Họ và tên: Lê Phú Dương
Ngày sinh: 20/10/1975
Lớp: K16B - VB2 Kế toán
BÀI TẬP CÁ NHÂN
Môn: Luật kinh tế
Đề bài: Lấy ví dụ về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền và phân tích các biểu hiện của nó.
Bài làm:
* Khái niệm vị trí độc quyền: Theo quy định tại Điều 12 Luật Cạnh Tranh Việt Nam
năm 2014, “Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp
nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên
quan”.
* Đối tượng áp dụng: là những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đang có độc
quyền.
* Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền: là những hành vi do doanh nghiệp có vị trí độc
quyền thực hiện nhằm củng cố vị trí độc quyền bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra
khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường,
phát triển kinh doanh hoặc nhằm thu lợi nhuận độc quyền bằng cách bóc lột khách hàng.
* Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị
trường.
Thứ hai, doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã hoặc đang thực hiện hành vi hạn chế
cạnh tranh được quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật Cạnh Tranh mới bị coi là lạm dụng
vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh Tranh.
* Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền theo quy định tại Điều 14 Luật Cạnh Tranh:
- Bán hàng hóa cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh.
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.
- Hạn chế sản xuất phân phối hàng hóa, dịch vụ giới hạn thị trường, cản trở sự phát
triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng.
Bài làm:
* Khái niệm vị trí độc quyền: Theo quy định tại Điều 12 Luật Cạnh Tranh Việt Nam
năm 2014, “Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp
nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên
quan”.
* Đối tượng áp dụng: là những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đang có độc
quyền.
* Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền: là những hành vi do doanh nghiệp có vị trí độc
quyền thực hiện nhằm củng cố vị trí độc quyền bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra
khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường,
phát triển kinh doanh hoặc nhằm thu lợi nhuận độc quyền bằng cách bóc lột khách hàng.
* Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị
trường.
Thứ hai, doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã hoặc đang thực hiện hành vi hạn chế
cạnh tranh được quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật Cạnh Tranh mới bị coi là lạm dụng
vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh Tranh.
* Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền theo quy định tại Điều 14 Luật Cạnh Tranh:
- Bán hàng hóa cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh.
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.
- Hạn chế sản xuất phân phối hàng hóa, dịch vụ giới hạn thị trường, cản trở sự phát
triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng.
- Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình
đẳng trong cạnh tranh.
- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch
vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến
đối tượng của hợp đồng.
- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện những hành vi được quy định tại Điều 13
Luật Cạnh Tranh mới bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh
=> Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường là những hành vi do doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện nhằm củng cố vị
trí thống lĩnh bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm
doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, để phát triển kinh doanh hoặc nhằm
thu lợi nhuận bằng cách bóc lột khách hàng.
* Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh trên thị trường liên quan.
Thứ hai, doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã hoặc đang thực
hiện hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh Tranh.
Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh
trên thị trường liên quan.
* Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Luật Cạnh Tranh:
- Bán hàng hóa cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh.
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.
- Hạn chế sản xuất phân phối hàng hóa, dịch vụ giới hạn thị trường, cản trở sự phát
triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng.
- Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình
đẳng trong cạnh tranh.
- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch
vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến
đối tượng của hợp đồng.
- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
* Ví dụ về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường: Công ty A là công ty cung
cấp xăng cho máy bay trên các sân bay Việt Nam có thị phần chiếm 35% trên thị trường
liên quan. Do giá xăng dầu quốc tế tăng, công ty A yêu cầu hãng hàng không B chấp
với con số ước tính nhưng tỷ lệ nhận đặt hàng vẫn được duy trì như thỏa thuận. Theo đó
bằng nhiều cách thức khác nhau như, nhận đặt hàng trước, kéo dài đơn hàng hoặc chia
nhỏ các đơn hàng, thậm chí là thông thầu đối với đặt hàng trực tiếp các doanh nghiệp này
sẽ điều chỉnh sao cho khớp với số lượng nhận đặt hàng đã thỏa thuận của từng doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp vẫn được tự quyết đinh giá bán sản phẩm của hãng mình.
3. Doanh nghiệp A là doanh nghiệp nhà nước độc quyền trên thị trường dịch vụ cung
cấp xăng dầu hàng không dân dụng ở Việt Nam. Hãng hàng không Y và Z là hai khách
hàng chủ yếu của doanh nghiệp A. Doanh nghiệp A ký hợp đồng dịch vụ cung cấp xăng
dầu thường xuyên cho các chuyến bay của hãng Y và Z.
Tháng 2/2008 do thị trường xăng dầu thế giới biến động thất thường, doanh nghiệp A
đã quyết định tăng giá dịch vụ cung cấp xăng dầu do mình cung cấp thêm 15%. Doanh
nghiệp A có gửi thông báo tới hãng hàng không Y, thông báo sẽ chính thức tăng giá dịch
vụ cung cấp xăng dầu cho các chuyến bay kể từ ngày 1/4/2008. Không chấp nhận với
việc tăng giá này của A, hãng Y đã gửi thông báo lại cho doanh nghiệp A, trong đó yêu
cầu doanh nghiệp A không được đơn phương tăng giá dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng
không do mình cung cấp.
Tuy nhiên sáng ngày 1/4/2008, do hãng Y vẫn không chấp nhận mức giá mà doanh
nghiệp A đưa ra, vì vậy A đã gửi công văn cho các chi nhánh yêu cầu từ chối cung cấp
xăng cho các chuyến bay của hãng Y, khiến hãng phải tạm hoãn lịch bay của tất cả các
chuyến bay ngày 1/4/2008.
Hãng Y đã gửi công văn lên Tổng cục hàng không Việt Nam yêu cầu giải quyết, vì
vậy doanh nghiệp A đã buộc phải cung cấp xăng trở lại cho các chuyến bay của hãng Y
ngay trong ngày 1/4/2008
4. Công ty trách nhiệm hữu hạn A có trụ sở quận 1 Thành phố HCM sản xuất bia
Laser, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (có vốn đầu tư nước ngoài) hoạt động trong khu
công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất bia Tiger, bia Heineken và bán trên
phạm vi toàn quốc. Ngày 12/6/2007 Công ty A khiếu nại đến Cục quản lý cạnh tranh, yêu
cầu xử lý Công ty TNHH B về hành vi hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh tranh. Theo
khiếu nại của Công ty A thì Công ty B có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị
trường bia thành phố HCM (với thị phần là 50%), để loại bỏ đối thủ cạnh tranh khi ký các
lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền và phân tích các biểu hiện của nó.
Bài làm:
* Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường: Theo luật cạnh tranh Việt Nam năm 2014,
“Doanh nghiệp sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở
lên trên thị trường liên quan hay có khả năng hạn chế cạnh tranh đáng kể”, trong khi
nhóm doanh nghiệp sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu họ cùng hành động
để hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.
* Đối tượng áp dụng: là những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đang có vị trí
thống lĩnh.
* Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh được thể hiện: Khi doanh nghiệp, nhóm doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện những hành vi được quy định tại Điều 13
và Điều 14 Luật Cạnh Tranh mới bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh
tranh
=> Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường là những hành vi do doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện nhằm củng cố vị
trí thống lĩnh bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm
doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, để phát triển kinh doanh hoặc nhằm
thu lợi nhuận bằng cách bóc lột khách hàng.
* Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh trên thị trường liên quan.
Thứ hai, doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã hoặc đang thực
hiện hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh Tranh.
Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh
trên thị trường liên quan.
* Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Luật Cạnh Tranh:
- Bán hàng hóa cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền và phân tích các biểu hiện của nó.
Bài làm:
* Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường: Theo luật cạnh tranh Việt Nam năm 2014,
“Doanh nghiệp sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở
lên trên thị trường liên quan hay có khả năng hạn chế cạnh tranh đáng kể”, trong khi
nhóm doanh nghiệp sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu họ cùng hành động
để hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.
* Đối tượng áp dụng: là những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đang có vị trí
thống lĩnh.
* Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh được thể hiện: Khi doanh nghiệp, nhóm doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện những hành vi được quy định tại Điều 13
và Điều 14 Luật Cạnh Tranh mới bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh
tranh
=> Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường là những hành vi do doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện nhằm củng cố vị
trí thống lĩnh bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm
doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, để phát triển kinh doanh hoặc nhằm
thu lợi nhuận bằng cách bóc lột khách hàng.
* Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh trên thị trường liên quan.
Thứ hai, doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã hoặc đang thực
hiện hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh Tranh.
Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh
trên thị trường liên quan.
* Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Luật Cạnh Tranh:
- Bán hàng hóa cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh