Đề cương môn QLNN về Kinh tế Xã hội - Pdf 23

Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
ĐỀ CƯƠNG: QUẢN LÝ NHÀ NƯƠC VỀ KINH TẾ XÃ HỘI
Câu 1+2: Khái niệm nền KTTT. Phân tích các đặc trưng của nền KTTT. So sánh
nền KTTT với nền KTKHHTT
 Khái niệm nền KTTT
Nền kinh tế thị trường được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế. Khi các
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hóa ,dịch vụ trên thị
trường (người bán cần tiền ,người mua cần hàng hóa và họ phải gặp nhau trên thị
trường) thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường.
 Phân tích các đặc trưng của nền KTTT
_ Quá trình lưu thông những sản phẩm vật chất từ sản xuất đến tiêu dùng phải
được thực hiện chủ yếu bằng phương thức mua bán
Hình thức mua bán sẽ tạo ra một thị trường đầy đủ các loại mặt hàng đáp ứng
những nhu cầu cần thiết của xã hội. Thông qua quá trình này giá trị của hàng hóa
được tạo nên. Hình thức mua bán trao đổi mua bán không chỉ làm phong phú thị
trường hàng hóa trong và ngoài nước mà còn cung cấp những mặt hàng mà ở một
số nơi không có, không sản xuất được.
Sự luân chuyển vật chất trong quá trình sản xuất có thể được thực hiện bằng
nhiều cách: luân chuyển nội bộ, luân chuyển qua mua bán. Một nền kinh tế được
coi là nền kinh tế thị trường khi tổng lượng mua-bán vượt quá nửa tổng lượng vật
chất của xã hội.
Ví dụ:
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
_ Người trao đổi hàng hóa phải có quyền tự do quyết định khi tham gia trao đổi
trên thị trường ở 3 mặt sau :
+ Tự do lựa chọn nội dung trao đổi
+ Tự do lựa chọn đối tác trao đổi
+ Tự do thỏa thuận giá cả trao đổi ,theo cách thuận mua vừa bán
Điều này đã được hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 ghi nhận
Điều 21(chương 2)
Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh

phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên
lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các
lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể
xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp. Cạnh
tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ
trong cùng một ngành…
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi
giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo)… Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản
xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy
sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế.
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu
cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ
thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản
xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng
cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu
hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển.
Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất
phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản
xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng
với thị hiếu của người tiêu dùng. Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại
những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội
trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác
động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp
luật hay bất chấp pháp luật, như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm
pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại, ) hoặc những hành vi cạnh tranh
làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái.
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E

phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế:
kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế
tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật,
mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.”
Vd: nước ta thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhằm phát triển đất nước theo
mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công băng,dân chủ văn minh…
_ Có sự quản lý của nhà nước .Đặc trưng này được hình thành ở các nền kinh tế
thị trường trong vài thập kỉ gần đây,do nhu cầu không chỉ của nhà nước là người
đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền,mà còn do nhu cầu của chính những
người tham gia kinh tế thị trường.
Cơ sở pháp lý: Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001 ghi nhận tại :
Điều 15
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể là nền tảng.
Điều 24
Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển
các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên
tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong
nước.
Điều 26
Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính
sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý Nhà nước giữa các ngành, các
cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước.
Cơ sở lý luận: Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ 6 ghi nhận: “Đổi mới về cơ
chế quản lý kinh tế: cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”

 So sánh nền KTTT với KTKHHTT
Giống nhau:
KTTT KTKHHTT
Khái
niệm
Nền kinh tế thị trường được coi
như một hệ thống các quan hệ
kinh tế. Khi các quan hệ kinh tế
giữa các chủ thể biểu hiện qua
mua, bán hàng hóa ,dịch vụ trên
thị trường (người bán cần tiền
,người mua cần hàng hóa và họ
phải gặp nhau trên thị trường) thì
nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế
thị trường.
Kinh tế kế hoạch (còn được gọi là
nền kinh tế kế hoạch tập trung
hoặc nền kinh tế chỉ huy) là một
nền kinh tế trong đó Nhà nước
kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản
xuất và giữ quyền quyết định việc
sử dụng các yếu tố sản xuất cũng
như phân phối về thu nhập. Trong
một nền kinh tế như vậy, các nhà
làm kế hoạch quyết định loại và
khối lượng hàng hóa nào sẽ được
sản xuất, các xí nghiệp thực thi
việc sản xuất này, trái ngược với
một nền kinh tế phi kế hoạch.
Đặc điểm

_ Người trao đổi hàng hóa phải có
quyền tự do quyết định khi tham gia trao
đổi trên thị trường ở 3 mặt sau :
+ Tự do lựa chọn nội dung trao đổi
+ Tự do lựa chọn đối tác trao đổi
+ Tự do thỏa thuận giá cả trao đổi
,theo cách thuận mua vừa bán
_ Hoạt động mua-bán được hoạt động
thường xuyên ,ổn định trên cơ sở một
kết cấu hạ tầng tối thiểu đủ, để việc mua
bán diễn ra thuận lợi,an toàn.
_ Các đối tượng hoạt động trong nền
kinh tế thị trường đều theo đuổi lợi ích
của mình. Lợi ích cá nhân là động lực
trực tiếp của sự phát triển kinh tế.Tuy
lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của
sự phát triển kinh tế nhưng lợi ích cá
nhân không được xâm phạm đến lợi ích
của người khác và của cộng đồng.
_Cạnh tranh là linh hồn của nền kinh tế
thị trường, là động lực thúc đẩy sự tiến
Có 3 đăc trưng:
_ Nền KT có hai thành phần sở
hữu về tư liệu SX là sở hữu nhà
nước và sở hữu tập thể.Được thể
hiện dưới dạng xí nghiệp quốc
doanh và hợp tác xã.
_ Nền kinh tế hai thành phần chịu
sự quản lý tập trung của nhà nước
thông qua kế hoạch hóa là khâu

_ Tạo niềm tin cho công dân, làm cho công dân yên chí làm giàu về KT.
_ Tạo tiền đề cho việc XD và PT kinh tế.
Nhiệm vụ của công tác lập pháp lập quy này là:
_ Thể chế hóa các chủ thể KT tham gia nền KTTT quốc dân về các mặt:
địa vị pháp lý, điều kiện và thủ tục ra đời, vai trò của nó trên thương trường, cơ cấu
tổ chức của chúng.
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
_ Thể chế hóa các hành vi KT, đưa lên để thành chuẩn mực cụ thể để các
loại KT nói trên tuân theo khi tiến hành hoạt động KT.
Các loại pháp luật và thể chế KT cần đc XD:
_ Hệ thống PL theo chủ thể hoạt động KT
Ví dụ: luật doanh nghiệp nhà nước, luật đầu tư nước ngoài tại VN, luật doanh
nghiệp
_ Hệ thống PL theo khách thể:
Ví dụ: luật tài nguyên, luật bảo vệ MT, luật khoáng sản
• Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch, dự án trong hệ thống
công vụ quản lý NN về KT
Đây là bước định hướng hành động cho các chủ thể kinh tế, công tác chiến lược
quy hoạch là bước thiết kế chương trình cụ thể.
Nhiệm vụ của công tác chiến lược quy hoạch là phải tạo ra các sản phẩm quản lý
sau:
_ Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển KT_XH
_ Kế hoạch kinh tế dài hạn,trung hạn,hằng năm.
_ Các dự án cụ thể về đầu tư KT.
Ví dụ: dự án xây dựng khu kinh tế mở Chu Lai, Nhà máy lọc dầu Dung Quất,
………
• Tổ chức thực hiện chiến lược quy hoạch kế hoạch, dự án PT KT
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
Tổ chức và tổ chức lại hệ thống doanh nghiệp NN cho phù hợp với yc của từng
giai đoạn PT của đnc.

theo luật định: thu thuế, phí, các khoản lợi ích khác
• Tổ chức bộ máy QLNN về KT
 Liên hệ trong việc QL nền KT hiện nay.
Câu 4: Khái niệm của VH. Vai trò của VH đối với sự PT KT XH.
 Khái niệm VH:
VH là hệ thống những giá trị chuẩn mực xã hội biểu hiện trong mọi
lối sống vc và tt của một công đồng người hay một quốc gia, văn hóa
phải là các giá trị chuẩn mực.
Theo em văn hóa là tổng thể nhũng giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong lịch sử được lưu truyền và phát huy cho đến
nay.
 Vai trò của VH đv sự PT KT_XH
_ Văn hóa là nền tảng của sự PT
_ Văn hóa là mục tiêu của sự PT
_ Văn hóa là động lực của sự PT
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
_ Văn hóa là hệ điều tiết sự PT
Câu 5: Phân tích các vai trò của VH đối với sự PTKT. Liên hệ vai trò của VH
trong quá trình PT KT XH của đnc hiện nay.
 Phân tích vai trò của VH
_ VH là nền tảng của sự PT
_ VH là mục tiêu của sự PT
Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi
phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng
lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện.
Trong vài thập kỷ trước đây, có một số nước cho rằng: chỉ cần tăng trưởng kinh tế
với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc phát triển sử dụng khoa
học công nghệ cao là có sự phát triển. Sau một thời gian thực hiện kết quả cho
thấy, các quốc gia đó đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã
vấp phải sự xung đột gay gắt trong xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa ngày

Văn hóa là động lực của sự phát triển, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con người
quyết định chi phối. Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con
người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát
triển xã hội.
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu tố
lao động của con người cho sự phát triển. Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ,
là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất
và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người
cũng như của toàn xã hội.
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít
lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khả năng
phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay
không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là
trong ý chí tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống,
trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng.
Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn
hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản
xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn
hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc
tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của
đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng
trở nên hiện thực bấy nhiêu.
_ Văn hóa là hệ điều tiết của sự PT
Văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện bên
trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâu bền.
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân,

nhiên, vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện nay và các thế hệ con cháu mai
sau.
Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa.
Thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc,
đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác.
Nhận thức sâu sắc giá trị của văn hóa trong quá trình phát triển, Đảng ta xác định
tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ
trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng với việc xây
dựng văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững của đất nước. Trong đó, nội dung xây dựng văn hóa được xác
định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một
định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững.
 Lên hệ vai trò của VH trong quá trình PT KT XH của đnc hiện nay.
Ngày nay, Khoa học công nghệ phát triển đa dạng, phong phú và nhanh chóng đi
vào cuộc sống đã đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Trong nền kinh tế
thị trường và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế ngày càng phát triển thì vấn đề
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
văn hoá, tộc người và quốc gia dân tộc… đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nhận
thức đúng đắn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự thiết lập mạng lưới kinh doanh quốc tế thông
qua các công ty đa quốc gia, vấn đề vai trò của văn hóa bản địa cũng thường được
đặt ra, nhất là trong lĩnh vực xây dựng chiến lược marketing và quản trị kinh
doanh. Rất nhiều những thất bại trong kinh doanh quốc tế có nguồn gốc từ việc
thiếu hiểu biết những điểm văn hóa đặc trưng bản địa.
Vì vậy trong quá trình PT KT XH VH có vai trò rất quan trọng Trong sự phát triển
của xã hội, kinh tế và văn hoá luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại
chặt chẽ. Tuy nhiên, tới các thập kỷ gần đây, vấn đề phát triển kinh tế phải dựa trên
nền tảng của phát triển văn hoá mới được đặt ra, được khẳng định là một quy luật
tất yếu khách quan của phát triển. Vì thế, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc

điều Đảng ta khẳng định: văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu
vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đã chỉ rõ vai trò cực kỳ quan
trọng của văn hoá đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, cần nhận thức sâu sắc
về vị trí, vai trò của văn hoá trong sự nghiệp đổi mới.
Do vậy, sự phát triển KT đòi hỏi phải nâng cao vai trò, vị thế của văn hoá trong
hoạt động kinh tế, văn hoá khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, quyết
định sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Và cũng do vậy, trong xã hội hiện đại,
con người phải được xã hội tạo điều kiện và phải tự mình xây dựng yếu tố nền tảng
Nguyễn Thị Xuyến_QLGDK3E
của văn hoá là sự hiểu biết, là tri thức, kinh nghiệm, là phong cách ứng xử, là nhận
thức về cống hiến và hưởng thụ , trong quá trình học tập, lao động để duy trì, phát
triển cuộc sống. Các yếu tố này, nếu được khai thác, phát huy sẽ trở thành một
động lực to lớn đối với sự phát triển kinh tế.
Cùng với quan điểm khách quan, khoa học trong việc tiếp thu tinh hoa tốt đẹp của
văn hoá nhân loại, Đảng ta khẳng định, bản sắc văn hoá, tinh thần dân tộc là nguồn
tài nguyên của dân tộc, của đất nước. Có thể nói rằng, trong lịch sử hàng chục thế
kỷ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, nguồn lực quan trọng nhất trong
truyền thống văn hoá là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước. Từ khi ra đời,
Đảng ta đã động viên, bồi dưỡng và cổ vũ toàn dân phát huy cao độ tinh thần yêu
nước để giành lại, giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tế
cho thấy, những thành tựu to lớn mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được
trong hơn nửa thế kỷ qua có vai trò của bản lĩnh, của bản sắc văn hoá Việt Nam,
của sức mạnh của văn hoá Việt Nam.
Chúng ta đang trong quá trình hội nhập thế giới, và toàn cầu hoá là cơ hội để văn
hoá Việt Nam học hỏi và phát huy các giá trị của mình. Song chính lúc này, chúng
ta phải đối mặt với các thách thức của quá trình toàn cầu hoá khi nó trực tiếp tác
động tới văn hoá dân tộc. Cụ thể là, tác động của một số yếu tố tiêu cực từ toàn cầu
hoá có khả năng cổ suý cho lối sống tiêu thụ thực dụng, làm tha hoá nhân cách, rối
loạn một số giá trị xã hội, đặt không ít hoạt động văn hoá và không ít quan hệ xã
hội trước nguy cơ bị thương mại hoá Vì thế, hơn lúc nào hết, văn hoá phải góp

bằng các áp lực của du luận XH, sự khen chê của cộng đồng.
Để QL hoạt động VH phải XD thể chế VH làm cơ sở công cụ QL về VH và công
tác tư tưởng VH.
(dài quá k đánh nữa xem giáo trình)
 Liên hệ vào việc thực hiện nghị quyết của Đảng về XD và PT nền VH
tiên tiến đậm đà bản sắc DT hiện nay và tương lai.
Cùng với những thành tựu quan trọng về kinh tế, an ninh - quốc phòng, đối ngoại,
vấn đề phát triển văn hóa- xã hội và xây dựng con người luôn luôn được Đảng coi
trọng.
Đại hội IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hóa được thể hiện
trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Nghị quyết
Đại hội IX tiếp tục nhấn mạnh vị trí của văn hóa trong lịch sử phát triển của dân
tộc ta.
Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Gắn kết chặt chẽ hơn với phát
triển kinh tế xã hội; Làm cho văn hóa thấm sâu và mọi lĩnh vực đời sống xã hội;
Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; Bảo vệ và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status