Lời mở đầu
Công nghiệp hoá là bớc phát triển tất yếu của mỗi dân tộc
mỗi đất nớc phải trải qua. Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân ở nớc ta, cần giải quyết
đồng bộ nhiều vấn đề quan trọng. Trong đó vốn là chìa khoá
để thực hiện công nghiệp hoá.
Để công nghiệp hoá với tốc độ nhanh cần có cơ chế chính
sách và biện pháp huy động đợc nhiều vốn nhất và sử dụng vốn có
hiệu quả.
Một trong những biện pháp thực hiện huy động mọi nguồn
vốn có thể huy động đợc khơi động mọi nguồn vốn trong nớc,
khuyến khích dân chúng tiết kiệm và thu hút một nguồn vốn nhàn
rỗi vào đầu t, thu hút vốn đầu t từ nớc ngoài, đó là TTCK.
Đối với chúng ta, đây là vấn đề mới mẻ cả về lý luận và thực
tiễn, vì vậy để có một TTCK hợp lý, đem lại hiệu quả cao đòi hỏi
chúng ta có nhận thức và quan điểm đúng đắn về vấn đề này.
Nhằm góp phần vào lĩnh vực phát triển của TTCK của Việt
Nam. Em chọn chuyên đề tốt nghiệp với đề tài là:
" Hoàn thiện
và nâng cao chất lợng các hoạt động kinh doanh chứng
khoán của CTCK Ngân hàng Công thơng
.
Chơng I
Những lý luận chung về công ty chứng khoán
và các hoạt động kinh doanh của công ty
1.1. Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian
thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK. ở Việt Nam theo quyết định
04/1998/QĐ-UBCK 3 ngày 13/10/1998 của Uỷ ban chứng khoán nhà
nớccông ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty TNHH thành
* Đối với nhà đầu t:
Thông qua hoạt động nh môi giới, t vấn đầu t, quản lý danh
mục đầu t công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời
gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu t. Đối với
hàng hoá thông thờng mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí
cho ngời mua và ngời bán. Tuy nhiên đối với TTCK sự biến động th-
ờng xuyên của giá cả chứng khoán cũng nh mức độ rủi ro cao sẽ làm
cho những nhà đầu t tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm
hiểu thông tin trớc khi quyết định đầu t. Nhng thông qua các công
ty chứng khoán với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề
nghiệp, sẽ giúp các nhà đầu t thực hiện các khoản đầu t một cách
hiệu quả.* Đối với TTCK
Đối với TTCK , công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò chính:
(1) Góp phần tạo lập giá cả điều tiết thị trờng. Giá cả chứng
khoán là do thị trờng quyết định. Tuy nhiên để đa ra mức giá
cuối cùng, ngời mua và ngời bán phải thông qua các công ty chứng
khoán vì họ không đợc tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán.
Cáac công ty chứng khoán là những thành viên của thị trờng, do
đó họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trờng thông qua đấu giá.
Trên thị trờng sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà
phát hành đa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy giá cả của mỗi
loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá các các
công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham
gia điều tiết thị trờng. Để bảo vệ những khoản đầu t của khách
hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán
đã dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò
bình ổn thị trờng.
2) Góp phần làm tăng tính thanh khoán của các tài sản tài
chính, TTCK có vai trò là môi trờng làm tăng tính thanh khoán của
đối với TTCK nói chung.
1.1.4 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán
Hiện nay, có ba loại hình tài chính cơ bản của công ty chứng
khoán, đó là: công ty hợp doanh, công ty TNHH, công ty cổ phần:
a. Công ty hợp doanh
- Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên
- Thành viên của công ty chứng khoán hợp doanh bao gồm:
thành viên góp vốn và thành viên hợp doanh. Các thành viên hợp
doanh chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình về các
nghĩa vụ của công ty. Các thành viên góp vốn không tham gia
vào điều hành công ty họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong
phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ của công ty.
* Công ty hợp doanh thông thờng không đợc phát hành bất cứ
một loại chứng khoán nào.
b. Công ty cổ phần:
* Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu
các công ty là các cổ đông.
* Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh
nghiệp
* Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu
và trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về
chứng khoán hiện hành.
c. Công ty TNHH
* Thành viên của công ty trách nhiệm phải chịu trách nhiệm về
các
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
* Công ty TNHH không đợc phép phát hành cổ phiếu. Do có
những u điểm của loại hình công ty cổ phần và công ty TNHH so
và doanh thu của mình là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt
trong hoạt động dịch vụ tài chính và phải đợc thực hiện ngay từ
khi tiếp xúc với khách hàng.
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: có nhiều phơng pháp để
tìm kiếm khách hàng, nhng tựu trung có thể đợc gộp vào nhóm 6
phơng cách sau: những đầu mối đợc gây dựng từ công ty hoặc
các tài khoản chuyển nhợng lại; những lời giới thiệu khách hàng;
mạng lới kinh doanh; các chiến dịch viết th; các cuộc hội thảo; gọi
điện làm quen.
- Kỹ năng khai thác thông tin: một trong những nguyên tắc
trong hàng nghề môi giới là phải hiểu khách hàng, biết đợc khả
năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Ngoài ra
nó còn giúp cho nhà môi giới tăng đợc khối lợng tài sản quản lý, có
chiến lợc khách hàng thích hợp.
1.2.1.2. Nghiệp vụ t vấn đầu t chứng khoán.
Cũng nh các loại hình t vấn khác, t vấn đầu t chứng khoán là
việc các Công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để
đa ra các lời khuyên phân tích tình huống và có thể thực hiện
một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu t và
cơ cấu tài chính cho khách hàng.
Hoạt động t vấn chứng khoán đợc phân loại theo các tiêu chí
sau:
+ Theo hình thức của hoạt động t vấn: Bao gồm t vấn trực
tiếp (gặp gỡ khách hàng trực tiếp hoặc thông qua th từ, điện
thoại) và t vấn gián tiếp (thông qua các ấn phẩm, sách báo) để t
vấn cho khách hàng.
+ Theo mức độ uỷ quyền của t vấn: Bao gồm t vấn gợi ý (gợi ý
cho khách hàng về phơng cách đầu t hợp lý, quyết định đầu t là
của khách hàng) và t vấn uỷ quyền (vừa t vấn vừa quyết định
theo sự phân cấp, uỷ quyền thực hiện của khách hàng).
cơ sở khách quan là quá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa
học, logic các vấn đề nghiên cứu.
1.2.1.3. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
Để thực hiện thành công các đợt chào bán hàng chứng khoán
ra công chúng, đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các Công
ty chứng khoán t vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh
phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây chính là nghiệp vụ
bảo lãnh phát hành của các Công ty chứng khoán và là nghiệp vụ
chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của Công ty
chứng khoán.
Nh vậy, nghiệp vụ sau bảo lãnh phát hành là việc Công ty
chứng khoán có chức năng bảo lãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức
bảo lãnh - TCBL) giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trớc
khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và
giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát
hành. Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có Công ty
chứng khoán mà còn bao gồm các định chế tài chính khác nh
ngân hàng đầu t nhng thông thờng việc Công ty chứng khoán
nhận bảo lãnh phát hành thờng kiêm luôn việc phân phối chứng
khoán, còn các ngân hàng đầu t thờng đứng ra nhận bảo lãnh
phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó
chuyển phân phối chứng khoán cho các Công ty chứng khoán tự
doanh hoặc các thành viên khác.
Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó
gửi yêu cầu bảo lãnh phát hành đến Công ty chứng khoán. Công ty
chứng khoán có thể ký một hợp đồng t vấn quản lý để t vấn cho
tổ chức phát hành về loại chứng khoán cần phát hành, số lợng
chứng khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và phơng thức
phân phối chứng khoán đến các nhà đầu t thích hợp. Để đợc
phép bảo lãnh phát hành, Công ty chứng khoán phải đệ trình một
hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới,
vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ
cho chính mình, vì vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn
đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và
cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các nớc đều yêu cầu
tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh, công ty
chứng khoán phải u tiên thực hiện lệnh của khách hàng trớc khi thực
hiện lệnh của mình. Thậm chí luật pháp ở một số nớc còn quy
định có 2 loại hình công ty chứng khoán là công ty môi giới chứng
khoán chỉ làm chức năng môi giới và công ty chứng khoán có chức
năng tự doanh.
Khác với nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm
trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng để hởng hoa hồng, trong
hoạt động tự doanh công ty chứng khoán kinh doanh bằng chính
nguồn vốn của công ty. Vì vậy, công ty chứng khoán đòi hỏi phải
có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình đọ chuyên
môn, khả năng phân tích và đa ra các quyết định đầu t hợp lý,
đặc biệt trong trờng hợp đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trờng.
Yêu cầu đối với công ty chứng khoán
- Tách biệt quản lý: các công ty chứng khoán phải có sự tách
biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo
tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự tách biệt này bao gồm
tách biệt về: yếu tố con ngời; quy trình nghiệp vụ; vốn và tài sản
của khách hàng và công ty.
- u tiên khách hàng: công ty chứng khoán phải tuân thủ
nguyên tắc u tiên khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh.
Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải đợc xử lý
trớc lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công
bằng cho các khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán.
Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động
1.2.1.5. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu
t chứng khoán thông qua danh mục đầu t nhằm sinh lợi cho khách
hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng.
Quản lý danh mục đầu t là một dạng nghiệp vụ t vấn mang tính
chất tổng hợp có kèm theo đầu t, khách hàng uỷ thác tiền cho
Công ty chứng khoán thay mặt quyết định đầu t theo một chiến
lợc hay những nguyên tắc đã đợc khách hàng chấp nhận theo yêu
cầu (mức lợi nhuận kỳ vọng; rủi ro có thể chấp nhận.)
Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t có thể đợc
khái quát bao gồm các bớc sau:
+ Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: Công ty chứng khoán và
khách hàng tiếp xúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên
môn từ đó đa ra các yêu cầu về quản lý vốn uỷ thác.
+ Ký hợp đồng quản lý: CTCK ký hợp đồng quản lý giữa khách
hàng và Công ty theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ
thác, mục tiêu đầu t, quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản
lý danh mục đầu t.
+ Thực hiệp hợp đồng quản lý: Công ty chứng khoán thực hiện
đầu t vốn uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã đợc cam
kết và phải đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tài
sản tách biệt giữa khách hàng và chính Công ty.
1.2.1.6. Lu ký chứng khoán:
Là việc lu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua
các tài khoản lu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong
giao dịch chứng khoán, bởi vì trong giao dịch chứng khoán trên
thị trờng tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải
mở tài khoản lu ký chứng khoán tại các công ty chứng khoán (nếu
chứng khoán phát hành dới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửi các
chứng khón (nếu phát hành dới hình thức chứng chỉ vật chất). Khi
ở một số TTCK, pháp luật về TTCK còn cho phép Công ty chứng
khoán đợc thực hiện nghiệp vụ quản lý đầu t. Theo đó, Công ty
chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vồn
và tài sản của quỹ đầu t để đầu t vào chứng khoán. Công ty
chứng khoán đợc thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu t.
1.3 Chất lợng hoạt động của CTCK
1.3.1 Khái niệm chất lợng hoạt động
Các CTCK cũng là một doanh nghiệp do đó chất lợng hoạt
động đợc thể hiện ở hiệu quả kinh doanh của công ty đó. Đối với
CTCK thì đợc thể hiện ở hiệu quả của các nghiệp vụ kinh doanh
của công ty đó và đợc thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá sau.
1.3.2. Chỉ tiêu đánh giá
Tất cả các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều phải đặt ra
những mục tiêu cụ thể. Để đạt đợc mục tiêu đó trớc hết doanh
nghiệp phải xác định cho mình chiến lợc kinh doanh phù hợp với sự
biến động của thị trờng. Đồng thời phải tiến hành đánh giá hiệu
quả hoạt động kinh doanh. Vậy hiệu quả kinh doanh là gì? Hiệu
quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp để đạt đợc hiệu
quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp
nhất. Trong nền kinh tế thị trờng một doanh nghiệp kinh doanh có
hiệu quả khi doanh nghiệp đó đạt đợc hiệu quả kinh tế và hiệu
quả xã hội. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp th-
ờng dựa trên các chỉ tiêu định lợng và chỉ tiêu định tính.
1.3.2.1. Chỉ tiêu định lợng
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn:
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt
động trong quá trình kinh doanh, thể hiện ở hệ số sinh lời của vốn
kinh doanh:
Hệ số sinh lời của VKD =
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài
sản lu động bình quân vào sản xuất kinh doanh thì sẽ đem lại
cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn
càng tốt.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn cố định đợc đánh
giá bằng nhiều chỉ tiêu nhng chủ yếu sử dụng những chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu:
Tổng lợi tức các
hoạt động
Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu =
Tổng vốn chủ sở
hữu bình quân
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu đợc đánh giá bằng khả
năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu
quả càng cao và ngợc lại.
1.3.2.2. Chỉ tiêu định tính.
Chỉ tiêu định tính để đánh giá hiệu quả kinh doanh là
những chỉ tiêu không thể lợng hoá đợc bằng con số. Chỉ tiêu này
thờng đợc đánh giá bởi thị trờng, các nhà phân tích, đặc biệt là
khách hàng. ở công ty chứng khoán chỉ tiêu định tính đợc nói
đến là vị thế và uy tín của công ty trên thị trờng. Điều này thể
hiện ở định hớng hoạt động của công ty có phù hợp với tình hình
thị trờng, điều kiện thực tế của chính doanh nghiệp cũng nh yêu
cầu của khách hàng hay không, chất lợng nhân sự trong công ty, vị
trí địa lý của trụ sở công ty có thuận lợi về giao thông, có ở trung
cầu. Những quốc gia có tình hình kinh tế chính trị xã hội ổn
định, vững mạnh sẽ tạo đợc lòng tin đối với nhà đầu t trong và
ngoài nớc. Đó là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển
kinh tế cùng với hoạt động tài chính tiền tệ. Vấn đề thu nhập quốc
dân của một quốc gia và thu nhập bình quân đầu ngời chính là
những yếu tố tác động đến nhu cầu về số lợng hàng hoá, dịch vụ,
về chủng loại, chất lợng, về thị hiếu Trên cơ sở đó, hoạt động
kinh doanh của các công ty nói chung và các công ty chứng khoán
nói riêng sẽ gặp nhiều thuận lợi. Các nhà đầu t sẵn sàng hơn
trong việc tham gia vào thị trờng, các công ty cũng sẵn sàng mở
rộng qui mô sản xuất kinh doanh. Điều này sẽ làm tăng qui mô của
thị trờng nên những công ty biết đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị
trờng sẽ là những công ty làm ăn có hiệu quả. Trong môi trờng này,
sự tăng trởng, các chính sách kinh tế, lạm phát, biến động tài
chính tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh luôn tác
động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Ngợc lại
những quốc gia có tình hình kinh tế chính trị xã hội bấp bênh,
kém ổn định, xung đột xảy ra liên miên gây ra những cơn sốt,
cú sốc, sức ép thị trờng thì các công ty chứng khoán cũng khó có
thể hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả.
Bên cạnh đó, một môi trờng pháp lý lành mạnh vừa tạo điều
kiện cho các công ty tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh
của mình, đồng thời điều chỉnh các hoạt động kinh tế theo hớng
không chỉ chú ý đến hiệu quả kinh doanh của riêng bản thân
công ty mà còn phải quan tâm đến hiệu quả của toàn xã hội. Cùng
với điều này, thì nội dung của các chính sách quản lý kinh tế,
chính sách quản lý về chứng khoán và TTCK có ý nghĩa quyết
định đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Mọi hoạt động
kinh doanh chứng khoán đều phải nằm trong khuôn khổ của các
quy định này. Chính vì thế, một chính sách quản lý đúng đắn,
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật công nghệ ảnh
hởng mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Sản phẩm
của công ty chứng khoán là các dịch vụ cho kinh doanh nên yếu tố
cạnh tranh sẽ thể hiện ở mức độ thực hiện dịch vụ nhanh chóng,
thoả mãn nhu cầu khách hàng. Muốn vậy, công ty phải áp dụng kỹ
thuật công nghệ phù hợp, từ đó nâng cao đợc năng suất, chất lợng
và giảm đợc chi phí trên một đơn vị sản phẩm. Nhờ đó mà tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trờng, tăng vòng quay vốn lu động,
tăng lợi nhuận.
Không phải ngẫu nhiên mà trong cùng một môi trờng kinh
doanh, cùng chịu một chế độ quản lý mà kết quả kinh doanh của
các công ty lại khác nhau. Mà chính bởi có sự khác nhau về các
nhân tố nội tại giữa các công ty. Nhân tố nội tại chính là cơ sở vật
chất, mục tiêu phát triển, uy tín của công ty, mạng lới khách hàng,
khả năng của ban lãnh đạo, trình độ của cán bộ công nhân
viên , tất cả các yếu tố này đều tác động đến hiệu quả kinh
doanh của công ty chứng khoán. Vì vậy, để có thể đẩy mạnh và
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các công ty phải biết tận
dụng những thế mạnh cũng nh hạn chế những điểm yếu của công
ty mình.
1.4.2. Nhân tố chủ quan
Vốn phản ánh quy mô, tiềm lực của doanh nghiệp. Một doanh
nghiệp có nguồn vốn lớn thờng là những doanh nghiệp có qui mô
lớn, phạm vi hoạt động rộng. Và cũng chính vì thế, hiệu quả kinh
doanh phụ thuộc rất nhiều về vốn. Bên cạnh đó, trong công ty con
ngời luôn đóng vai trò trung tâm. Mức độ hiệu quả công việc của
từng ngời sẽ ảnh hởng tới hệ thống bởi vì tổng hợp hiệu quả của các
cá nhân sẽ đợc hiệu quả chung của công ty. Một công ty hoạt động
có hiệu quả khi các cá nhân trong công ty có trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cao, có tính tự giác, kỷ luật cao, đồng thời các
dịch đạt gần 3.000 tỷ VND, tăng trên 177% so với năm 2002 trong
đó giao dịch trái phiếu đạt gần 2.500 tỷ VND, chiếm trên 83%
tổng giá trị giao dịch trên thị trờng. TTGDCK Tp.HCM đã đa vào
áp dụng thành công một số giải pháp kỹ thuật, cho phép các nhà
đầu t đa dạng hóa các loại hình và phơng thức giao dịch của
minh; đồng thời tạo các tiền đề hết sức cơ bản trong việc tiến tới
chuẩn hóa một số các loại hình nghiệp vụ của thị trờng. Công tác
quản lý thị trờng tiếp tục đợc cải thiện đảm bảo khả năng vận
hành và quản lý thị trờng một cách hiệu quả. Bên cạnh đó các tổ
chức trung gian trên thị trờng không ngừng tự hoàn thiện mình,
xây dựng và cung cấp dịch vụ tiện ích cho các nhà đầu t, các tổ
chức, đặc biệt tập trung vào một số nghiệp vụ có thế mạnh. Các
tổ chức niêm yết nói chung đã thực hiện khá tốt các nghiệp vụ và
yêu cầu về công bố thông tin.
Năm 2003 cũng là năm có rất nhiều các sự kiện quan trọng đã diễn
ra tác động không nhỏ đến TTCK VN, có thể kể ra đây hàng loạt
các sự kiện nh: một số cổ phiếu mới đợc niêm yết tạo thêm hàng
hóa cho thị trờng; một số các CTCK mới ra đời và đi vào hoạt
động; lần đầu tiên chúng ta tổ chức một tuần lễ chứng khoán hết
sức quy mô nhằm cổ động mạnh mẽ việc tham gia vào TTCK của
các nhà đầu t; sử dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm kích thích sự
năng động và hiệu quả của thị trờng nh điều chỉnh biên độ, chia
nhỏ lô giao dịch, đa vào sử dụng các loại lệnh mới ATO;Chính
phủ cho phép nới rộng tỷ lệ nắm giữ của các nhà đầu t nớc ngoài
đối với cổ phiếu, không hạn chế đối với trái phiếu và sự tham gia
rất mạnh của nhà đầu t nớc ngoài vào thị trờng trong những tháng
cuối năm 2003Bên cạnh đó sự kiện hết sức quan trọng đó là việc
Chính phủ thông qua chiến lợc phát triển TTCK VN đến năm 2010
và ban hành nghị định 144 về chứng khoán và TTCK thay thế
nghị định 48 của Chính phủ và trở thành văn bản có tính pháp lý