề này. Do
như: hoạt động cung ứng đầu vào, tiếp nhận đầu ra, các hoạt động phụ trợ
phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp…
Lý do thành công trong việc giải quyết việc làm của DNVVN là:
Thứ nhất, ở hầu hết các quốc gia, DNVVN có số lượng lớn, thường
chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp;
Thứ hai, trong khi các doanh nghiệp lớn thường chỉ tập trung ở đồng
bằng, đặc biệt là ở những khu đô thị, thì các DNVVN phân bố rộng rãi từ
thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng lên miền núi, giải quyết nhu cầu việc
làm ở các địa phương và góp phần cân đối lao động;
Thứ ba, do dễ khởi sự nên các DNVVN có thể giúp giải quyết nhanh
chóng số lao động dôi tư tạm thời của nền kinh tế. Ngoài ra, sự đa dạng về
ngành nghề và sự phân bố rộng khắp của các DNVVN cho phép người lao
động lựa chọn được công việc phù hợp với điều kiện và khả năng của họ.
1.2.3.2. Góp phần tạo ra thu nhập đảm bảo đời sống cho người lao
động
Về mặt xã hội, DNVVN góp phần tích cực cho quá trình tái phân
phối thu nhập và bình đẳng xã hội; do vừa thúc đẩy tăng tầng lớp trung lưu,
vừa làm giảm tỷ lệ người nghèo trong xã hội. Sự phát triển của các
DNVVN không những giải quyết được việc làm, tạo ra thu nhập cho người
lao động mà còn có tác động làm tăng thu nhập của công nhân do tỷ lệ thất
nghiệp thấp. Điều này có thể được lý giải bằng quan hệ cung- cầu và giá cả
trên thị trường lao động.
1.2.3.3. Có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, góp phần nâng cao khối lượng và chất lượng hàng hóa,
dịch vụ
Về tiền vốn: Đối với các nước phát triển vấn đề vốn có thể không
khó khăn lắm, nhưng đối với các nước đang phát triển và kém phát triển thì
việc tận dụng mọi nguồn vốn trong xã hội là rất cần thiết. Chính các
DNVVN đã cho phép làm được điều này, vì loại hình DNVVN mang tính
tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng
tinh là các DNVVN, có thể với tư cách là người cung cấp nguyên vật liệu
đầu vào, cung cấp dịch vụ, hoặc là người trung gian tiêu thụ sản phẩm đầu
ra, hay cũng có thể với tư cách là người gia công một vài công đoạn sản
phẩm của doanh nghiệp lớn. Vì vậy sự tồn tại và phát triển của các
DNVVN rất cần thiết để bổ sung cho hoạt động của các doanh nghiệp lớn.
1.2.3.6. Góp phần quan trọng vào quá trình tích luỹ kinh tế và là cơ sở
để phát triển thành doanh nghiệp lớn
Do lợi nhuận của vốn đầu tư tại các DNVVN thường là số dương
nên các DNVVN có xu hướng giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng sản
xuất. Chính vì vậy, quá trình phát triển DNVVN cũng là quá trình tích tụ
vốn, tìm kiếm mở rộng thị trường, hoặc sự liên kết, hợp tác kinh doanh…
Ngoài ra, do chi phí đầu tư thấp, việc khởi sự bằng mô hình DNVVN
tạo khả năng thử nghiệm các sản phẩm mới và tạo tiền đề phát triển trở
thành doanh nghiệp lớn.
1.2.3.7. Góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng tỷ lệ nội địa
hóa của sản phẩm
Với đặc tính năng động và nhạy bén, cho phép các DNVVN tham
gia sản xuất các sản phẩm xuất khẩu hoặc những sản phẩm có khả năng
thay thế hàng nhập khẩu. Chất lượng sản phẩm có thể không cao, nhưng
chắc chắc là giá sẽ rẻ hơn hàng nhập khẩu. Đặc biệt,việc phát triển
DNVVN tạo khả năng thúc đẩy tiềm năng của các ngành nghề truyền thống
ở các địa phương của mỗi nước, nhất là các ngành thủ công mỹ nghệ, là
một trong những ngành có tỷ trọng xuất khẩu cao ở các nước.
Từ những vai trò quan trọng trên của DNVVN cho thấy sự cần thiết
tất yếu phải phát triển loại hình doanh nghiệp này tại các quốc gia. Đặc biệt
là ở Việt Nam, việc phát triển DNVVN sẽ là cơ hội để tăng trưởng kinh tế
trong điều kiện hạn hẹp về vốn và kỹ thuật hiện nay.
1.3. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ
1.3.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của các
- Được sử dụng nhiều sản phẩm, tiện ích khác của Ngân hàng như:
bảo lãnh, mở L/C, quản lý tiền mặt, chuyển tiền…;
- Do khả năng quản lý có giới hạn của các chủ DNVVN nên trong
quá trình cung ứng tín dụng, ngân hàng còn có thể tư vấn cho các DNVVN
về những vấn đề có liên quan đến tình hình tài chính cũng như cung cấp
thêm cho doanh nghiệp những thông tin quan trọng về thị trường,… Những
tư vấn của ngân hàng giúp doanh nghiệp hoàn thiện các phương án, dự án
kinh doanh có hiệu quả hay ngăn chặn việc đầu tư vào những phương án,
dự án kém hiệu quả,
1.3.2. Tính tất yếu của việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với
DNVVN
Vai trò to lớn của DNVVN đối với nền kinh tế như đã nêu trên đã
được Chính phủ đánh giá một cách đúng đắn và ngày càng có nhiều giải
pháp nhằm hỗ trợ đối với loại hình doanh nghiệp này. Trong Nghị định
56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa cũng đã chỉ rõ “Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ
quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích
và dành một số dự án hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực cho các tổ
chức tài chính phù hợp mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa,
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư và các dịch
vụ hỗ trợ khác cho khách hàng là đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp
này là một xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay. Nó vừa đảm bảo thực
hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ trong định hướng phát triển kinh tế- xã
hội, đồng thời đem lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng. DNVVN chiếm một số
lượng khá lớn trong nền kinh tế với nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau,
hứa hẹn một thị trường tiềm năng cho việc mở rộng tín dụng, tái cơ cấu dư
nợ nhằm đưa ra một cơ cấu dư nợ hợp lý nhất đem lại lợi nhuận tối đa cho
ngân hàng.
vậy) cũng dễ kết thúc; (ii) Trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của chủ
doanh nghiệp thường không cao nên dễ bị thua lỗ hơn; (iii) Thông tin về
các DNVVN trên thị trường rất hạn chế, không phổ biến và cập nhật
thường xuyên như thông tin về các doanh nghiệp lớn.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng tín dụng đối với
DNVVN
1.3.4.1. Các nhân tố thuộc về Ngân hàng thương mại