Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề mà các doanh nghiệp luôn
băn khoăn lo lắng là “Hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không? Doanh
thu có trang trải được toàn bộ chi phí bỏ ra hay không? Làm thế nào để tối đa
hoá lợi nhuận?”. Thật vậy, trong vòng xoáy cạnh tranh ngày càng khốc liệt của
thị trường, thì tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quyết định đến sự sống còn của
doanh nghiệp. Lý thuyết và thực tế đã chứng minh rằng tiêu thụ là 1 mắt xích
không thể tách rời vòng tuần hoàn sản xuất - tiêu thụ của sản phẩm. Xét về mặt
tổng thể các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không những chịu tác động của
qui luật giá trị mà còn chịu tác động của qui luật cung cầu và qui luật cạnh
tranh, khi sản phẩm của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận có nghĩa là giá
trị của sản phẩm được thực hiện, lúc này doanh nghiệp sẽ thu về được một
khoản tiền, khoản tiền này được gọi là doanh thu. Nếu doanh thu đạt được có
thể bù đắp toàn bộ chi phí bỏ ra, thì phần còn lại sau khi bù đắp được gọi là lợi
nhuận. Bất cứ doanh nghiệp nào khi kinh doanh cũng mong muốn lợi nhuận đạt
được là tối đa.
Nền kinh tế đất nước đang dần chuyển mình theo đà phát triển của kinh
tế thế giới, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà nước ta là thành viên thứ
150 của tổ chức kinh tế lớn nhất toàn cầu - WTO. Ra nhập WTO - cơ hội nhiều,
mà thách thức cũng không thể nói là ít. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã
có sự tăng trưởng kinh tế đáng khích lệ. Đó là kết quả của công cuộc đổi mới
nền kinh tế, trong đó có sự đóng góp đáng kể của ngành kinh doanh thương mại
du lịch. Tuy nhiên, để tồn tại và phát triển, nhiều doanh nghiệp dịch vụ thực sự
lung túng trong việc bán hàng và xác định kết quả bởi đặc thù của loại hình
doanh nghiệp này khâu sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời. Nhận thức được
tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
trong các doanh nghiệp thương mại dịch vụ nói chung và Công ty Cổ phần
thương mại khách sạn Tỉnh Sơn La nói riêng, với sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo trong khoa kế toán, trực tiếp là cô giáo Đỗ Thị Lan Hương, em xin
phép được đi sâu nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán cung
DỊCH VỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ CUNG CẤP DICH VỤ
TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI – DỊCH VỤ
1.1. Những vấn đề chung về cung cấp dịch vụ và xác định kết quả
hoạt động cung cấp dịch vụ:
1.1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch:
Dịch vụ du lịch là một trong những ngành kinh doanh chuyên cung cấp
những lao vụ, dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt và đời sống văn hóa, tinh thần
của du khách.
Khác với các lĩnh vực kinh doanh khác, ngành kinh doanh du lịch dịch vụ
có những đặc trưng cơ bản sau:
- Du lịch là ngành kinh doanh đặc biệt, vừa mạng tính chất sản xuất
kinh doanh, vừa mang tính chất phục vụ văn hóa, xã hội. Du lịch và dich vụ là
ngành kinh tế có hiệu quả cao, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư lớn, thời gian
thu hồi vốn nhanh, song lại đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu phải nhiều.
- Hoạt động kinh doanh du lịch mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện di sản lịch sử,
tình hình biến động của thế giới hay sự hấp dẫn của danh lam thắng cảnh…
- Đối tượng phục vụ của ngành dịch vụ du lịch luôn di động và rất phức
tạp. Số lượng khách du lịch và thời gian lưu trú của khách luôn thay đổi. Vì
vậy, tổ chức hoạt động du lịch khá phân tán và không ổn định.
- Sản phẩm của hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch nói chung là
không có hình thái vật chất cụ thể, không có quá trình xuất, nhập kho, chất
lượng sản phẩm nhiều khi không ổn định.
- Quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ du lịch được tiến hành
đồng thời, ngay cùng một thời điểm.
- Hoạt động trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch là một
ngành mang tính tổng hợp cao, bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau, hoạt
động hiện nay trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch hết sức phong
phú. Tuy nhiên các hoạt động đó có thể phân về các loại như sau:
Vũ Thị Hồng Phượng 3 K45/21-16
* Ý nghĩa của việc xác định kết quả cung cấp dịch vụ:
Kết quả cung cấp dịch vụ là kết quả của việc bán hàng và cung cấp dịch
vụ. Nó là phần chênh lệch giữa doanh thu bán hàng thuần với giá vốn hàng bán,
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Vũ Thị Hồng Phượng 4 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Doanh nghiệp phải có trách nhiệm tính ra được kết quả hoạt động kinh
doanh trên cơ sở so sánh giữa doanh thu và chi phí hoạt động. Cung cấp thông
tin giúp doanh nghiệp nghiên cứu, xây dựng chính sách kinh doanh phù hợp để
khai thác khách hàng, mở rộng thị trường mới.
Như vậy, cung cấp dịch vụ và xác định kết quả cung cấp dịch vụ có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Đó là hai mặt cùng tồn tại trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh là cái đích cuối cùng của doanh
nghiệp, còn bán hàng là phương tiện trực tiếp để đi đến đích đó.
1.1.2.2. Yêu cầu quản lý kế toán cung cấp dịch vụ và xác định kết quả
cung cấp dịch vụ:
Hoạt động cung cấp dịch vụ có liên quan tới nhiều khách hàng khác
nhau, doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều phương thức bán hàng khác nhau và
các phương thức thanh toán khác nhau nhằm đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch
bán hàng, chiếm lĩnh thị trường và thu hồi nhanh tiền hàng tránh bị chiếm dụng
vốn. Để làm được điều đó thì việc quản lý của doanh nghiệp đối với quá trình
cung cấp dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh dịch vụ cần đảm bảo các yếu
tố cơ bản sau:
* Yêu cầu quản lý trong cung cấp dịch vụ:
- Quản lý tốt các loại dịch vụ cung cấp cả về số lượng, chất lượng và giá
cả.
- Không ngừng tìm hiểu, khác thác, mở rộng thị trường, xây dựng thương
hiệu là mục tiêu hàng đầu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
- Áp dụng các phương thức cung ứng dịch vụ và phương thức thanh toán
phù hợp, linh hoạt và có chính sách sau bán hàng “hậu mãi” nhằm không ngừng
tại chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến qua trình bán
hàng, xác định và phân phối kết quả kinh doanh.
1.2. Tổ chức kế toán cung cấp dịch vụ và xác định kết quả cung cấp
dịch vụ:
1.2.1. Các phương thức cung cấp dịch vụ:
Phương thức cung cấp dịch vụ chủ yếu là bán hàng trực tiếp:
Bán hàng trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại
kho hoặc giao hàng tay ba (các doanh nghiệp thương mại mua bán thẳng). Khi
khách hàng kí vào chứng từ bán hàng của doanh nghiệp thì được chính thức coi
là tiêu thụ. Người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán số hàng mà người
bán đã bàn giao. Phương thức này bao gồm 2 hình thức:
Bán buôn:
Vũ Thị Hồng Phượng 6 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Bán buôn là sự vận động ban đầu của hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến
lĩnh vực tiêu dùng, trong khâu này hàng hóa mới chỉ được thức hiện một phần
giá trị, chưa thực hiện được giá trị sử dụng. Khối lượng hàng tiêu thụ theo hình
thức bán buôn cho mỗi lần là rất lớn và thường lập chứng từ cho từng lần bán,
được thực hiện bởi hai hình thức:
+ Bán buôn qua kho.
+ Bán buôn vận chuyển thẳng.
Bán lẻ:
Bán lẻ là khâu vận động cuối cùng của hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến
lĩnh vực tiêu dùng, trong khâu này, hàng hóa kết thúc lưu thông, thực hiện được
toàn bộ giá trị và giá trị sử dụng, khối lượng hàng bán ra thường ít.
1.2.2. Kế toán giá vốn hàng xuất bán:
Đánh giá trị giá vốn hàng xuất kho để bán:
Đối với doanh nghiệp thương mại dịch vụ, trị giá mua hàng hóa,dịch vụ
xuất kho để bán được đánh giá theo trị giá vốn thực tế (chính là giá thành lao
vụ, dịch vụ hoàn thành và đã xác định là tiêu thụ trong kỳ), bao gồm trị giá mua
(3)
Sơ đồ 1.1: Trình tự kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê
khai thường xuyên
(1) Phản ánh giá vốn thực tế của hàng xuất kho đi bán.
(2a) Phản ánh giá vốn hàng mua bán thẳng không qua nhập kho.
(2b) Phán ánh thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
(3) Phản ánh giá vốn của hàng bán bị trả lại nhập kho.
(4) Cuối kỳ, kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng đã bán để xác định
kết quả kinh doanh.
• Trường hợp doanh nghiệp hạch toán tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kỳ:
(3)
TK 154 TK 632 TK 911
TK 611
Vũ Thị Hồng Phượng 8 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
(1) (2) (5)
TK 159
(4b)
(4a)
Sơ đồ 1.2. Trình tự kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kiểm
kê định kỳ.
(1) Đầu kỳ, kết chuyển trị giá vốn của hàng hóa.
(2) Kết chuyển giá vốn hàng bán được tiêu thụ trong kỳ.
(3) Kết chuyển số dư cuối kỳ của sản phẩm hàng hóa.
(4a) Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
(4b) Chênh lệch số phải trích lập cho kỳ tiếp nhỏ hơn số đã trích lập dự
4) Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn
thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Nguyên tắc xác định doanh thu:
1) Doanh thu chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện ghi nhận
doanh thu cho doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu tiền
lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức được chia theo quy định tại chuẩn mực
“doanh thu và thu nhập khác”, nếu không thảo mãn các điều kiện thì không ghi
nhận doanh thu.
2) Doanh thu và chi phí liên quan tới một giao dịch phải được ghi nhận
đồng thời theo nguyên tắc phù hợp và theo năm tài chính.
3) Trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
tương tự về bản chất thì không ghi nhận là doanh thu.
4) Phải theo dõi chi tiết từng loại doanh thu, doanh thu từng mặt hàng
ngành hàng, từng sản phẩm,… theo dõi chi tiết từng khoản giảm trừ doanh thu,
để xác định doanh thu thuần của từng loại doanh thu, chi tiết từng mặt hàng,
từng loại sản phẩm… để phục vụ cho cung cấp thông tin kế toán để quản trị
doanh nghiệp và lập Báo cáo tài chính.
Vũ Thị Hồng Phượng 10 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Cũng cần phải lưu ý rằng trong các doanh nghiệp dịch vụ, kế toán doanh
thu được hưởng chỉ được ghi nhận khi đơn vị hoàn thành trách nhiệm cung cấp
sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận
thanh toán.
Chứng từ kế toán sử dụng:
- Hóa đơn GTGT (mẫu 01-GTKT-3LL).
- Hóa đơn bán hàng thông thường (mẫu 02-GTTT-3LL).
- Thẻ quầy hàng (mẫu 02-BH).
- Hóa đơn cước phí vận chuyển.
- Các chứng từ thanh toán (phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán,
uỷ nhiệm thu, giấy báo Có của ngân hàng, bảng sao kê của ngân hàng…).
(4) (1a)
TK 521,531,532 TK 3331
(2b) (1b)
TK 3332,3333
(3)
(2a)
Sơ đồ 1.3: Trình tự kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ.
(1a) Ghi nhận doanh thu khi bán hàng: tổng giá thanh toán bao gồm thuế
VAT (nếu doanh nghiệp nộp thuế VAT theo phương pháp trực tiếp) hoặc không
gồm thuế VAT (nếu doanh nghiệp nộp thuế VAT theo phương pháp khấu trừ).
(1b) Thuế VAT phải nộp cho hàng bán ra theo pp thuế GTGT khấu trừ.
(2a) Phản ánh chiết khấu thương mại phát sinh, doanh thu hàng bán bị
trả lại, giảm giá hàng bán trong kỳ.
(2b) Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu để xác định DT thuần.
(3) Phản ảnh thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế nhập khẩu phải nộp của
hàng đã tiêu thụ.
(4) Cuối kỳ, kết chuyển doanh thu thuần để xác định kếi quả kinh doanh.
1.2.3.2. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng:
Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá
niêm yết doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do việc người mua
hàng đã mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về
chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết
mua, bán hàng.
Vũ Thị Hồng Phượng 12 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Doanh thu hàng bán bị trả lại: Là doanh thu tính cho số sản phẩm, hàng
hóa doanh nghiệp đã xác định là tiêu thụ, đã ghi nhận là doanh thu nhưng bị
khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế
hoặc theo chính sách bả o hành như hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng
loại.
có)
Chứng từ kế toán sử dụng:
- Hóa đơn bán hàng.
- Hóa đơn GTGT.
Vũ Thị Hồng Phượng 13 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
- Phiếu nhập kho hàng bán bị trả lại…
- Biên bản điều chỉnh giá, quyết định điều chỉnh giá.
- Các chứng từ thanh toán: Phiếu thu, giấy báo Có, Séc…
- Bảng kê hàng hóa bán ra…
- Hồ sơ hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa tiêu thụ đặc biệt…
Tài khoản kế toán sử dụng:
TK 521 – Chiết khấu thương mại
TK 531 – Hàng bán bị trả lại.
TK 532 – Giảm giá hàng bán.
TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước.
TK 521 – Chiết khấu thương mại:
TK này có 3 tài khoản cấp 2:
TK 5211 – Chiết khấu hàng hóa
TK 5212 – Chiết khấu thành phẩm
TK 5213 – Chiết khấu dịch vụ
TK 531 – Hàng bán bị trả lại.
Tài khoản này phản ánh doanh thu của số thành phẩm, hàng hóa đã tiêu
thụ bị khách hàng trả lại do lỗi của doanh nghiệp. TK 531 thuộc loại tài khoản
không có số dư.
TK 532 – Giảm giá hàng bán.
Chỉ phản ánh vào TK 532 các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm
giá ngoài hóa đơn, tức là sau khi đã phát hành hóa đơn bán hàng. Không phản
ánh vào TK 532 số giảm giá đã được trừ vào tổng giá bán ghi trên hóa đơn. TK
532 thuộc loại tài khoản không có số dư.
Nội dung chi phí bán hàng bao gồm:
- Chi phí nhân viên bán hàng.
- Chi phí vật liệu, bao bì.
- Chi phí dụng cụ đồ dùng.
Vũ Thị Hồng Phượng 15 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
- Chi phí khấu hao TSCĐ.
- Chi phí bảo hành sản phẩm.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí bằng tiền khác.
Chứng từ kế toán sử dụng:
- Phiếu chi tiền mặt, giấy báo có, bản sao kê, hóa đơn bán hàng hoặc hóa
đơn GTGT…
- Bảng lương, bảng tính và phân bổ khẩu hao tài sản cố định.
Tài khoản kế toán sử dụng:
TK 641 – Chi phí bán hàng
Là TK để tập hợp và kết chuyển CPBH thực tế phát sinh trong kỳ để xác
định kết quả kinh doanh.
TK này không có số dư và được mở 7 TK cấp 2:
TK 6411 – Chi phí nhân viên.
TK 6412 – Chi phí vật liệu, bao bì.
TK 6413 – Chi phí dụng cụ, đồ dùng.
TK 6414 – Chi phí khấu hao TSCĐ.
TK 6415 – Chi phí bảo hành.
TK 6417 – Chi phí dịch vụ mua ngoài.
TK 6418 – Chi phí bằng tiền khác.
Vũ Thị Hồng Phượng 16 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Trình tự kế toán chi phí bán hàng:
TK 334,338 TK 641 TK 111,112…
(4b) Nếu dùng cho hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ không thuộc
đối chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT phải nộp tính vào CPBH
(5a) Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phi bằng tiền khác phát sinh trong
kỳ.
(5b) Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (nếu có).
(6) Các khoản thu làm giảm chi.
(7a) Trích lập dự phòng về chi phí sửa chữa, bảo hành hàng hóa.
(7b) Hoàn nhập về chi phí sửa chữa, bao hành sản phẩm, hàng hóa.
(8) Cuối kỳ, kết chuyển CPBH để xác định kết quả kinh doanh.
1.3.1.2. Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:
Vũ Thị Hồng Phượng 18 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động
quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý hành chính và một số khoản khác có tính
chất chung toàn doanh nghiệp.
Nội dung chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm:
- Chi phí nhân viên quản lý.
- Chi phí vật liệu quản lý.
- Chi phí đồ dùng văn phòng.
- Chi phí khấu hao TSCĐ.
- Thuế, phí, lệ phí.
- Chi phí dự phòng.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí bằng tiền khác.
Chứng từ kế toán sử dụng:
Phiếu chi tiền mặt, giấy báo có , bản sao kê, hóa đơn GTGT hoặc hóa
đơn bán hàng
Tài khoản kế toán sử dụng:
TK 642- chi phí quản lý doanh nghiệp
Là TK để tập hợp và kết chuyển các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý
(2b) (2c)
TK 352
TK 214 (7b)
(3)
(7a)
TK 512 TK 139 TK 131,138
(4a) (8b) (8a)
TK 3331
(4b) (8d)
TK 111,112, (8c)
333…
(5a)
Vũ Thị Hồng Phượng 20 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
TK 133
(5b)
Sơ đồ 1.6. Trình tự kế toán một số nghiệp vụ CPQLDN chủ yếu
(1) Tính tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên QLDN
trong kỳ.
(2a) Phản ánh chi phí vật liệu, CCDC loại phân bổ 1 lần.
(2b) Phản ánh trị giá vốn thực tế CCDC loại phân bổ nhiều lần.
(2c) Trong kỳ, phân bổ tính chi phí CCDC vào chi phí QLDN.
(3) Trích khấu hao TSCĐ ở bộ phận QLDN.
(4a) Sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ thuộc đối tượng chịu thuế
GTGT dùng cho hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng chịu
thuế GTGT thì không phải tính thuế GTGT.
(4b) Nếu dùng cho hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ không thuộc
đối chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT phải nộp tính vào CPQLDN.
(5a) Các khoản thuế phải nộp nhà nước, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi
-
CPBH và
CP quản
lý doanh
nghiệp
-
CP thuế
TNDN
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động SXKD
thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định, biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ.
Tài khoản kế toán sử dụng:
TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh.
TK này dùng để xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp.
TK 421 – Lợi nhuận chưa phân phối.
Tài khoản này dùng để phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và tình
hình phân phối, xử lý kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
TK 421 có 2 tài khoản cấp 2:
TK 4211 – Lợi nhuận năm trước.
TK 4212 – Lợi nhuận năm nay.
……
Trình tự kế toán xác định kết quả kinh doanh:
Vũ Thị Hồng Phượng 22 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
TK 632 TK 911 TK 511,512
K/c giá vốn hàng bán K/c DTT bán hàng và
cung cấp dịch vụ
TK 641,642 TK 515
K/c CPBH, CPQLDN K/c DTT hoạt động TC
TK 635,811 TK 711
- Các Nhật kí chứng từ: NKCT số 1, 2, 7, 8, 10.
- Các bảng kê: Bảng kê số 1, 2, 5, 6, 8, 10, 11.
Hình thức kế toán Nhật ký chung:
Hệ thống sổ trong hình thức kế toán này gồm có các sổ:
- Sổ nhật ký chung.
- Các sổ thẻ chi tiết bán hàng.
- Sổ cái (TK 131, 511, 641, 642, 911, 421…)
- Các sổ nhật ký đặc biệt như nhật ký thu tiền, chi tiền…
Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái:
Hình thức hệ thống sổ gồm:
- Kế toán sử dụng sổ nhật ký sổ cái.
- Các sổ thẻ kế toán chi tiết.
Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ:
Vũ Thị Hồng Phượng 24 K45/21-16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Hệ thống sổ trong hình thức kế toán này gồm có các sổ:
- Các chứng từ ghi sổ.
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
- Các sổ thẻ kế toán chi tiết.
- Sổ cái các tài khoản 511, 641, 642, 911, 421…
Hình thức kế toán máy: Là hình thức kế toán mới được áp dụng các
phần mềm được lập trình phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Hình thức này hỗ trợ phần lớn công việc cho kế toán, kế
toán nhập dữ liệu từ các chứng từ kế toán phát sinh vào máy, sau đó phần mềm
sẽ tự động đưa các số liệu này vào các sổ chi tiết, sổ cái có liên quan, cuối kỳ sẽ
tự động kết chuyển và lên các báo cáo cần thiết.
1.4.2. Trình bày thông tin trên BCTC:
Thông tin kế toán tài chính là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài
chính của các đơn vị, phản ánh được quá trình, kết quả và hiệu quả hoạt động
SXKD.