Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH PHẠM THỊ HỒNG QUYÊN GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ TRỌNG HÙNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu Luận văn này là
hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc
chỉ rõ nguồn gốc./.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Quyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
4. Những đóng góp mới của đề tài 3
5. Bố cục của luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ BẢO
VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 5
1.1. Cở sở lý luận 5
1.1.1. Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em 5
1.1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 6
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta 6
1.1.4. Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 7
1.2. Một số vấn đề về cơ sở thực tiễn thực hiện các chính sách, luật
pháp có liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 33
1.2.1. Bối cảnh thế giới ảnh hƣởng đến thực hiện các chính sách, pháp
luật liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. 33
1.2.2. Bối cảnh nƣớc ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu,
rộng vào nền kinh tế thế giới, cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện
khung khổ luật pháp về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 33
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
v
3.1.1. Đặc điểm chung của tỉnh Bắc Ninh 45
3.1.2. Đặc điểm Kinh tế - Xã hội tỉnh Bắc Ninh 46
3.2. Thực trạng việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt tỉnh Bắc Ninh 49
3.2.1. Chính sách trợ giúp xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
giai đoạn từ 2008 - 2012 50
3.2.2. Chính sách đối với ngƣời chƣa thành niên ở trƣờng giáo dƣỡng 53
3.2.3. Chính sách chăm sóc sức khoẻ 56
3.2.4. Chính sách về giáo dục 61
3.2.5. Chính sách về vui chơi, giải trí 65
3.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách Bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua 67
3.3.1. Đánh giá chung 67
3.3.2. Những kết quả chủ yếu 69
3.3.3. Những tồn tại, hạn chế 72
Chƣơng 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỈNH
BẮC NINH 75
4.1. Phƣơng hƣớng, mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội và thực hiện
chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tỉnh Bắc Ninh trong
thời gian tới 75
4.1.1. Phƣơng hƣớng và mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh
Bắc Ninh đến năm 2015 75
4.1.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt 77
4.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách bảo vệ trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt tỉnh Bắc Ninh 82
Trung học phổ thông
LĐTBXH
Lao động - Thƣơng binh - Xã hội
PNTE
Phụ nữ trẻ em
CRC
Công ƣớc liên hợp quốc về Quyền trẻ em
BLLĐ
Bộ luật lao động
BLHS
Bộ Luật hình sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Số liệu trẻ em vi phạm pháp luật từ 2008 - 2012 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Trẻ em thuộc đối tƣợng bảo trợ xã hội 2008-2012 51
Nhờ có sự tăng trƣởng kinh tế mà việc triển khai thực hiện các mục tiêu
vì trẻ em của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bắc Ninh nói riêng đã đạt đƣợc
những kết qủa đáng khích lệ. Về cơ bản, các mục tiêu y tế, giáo dục đều đạt
so với kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, các mục tiêu về vui chơi giải trí, bảo vệ trẻ
em (nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt) đều không đạt so với kế hoạch. Tình
trạng sao nhãng, ngƣợc đãi, xâm hại tình dục, bạo lực, buôn bán, mại dâm trẻ
em, sử dụng trẻ em tham gia lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; tình
trạng trẻ em lang thang, trẻ em nghiện ma tuý, trẻ em bị ảnh hƣởng bởi
HIV/AIDS, trẻ em vi phạm pháp luật xẩy ra ở nhiều nơi với diễn biến và tính
chất ngày càng phức tạp. Bên cạnh đó, môi trƣờng sống tiềm ẩn nhiều nguy
cơ gây rủi ro, không đảm bảo an toàn và thân thiện với trẻ em chƣa đƣợc quan
tâm loại bỏ, dẫn đến nhiều trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình, là tƣơng lai của đất nƣớc, nên
cần đƣợc quan tâm bảo vệ đặc biệt của gia đình và xã hội. Trong đó, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có nhiều thiệt thòi hơn so với trẻ em cùng lứa tuổi
khác về mặt thể chất hoặc tinh thần. Chính vì vậy, cần có những chính sách, cơ
chế đồng bộ, hoàn chỉnh và cụ thể để bảo vệ và quan tâm đặc biệt hơn.
Đã có những công trình nghiên cứu khoa học về trẻ em, đề cập đến trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tuy nhiên chƣa triệt để. Nhận thức sâu sắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tƣợng cần đƣợc sự quan tâm, chăm sóc
đặc biệt hơn và thực trạng về chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
vẫn còn nhiều bất cập, từ thực tiễn đó tôi đã lựa chọn đề tài “Giải pháp hoàn
thiện chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tỉnh Bắc Ninh” làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm đề xuất các giải pháp góp phần giải
quyết vấn đề thực tiễn.
2. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
nguyên nhân và giải pháp để khắc phục.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu việc ban hành và thực hiện chính sách,
pháp luật dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dƣới góc độ quản lý Nhà
nƣớc về triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật dành cho trẻ em nói
chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng.
+ Thời gian: Thu thập các kết quả đã thực hiện để đánh giá, phân
tích thực trạng từ năm 2008 - 2012.
+ Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Bắc Ninh.
3. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Hệ thống hóa có phân tích những lý luận cơ bản về quản lý Nhà nƣớc
trong việc ban hành và thực hiện các chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt tỉnh Bắc Ninh (những kết quả đã đạt đƣợc và tồn tại, hạn chế trong
việc thực hiện các chính sách ở cơ sở). Đề tài sẽ cung cấp cơ sở khoa học,
thực tiễn cho việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật, chính sách,
những giải pháp triển khai thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực của việc ban
hành thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, góp
phần thúc đẩy sự phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
4. Những đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt trong giai đoạn hiện nay;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
- Phân tích, đánh giá đƣợc thực trạng của việc ban hành và thực hiện
chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra những
kết quả đạt đƣợc, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân.
- Đề xuất kiến nghị thực hiện chính sách, nhằm quản lý và thực hiện tốt
hơn công tác bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
sóc sức khoẻ. Trẻ em phải đƣợc khai sinh ngay sau khi ra đời.
+ Quyền đƣợc phát triển: gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát
triển đầy đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức, bao gồm việc học tập, vui chơi,
tham gia các hoạt động văn hoá, tiếp nhận thông tin, tự do tƣ tƣởng, tự do tín
ngƣỡng và tôn giáo. Trẻ em cần có sự yêu thƣơng và cảm thông của cha mẹ
để có thể phát triển hài hoà.
+ Quyền đƣợc bảo vệ: bao gồm những quy định nhƣ trẻ em phải đƣợc
bảo vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình
dục, lạm dụng ma tuý, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán. Trẻ em
còn đƣợc bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thƣ tín và sự riêng tƣ.
Quyền đƣợc bảo vệ bao gồm cả không bị tra tấn, đánh đập và lạm dụng trong
trƣờng hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
+ Quyền đƣợc tham gia: tạo mọi điều kiện cho trẻ em đƣợc tự do bày tỏ
quan điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình.
Trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lƣu và hội họp hoà bình, đƣợc tạo điều
kiện tiếp cận các nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh
- "Vì lợi ích mƣời năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải
trồng ngƣời".
- Chiến lƣợc trồng ngƣời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trƣớc hết từ những
ngƣời nhỏ nhất, bắt đầu từ trẻ em, đó là chiến lƣợc bền vững vì trẻ em là hạnh
phúc của mỗi gia đình đồng thời quyết định tƣơng lai của đất nƣớc của dân
tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Non sông Việt Nam có trở lên
tƣơi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bƣớc tới đài vinh quang để sánh vai
với các cƣờng quốc năm châu đƣợc hay không đó là nhờ một phần lớn ở công
học tập ở các em "
Trẻ em:
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 của
Việt Nam “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16
tuổi”. Điều 1 trong Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định:
“Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng
với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện một số chính sách trợ giúp trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, nƣớc ta vẫn vận dụng cho những ngƣời trong độ tuổi vị
thành niên từ 16 - 18 tuổi nhƣ chính sách trợ cấp xã hội, chính sách trợ giúp
về giáo dục, y tế khi các đối tƣợng này vẫn trong hoàn cảnh khó khăn và hiện
tại vẫn đang theo học các trƣờng phổ thông hoặc các trƣờng dạy nghề, trung
học chuyên nghiệp.
Đối với trẻ em là ngƣời nƣớc ngoài sinh sống tại Việt Nam thì nƣớc ta
vẫn tôn trọng thực hiện theo quy định của Công ƣớc của Liên Hợp Quốc,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
nhƣng số lƣợng trẻ em này không nhiều và không thuộc nhóm trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình
thƣờng về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ
bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng.
Theo quy định tại Điều 40 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em hiện hành thì có 10 nhóm trẻ em đƣợc xếp vào nhóm trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt, bao gồm: trẻ em mồ côi không nơi nƣơng tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ
em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm
HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc
hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại
nhân dân địa phƣơng giúp đỡ để có gia đình thay thế hoặc tổ chức chăm sóc,
nuôi dƣỡng tại các cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập.
2. Nhà nƣớc khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ
quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ em mồ
côi không nơi nƣơng tựa, trẻ em bị bỏ rơi.
3. Nhà nƣớc có chính sách trợ giúp gia đình, cá nhân hoặc cơ sở trợ
giúp trẻ em ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ em mồ côi không
nơi nƣơng tựa, trẻ em bị bỏ rơi.
Quy định trên đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nƣớc Việt Nam đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt nêu trên. Luật đã quy định cụ thể cơ quan có trách
nhiệm trong việc giúp đỡ trẻ em tìm nơi nƣơng tựa. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc còn
có các chính sách trợ giúp các cơ sở chăm sóc trẻ em nhằm mục đích bảo đảm cho
nhóm trẻ em này đƣợc chăm sóc, giáo dục với những điều kiện tốt nhất.
(2)-Trẻ em khuyết tật, tàn tật:
Trẻ khuyết tật, tàn tật là đối tƣợng thiệt thòi nhất trong số những trẻ em
thiệt thòi, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu
hiện dƣới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến
cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Trẻ khuyết tật thƣờng đƣợc phân thành các nhóm sau: trẻ khiếm thính, trẻ
khiếm thị, trẻ khó khăn về học, trẻ khó khăn về vận động, trẻ khó khăn về
ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác.
Trẻ em tàn tật đƣợc gia đình, Nhà nƣớc và xã hội giúp đỡ, chăm sóc,
đƣợc tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng;
đƣợc nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành cho trẻ em khuyết tật, tàn
tật; đƣợc giúp đỡ học văn hoá, học nghề và tham gia hoạt động xã hội.
Đối tƣợng trẻ em tàn tật nhƣng có năng khiếu sẽ đƣợc nhận vào các
bảo vệ và đối xử bình đẳng nhƣ tất cả mọi trẻ em khác.
Điều 53 luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã nêu lên “đối với trẻ em
nhiễm HIV/AIDS không bị phân biệt đối xử được nhà nước và xã hội tạo điều kiện
để giúp các em chữa bệnh, nuôi dưỡng tại gia đình hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em”.
Theo luật Giáo dục và Luật phòng chống HIV/AIDS thì mọi trẻ em VN nếu đến
tuổi đi học là phải đƣợc đến trƣờng, kể cả những em bị nhiễm HIV.
(5)-Trẻ em lao động trong điệu kiện nặng nhọc, nguy hiểm:
Là trẻ lao động quá nặng nhọc hoặc phức tạp so với khả năng thể chất
và tinh thần của trẻ:
1.Phải làm việc quá sớm, ở độ tuổi quá nhỏ, thấp hơn độ tuổi lao động
tối thiểu trong pháp luật dƣới 15 tuổi:
Điều 119 BLLĐ đã quy định “người lao động chưa thành niên là người
lao động dưới 18 tuổi”. Và khái niệm trẻ em trong BLLĐ đƣợc quy định là “
người chưa đủ 15 tuổi” (Điều 120). Những khái niệm quy định về độ tuổi này
cũng không khác với những quy định về độ tuổi ngƣời chƣa thành niên và trẻ
em của tổ chức lao động thế giới (ILO)và tổ chức giáo dục- khoa học- văn
hoá của Liên Hiệp Quốc UNESCO. Bên cạnh đó do quán triệt mục đích, chủ
trƣơng của Nhà Nƣớc nên đã đƣa ra quy định trách nhiệm của ngƣời sử dụng
lao động chƣa thành niên và trẻ em gồm:
+ Nghiêm cấm lam dụng sức lao động của ngƣời chƣa thành niên-
khoản 2 Điều 119.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
+ Cấm nhận trẻ em chƣa đủ 15 tuổi vào làm việc trừ một số nghề và
công việc do BLĐ-TB&XH(Bộ lao động thƣơng binh & xã hội)quy định-
Điều 120.
+ Cấm sử dụng lao động chƣa thành niên làm những công việc nặng
nhọc nguy hiểm, hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công
rằng buộc trách nhiệm đối với các đối tƣợng sử dụng lao động và pháp luật
cũng đã quy định rất rõ những chế tài xử phạt vi phạm phát luật lao động.
Điều 192 BLLĐ quy định “người nào có hành vi vi phạm các quy định của
BLLĐ thì tuỳ mức độ vi phạm mà bị xử phạt bằng các hình thức cảnh cáo,
phạt tiền, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép, buộc phải bồi thường, buộc đóng
cữa doanh nghiệp hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật”.
3.Thời giờ làm việc dài nên thiếu hoặc không có thời gian học tập, nghỉ
ngơi, vui chơi giải trí; Không đƣợc động viên và trả công thích đáng.
Điều 122 BLLĐ quy định “người sử dụng lao động chỉ được sử dụng
người lao động chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc ban đêm trong một số
ngành nghề và công việc do BLĐ-TB & XH quy định”. Đặc biệt yêu cầu
ngƣời sử dụng lao động khi thuê ngƣời lao động chƣa thành niên phải tôn
trọng quy định “thời giờ làn viiệc của người lao động chua thành niên không
quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần”- khoản 1 Điều 122.
Ngoài ra nhằm bảo vệ quyền lợi trẻ em , khoản 2 Điều 120 BLLĐ quy
định “Đối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào
làm việc(do Bộ LĐ- TB&XH quy định), học nghề, tập nghề thì việc nhận và
sử dụng những trẻ em này phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc
người đỡ đẩu”
(6)-Trẻ em lang thang:
Trẻ lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống
và nơi cƣ trú không ổn định, trẻ em cùng với gia đình đi lang thang (k2 Đ3
luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
Đặc điểm trẻ lang thang:
- Không sống cùng gia đình