i
ĐẠI HỌC THÁI NGUN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ CƠNG KHIÊM
VẬN DỤNG DẠY HỌC KHÁM PHÁ TRONG DẠY HỌC
CÁC QUY LUẬT DI TRUYỀN SINH HỌC 9
Chun ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Hồng
THÁI NGUN, NĂM 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Lê Cơng Khiêm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/iv
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng, v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài 8
1.1.1. Trên thế giới 8
1.1.2. Trong nước 9
1.2. Cơ sở lí luận 11
1.2.1. Các quan niệm về dạy học khám phá 11
1.2.2. Một số khái niệm về dạy học khám phá 13
1.3. Cơ sở thực tiễn 24
2.5. Quy trình tổ chức hoạt động khám phá trong dạy học 37
2.6. Kết quả thiết kế - các ví dụ minh họa 37
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43
3.1. Mục đích thực nghiệm 43
3.2. Nội dung thực nghiệm 43
3.3. Phương pháp thực nghiệm 43
3.3.1. Chọn trường, lớp thực nghiệm và giáo viên dạy thực nghiệm . 43
3.3.2. Bố trí thực nghiệm 44
3.3.3. Tiến hành thực nghiệm 45
3.3.4. Phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm 45
3.4. Kết quả thực nghiệm 46
3.4.1. Kết quả phân tích 3 bài kiểm tra trong thực nghiệm 46
3.4.2. Đánh giá kết quả phân tích bài kiểm tra sau thực nghiệm 51
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC
Bảng 3.8. Bảng phân phối tần suất điểm kiểm tra 51
Bảng3.9 Bảng tần suất hội tụ lùi 52
Bảng 3.10. Kiểm định
X
điểm trắc nghiệm 53
Bảng 3.11. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 54
Bảng 3.12. Phân tích kết quả thăm dò ý kiến GV 56
Bảng 3.13. Phân tích kết quả thăm dò ý kiến HS 57Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/vi
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 47
Hình 3.2: Đồ thị tần suất hội tụ lùi điểm các bài kiểm tra 48
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra 51
Hình 3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra STN 52
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/2
phù hợp với u cầu học tập của nhân dân, u cầu phát triển kinh tế - xã hội
và các mục tiêu của chiến lược"[2]. Nhận thức rõ vai trò và nhiệm vụ của
mình, ngành giáo dục và đào tạo đã và đang thực hiện các chương trình cải
cách cho phù hợp với tình hình phát triển mới, với mục tiêu chung là đổi mới
phương pháp dạy học nhằm phát huy tư duy độc lập sáng tạo cho học sinh. Từ
năm 2001 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện đổi mới chương
trình - SGK cho các bậc học từ tiểu học đến trung học phổ thơng, tức là nội
dung dạy học đã được đổi mới nhằm đáp ứng u cầu mới của thời đại. Tuy
nhiên với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật hiện nay nhà
trường khơng thể cung cấp cho học sinh đầy đủ, nhanh chóng tất cả những tri
thức của nhân loại, mà chỉ trang bị được những tri thức cơ bản, phổ thơng làm
cơ sở để học sau này. Vì vậy, cốt lõi của việc đổi mới giáo dục là đổi mới
phương pháp dạy học, là dạy cho học sinh cách học, chứ khơng phải truyền
thụ một chiều những kiến thức trong SGK. Học sinh cũng khơng chỉ ghi chép
tiếp nhận một cách thụ động từ lời giảng của thầy mà phải tích cực, chủ động,
sáng tạo trong hoạt động học của chính mình, mà cốt lõi trong hoạt động học
là tự học, tự khám phá tri thức cần chiếm lĩnh. Luật giáo dục nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thơng qua ngay từ tháng 12 năm
1998, mục 2 điều 24 đã nêu rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thơng phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm tình hình của từng lớp học, mơn học, bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"[15].
Vấn đề nghiên cứu các phương pháp dạy học để tăng cường các hoạt
động chủ động, tích cực, tự lực, khám phá, sáng tạo của học sinh đã sớm
được quan tâm ở nước ta, đặc biệt là trong những năm gần đây. Nhưng thực
được đúc kết từ thực tiễn và được vận dụng trở lại phục vụ thực tiễn, nhưng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/4
cũng chính khi vận dụng trở lại thực tiễn, các quy luật sinh học lại được bổ
sung và phát triển.
1.3. Xuất phát từ thực trạng dạy và học mơn Sinh học 9 hiện nay ở cấp
học trung học cơ sở
Trong dạy chương trình sinh học ở trung học cơ sở, kiến thức về "Nội
dung các quy luật di truyền" là một trong những phần kiến thức khó và trừu
tượng. Việc học khơng chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức lý luận mà nó còn có
ý nghĩa rất lớn trong cải tạo thực tiễn. Tuy nhiên, hiện nay do ảnh hưởng của
phương pháp dạy học truyền thống giáo viên thuyết trình một chiều, học sinh
ghi nhớ, học thuộc thụ động các kiến thức được cung cấp từ giáo viên nên
phần lớn học sinh mới chỉ dừng ở mức học thuộc các quy luật di truyền mà
chưa hiểu được bản chất quy luật và vận dụng được quy luật để giải quyết
những vấn đề có liên quan. Do vậy, độ bền kiến thức phần "Nội dung các quy
luật di truyền" SGK sinh học 9 của học sinh là còn rất hạn chế. Vì vậy, một
u cầu quan trọng và cần thiết đối với mỗi giáo viên giảng dạy mơn sinh học
ở cấp học THCS là phải hình thành phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn,
giúp học sinh có hứng thú học tập, phát huy cao hơn tiềm lực sẵn có để hiểu
và áp dụng các quy luật vào học tập và thực tiễn đời sống.
Từ những lý do trên chúng tơi chọn đề tài: "Vận dụng dạy học khám phá
trong dạy học "Các quy luật di truyền" SGK sinh học 9 - trung học cơ sở".
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động học tập giúp học sinh khám
phá kiến thức trong dạy học "Các quy luật di truyền" (SH 9 – THCS).
3. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tổ chức học sinh khám phá
6
- Nghiên cứu các tài liệu về chun mơn để làm cơ sở lý thuyết cho đề tài.
6.2. Điều tra sư phạm
- Điều tra, tìm hiểu về tình hình dạy và học theo hướng khám phá của
học sinh ở một số trường THCS huyện Đơng Hưng tỉnh Thái Bình.
- Dự giờ lên lớp và nghiên cứu giáo án của một số giáo viên phổ thơng,
tìm hiểu phương pháp dạy học tính tích cực trong dạy và học nói chung, để tổ
chức hoạt động học tập khám phá nói riêng.
6.3. Thực nghiệm sư phạm
6.3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
Xác định tính khả thi và hiệu quả các biện pháp đề xuất về tổ chức học
sinh hoạt động khám phá trong nội dung "Các quy luật di truyền " (SH 9 –
THCS).
6.3.2. Phương pháp thực nghiệm:
6.4. Xử lý số liệu
6.4.1. Phân tích định lượng
6.4.2. Phân tích định tính
7. Những đóng góp mới của đề tài
7.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức học tập khám phá
trong dạy học nội dung "Các quy luật di truyền " (SH 9 – THCS).
7.2. Kết quả điều tra thực trạng dạy học nội dung "Các quy luật di
truyền " (SH 9 – THCS) là tư liệu góp phần giúp cơ sở quản lý giáo dục có số
liệu chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/7
7.3. Phân tích nội dung kiến thức, từ đó đề xuất biện pháp tổ chức học
sinh học tập khám phá nội dung "Các quy luật di truyền " (SH 9 – THCS)
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1. Trên thế giới
Theo Scorat, phương pháp vấn đáp đi từ những gì trẻ biết để giúp trẻ
vận dụng trực giác, tinh thần của mình để khám phá ra sự thật q hiển nhiên.
Như vậy, theo ơng dựa vào sự quan sát thế giới bên ngồi giúp trẻ khám phá
ra bản chất của những sự vật, hiện tượng được quan sát thế giới bên ngồi mà
đi vào những ý niệm bên trong.
Jerome Bruner (1915) là người có ảnh hưởng rất lớn trong việc nghiên
cứu học tập khám phá. Theo ơng, học tập khám phá là lối tiếp cận dạy học mà
qua đó học sinh được tương tác với mơi trường học tập của họ bằng cách
khảo sát và sử dụng các đối tượng, giải đáp thắc mắc và tranh luận hoặc biểu
diễn thí nghiệm và tất nhiên khi tự mình khám phá ra tri thức, các khái niệm
học sinh sẽ hiểu rõ vấn đề và từ đó học sinh cũng nhớ được lâu và nhiều hơn.
Vào những năm 20 của thế kỉ trước, ở Anh đã hình thành những "nhà
trường mới" trong đó đề ra là phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh. Khuyến
khích các biện pháp tổ chức hoạt động do chính học sinh tự lực khám phá
kiến thức, chính học sinh tự quản trong học tập. Xu hướng này nhanh chóng
ảnh hưởng sang Mỹ và các nước Châu Âu.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở Pháp cũng ra đời những "Lớp học
mới" tại một số trường trung học thí điểm, mọi hoạt động đều tùy thuộc vào
sáng kiến hứng thú, lợi ích, nhu cầu của học sinh, GV là người giúp đỡ, phối
hợp các hoạt động của học sinh, hướng học sinh vào sự phát triển nhân cách.
Cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, John Dewey đã đề ra những
ngun tắc giáo dục cho việc xây dựng "Nhà trường cho ngày mai". Trong đó
có ngun tắc: Giáo dục khơng phải là thu nhận, học bằng cách làm. Theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/9
ơng, cách làm ở đây phải là sáng kiến, khám phá, phát hiện. Giáo dục tất
về lý thuyết và thực hành, trong đó nổi bật là các cơng trình nghiên cứu: "Cải
tiến phương pháp dạy và học nhằm phát huy trí thơng minh của học sinh" của
tác giả Nguyễn Sỹ Tỳ (1971); "Kiểm tra kiến thức bằng phiếu kiểm tra" của
tác giả Lê Nhân (1974)
Tháng 01/1979 trong Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục,
vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực khám phá kiến thức của học sinh được
quan tâm và chú trọng, tạo một bước ngoặt mới cho sự phát triển giáo dụC.
Nghị quyết chỉ rõ: "Cần coi trọng sự bồi dưỡng hứng thú, thói quen và
phương pháp tự học của học sinh. Hướng họ biết cách nghiên cứu SGK, sách
báo khoa học . Điểm mấu chốt để phát huy tính tích cực của học sinh và nâng
cao chất lượng dạy học đó là giáo viên phải có phương pháp tổ chức các hoạt
động học tập cho học sinh để họ có thể tự lực khám phá kiến thức dưới sự
hướng dẫn của giáo viên. Đáp ứng những u cầu đó, đã có nhiều cơng trình
nghiên cứu, nhiều tài liệu về phương pháp học tập tích cực nói chung và các
biện pháp tổ chức học sinh hoạt động khám phá nói riêng đã được cơng bố.
Chẳng hạn như: "Bổ sung các hoạt động khám phá trong dạy học sinh học lớp
10 THPT Ban KHTN (Bộ II)" (Võ Thị Hải, 2005); "Dạy học hình học các lớp
cuối cấp THCS theo hướng bước đầu tiếp cận phương pháp khám phá" (Lê
Võ Bình, 2006); "Vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong phần địa lý
lớp 4 ở cấp tiểu học" (Lê Thị Hoa, 2007); "Vận dụng phương pháp dạy học
khám phá có hướng dẫn trong dạy học mơn Tốn lớp 4" (Phạm Thị Hiếu,
2008);v.v.
Các cơng trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về phát huy
tính tích cực nhận thức, học tập của học sinh, song chưa có cơng trình nào
nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lý luận của phương pháp dạy học khám phá
và quy trình về phương pháp dạy học khám phá nói chung và dạy học khám
phá trong dạy học "Các quy luật di truyền" SGK SH 9 – THCS nói riêng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/
12
điều gì đó đáp ứng cho chính nhu cầu của họ. Muốn vậy, người học phải kết
hợp các kĩ năng như quan sát, so sánh, rút ra kết luận, làm rõ nghĩa số liệu để
tạo ra một sự hiểu biết mới mà học sinh chưa từng biết trước đó. Trong q
trình đó người dạy chuyển tải các thơng tin cần học theo một phương pháp
phù hợp với khả năng hiểu biết hiện tại của học sinh.
Socrat cho rằng phương pháp vấn đáp đi từ những gì trẻ biết để giúp trẻ
vận dụng trực giác, khả năng và tinh thần của mình để khám phá ra sự thật
q hiển nhiên. Ở đây chúng ta nhận thấy manh nha của khoa học sư phạm
hoạt động, một khoa học dựa vào sự quan sát thế giới bên ngồi để giúp trẻ
khám phá ra cái bản chất của những hiện tượng, sự vật được quan sát. Nói
cách như Socrat quan niệm là dựa vào sự quan sát thế giới bên ngồi đó để
giúp trẻ đi vào thế giới những ý niệm.
R.C Sharma lại cho rằng trong phương pháp dạy học lấy học sinh
làm trung tâm, tồn bộ q trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả
năng lợi ích của học sinh. Mục đích là phát triển ở học sinh kỹ năng và
năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề Vai trò của giáo viên là
tạo ra tình huống để phát triển vấn đề, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập
giả thuyết, làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận. Đây
là một hướng trong DHKP cần tiến hành.
Theo nhà tâm lý học J.Piaget, nhận thức của con người là kết quả của
q trình thích ứng với mơi trường qua hai hoạt động đồng hóa và điều tiết.
Tri thức khơng hồn tồn được truyền thụ từ người biết đến người chưa biết
mà nó được chính cá thể xây dựng từ những vấn đế mà người học cảm thấy
cần thiết và có khả năng giải quyết vấn đề đó thơng qua tình huống cụ thể họ
sẽ kiến tạo nên tri thức cho riêng mình.
Như vậy chúng ta khẳng định rằng DHKP đã được nhắc đến từ rất lâu
với những quan niệm khác nhau nhưng nói chung cùng đề cập tới một đối
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/
14
ý tưởng của bản thân. Nói cách khác nó tìm hiểu về các đồ vật bằng cách tự
khám phá.
1.2.2.2. Khái niệm dạy học khám phá
Thuật ngữ DHKP (Inquiry teaching) được xuất hiện và sử dụng với tư
cách là một phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên về nội hàm khái niệm
của nó cũng như việc áp dụng phương pháp dạy học này trong thực tế vẫn còn
nhiều ý kiến tranh luận khác nhau.
Theo Ferriere Jerome Bruner cho rằng: DHKP là lối tiếp cận dạy học
mà qua đó, học sinh tương tác với mơi trường của họ bằng cách khảo sát, sử
dụng các đối tượng giải đáp những thắc mắc bằng tranh luận hay biểu diễn thí
nghiệm. Theo ơng, học là một q trình mang tính chủ quan. Trong q trình
đó, người học tự xây dựng, hình thành nên các ý tưởng hoặc khái niệm mới
dựa trên cơ sở vốn kiến thức sẵn có của mình. Người học lựa chọn và chuyển
hóa thơng tin, hình thành các giả thuyết và đưa ra các quyết định dựa vào cơ
sở cấu trúc của q trình nhận thức. Ferriere Jerome Bruner khẳng định rằng
bắt dầu ngay từ khi mới đến trường, người học cần phải biết cấu trúc cơ bản
của kiến thức hơn là các số liệu, dữ kiện về các thơng tin bình thường tẻ nhạt,
những cái đòi hỏi phải ghi nhớ q nhiều, học sinh cần phải được khuyến
khích và dạy cách tự khám phá thơng tin. Việc học tập khám phá xảy ra khi
các cá nhân phải sử dụng q trình tư duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều gì
đó trong bản thân họ. Để có được điều này người học phải kết hợp quan sát và
rút ra kết luận, thực hiện so sánh làm rõ ý nghĩa số liệu để tạo ra một sự hiểu
biết mới mà học sinh chưa từng biết trước đó. Giáo viên cần cố gắng và
khuyến khích học sinh tự tìm ra ngun lí, cả giáo viên và học sinh cần phải
thực sự hòa nhập trong q trình dạy học. Nhiệm vụ của người dạy là chuyển
tài các thơng tin cần học theo một phương pháp phù hợp với khả năng hiểu
biết hiện tại của học sinh. Chương trình SGk cần được xây dựng theo hình
giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo bằng cách tìm tòi,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/16
phát hiện những thuộc tính bản chất, có quy luật còn đang ẩn dấu trong các sự
kiện, hiện tượng, trong các khái niệm, định luật, tư tưởng khoa học.
Ngồi ra, theo từ điển Long Man Dictinary of langue teaching and appied
linguicts: DHKP là phương pháp dạy và học dựa trên những quy luật sau:
1) Người học phát triển tư duy liên quan đến việc khám phá và tìm hiểu
thơng qua q trình quan sát, phân loại, đánh giá, tiên đốn, mơ tả và suy luận.
2) Giáo viên sử dụng một phương pháp giảng dạy đặc trưng hỗ trợ q
trình khám phá và tìm hiểu.
3) Giáo trình giảng dạy khơng phải là nguồn duy nhất cho người học.
4) Kết luận được đưa ra với mục đích thảo luận chứ khơng phải là cuối cùng.
5) Người học phải lập kế hoạch, tiến hành và đánh giá q trình học
của mình với sự hỗ trợ của giáo viên.
DHKP là một PPDH có định hướng nhưng khơng phải là phương pháp
duy nhất mà các nhà sư phạm sử dụng. Khám phá là sự tìm tòi tích cực, bao
gồm nhiều q trình mà qua đó biến kinh nghiệm trở thành kiến thức.
Như vậy, DHKP là một q trình, trong đó dưới vai trò định hướng của
người dạy, người học chủ động việc học tập của bản thân, hình thành các câu
hỏi đặt ra trong tư duy, mở rộng cơng việc nghiên cứu, tìm kiếm, từ đó xây
dựng nên những hiểu biết và tri thức mới. Những kiến thức này giúp cho
người học trả lời các câu hỏi, tìm ra các giải pháp khác nhau để giải quyết các
vấn đề, chứng minh một định lý hay một quan điểm.
1.2.2.3. Bản chất của biện pháp tổ chức học sinh hoạt động học tập
khám phá
Đặc điểm đặc trưng của biện pháp DHKP đó là: Bằng những hướng
dẫn của giáo viên tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập
dưới sự điều khiển lãnh đạo của nhà giáo dục họ suy nghĩ kết hợp với lắng
nghe, trao đổi suy nghĩ với bạn bè và người khác mà tự phát hiện từ những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/18
nguồn thơng tin phong phú, đa dạng khác nhau, những dấu hiệu bản chất
đang ẩn dấu trong đó.
Tóm lại, DHKP là phương pháp GV sử dụng để hướng dẫn HS thực
hiện các thao tác, qua thực hiện các thao tác mà tự thu nhận phát hiện kiến
thức mới.
1.2.2.4. Đặc trưng của biện pháp tổ chức học sinh hoạt động học
tập khám phá
Khi nói đến đặc trưng của biện pháp dạy học khám phá phải kể đến các
nhiệm vụ khám phá trong giờ học:
+ Nhiệm vụ khám phá là một tình huống trong học tập được giao cho
học sinh mà độ khó của nó sao cho họ có thể giải quyết được trong một thời
gian ngắn để bài học có thể tiếp tục cùng với kết quả của lời giải mà học sinh
đã đạt được.
+ Nội dung của nhiệm vụ khám phá phải phù hợp với nội dung bài học nên:
+ Nhiệm vụ khám phá xuất hiện trên con đường tiến triển của bài học
+ Nhiệm vụ khám phá có thể là một u cầu suy luận từ kết quả của
một thí nghiệm vừa mới thực hiện.
+ Hình thức của nhiệm vụ khám phá có thể là dưới hình thức một
câu hỏi thuần túy bằng lời sau khi giảng hoặc sau khi xem một đoạn phim,
một mệnh lệnh, một u cầu tìm kiếm ví dụ thực tế, một câu đố hoặc giải
đáp một bức tranh về sẵn trên giấy phát cho học sinh, chiếu lên màn hình
Tuy nhiên, các nhiệm vụ khám phá khơng phải là một vấn đề q khó
mà học sinh khơng thể giải quyết ngay trong giây phút, mà cũng khơng
q dễ đến mức học sinh khơng cần suy nghĩ hay khơng cần trao đổi với