LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động được hơn 10 năm, tuy
còn non trẻ nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam đã dần khẳng định được
vai trò quan trọng của nó, là một kênh huy động và luân chuyển vốn trung và
dài hạn cho nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán thì
các công ty chứng khoán với tư cách là các chủ thể tham gia kinh doanh trên
thị trường cũng đã ra đời và hoạt động, đóng góp rất lớn vào hoạt động của thị
trường thông qua vai trò trung gian của mình. Các công ty chứng khoán hoạt
động với mục tiêu mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh chứng khoán cao,
nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giúp cho thị trường chứng khoán hoạt động
công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt
động của các công ty chứng khoán và qua thực tế thực tập, tìm hiểu hoạt động
của Công ty Cổ phần Chứng khoán Đông Nam Á. Em thấy công ty cần phải
có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động
kinh doanh để có thể đứng vững và phát triển trong điều kiện hiện nay. Với
mong muốn đóng góp một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Cổ phần Chứng khoán Đông Nam Á”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về Công ty chứng khoán và hoạt
động của Công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
- Phân tích thực trạng hoạt động của CTCPCK Đông Nam Á, từ đó
đánh giá kết quả, hạn chế, và các nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt
động của công ty.
1
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động
của CTCPCK Đông Nam Á.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị
trường chứng khoán. Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là
thu hút vốn đầu tư trung và dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính
thanh khoản cho các loại chứng khoán. Do vậy, để thúc đẩy thị trường chứng
khoán hoạt động một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra
đời của các công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực chứng
khoán thông qua việc thực hiện một hoặc một vài dịch vụ chứng khoán với
mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Theo Luật Chứng khoán 2006 và NĐ số 14/2007/NĐ-CP quy định chi
tiết thi hành một số điều luật của chứng khoán thì: Công ty chứng khoán được
tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần
theo quy định của Luật doanh nghiệp và được thực hiện một, một số hoặc
toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau:
Môi giới chứng khoán
Tự doanh chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán
3
Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trên công ty chứng
khoán còn được phép cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài
chính khác theo quy định.
Ngoài ra, do đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán các công
ty chứng khoán còn phải đáp ứng một số tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp
trong hành nghề chứng khoán.
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với các tổ chức phát
hành, đối với nhà đầu tư, đối với thị trường chứng khoán và đối với cơ quan
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều
tiết thị trường. Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi
ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã dành một tỷ lệ nhất định
các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
Hai là, góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài
chính nhưng các công ty chứng khoán mới tạo ra cơ chế trao đổi trên thị
trường. Trên thị trường sơ cấp, do cải thiện các hoạt động như bảo lãnh phát
hành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động
được một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà
còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các
chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán trao đổi trên thị trường trên
5
thị trường thứ cấp. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu
tư. Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán các công ty
chứng khoán giúp nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và
ngược lại. Đó là những hoạt động có thể làm tăng tính thanh khoán của những
tài sản tài chính.
- Đối với cơ quan quản lý thị trường:
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các
cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu quản lý. Các công ty chứng
khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành
các chứng khoán, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện giao
dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần
phải được công khai hoá dưới sự giám sát của Bộ tài chính, cơ quan quản lý
thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp,
vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng
khoán có thể cung cấp thông tin bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán
trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và thông tin về các nhà
đầu tư. Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát
Bên cạnh đó, do không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các
ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cư để đầu tư chứng
khoán, và khi thị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác
động tới công chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất
khả năng chi trả. Do những hạn chế như vậy, nên sau khi khủng hoảng thị
trường tài chính 1929 - 1933, các nước đã chuyển sang mô hình chuyên
doanh, chỉ có một số thị trường ( như Đức) vẫn còn áp dụng mô hình này.
7
1.1.3.2. Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty
độc lập và chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân
hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân
hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hóa sâu
trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển. Mô hình này
được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật và các thị trường mới
nổi như Hàn Quốc, Thái Lan
Tuy nhiên, do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên
ngày nay một số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền
tệ, chứng khoán, bảo hiểm, nhưng được tổ chức thành các công ty mẹ, công ty
con có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau.
1.2 Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.2.1 Các hoạt động kinh doanh chính.
1.2.1.1 Môi giới chứng khoán.
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán chứng khoán
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận các lệnh mua, lệnh bán
chứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào Sở giao dịch
chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới. Công ty chứng khoán đại diện cho
khách hàng tiến hành giao dịch chứng khoán mà chính khách hàng phải chịu
trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của
khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty.
9
- Bình ổn thị trường
Do tính đặc thù của thị trường chứng khoán, đặc biệt là các thị trường
chứng khoán mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thì
tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư không cao. Điều này rất dễ gây
biến động bất thường trên thị trường. Vì vậy, các nhà đầu tư lớn, chuyên
nghiệp rất cần thiết để làm tín hiệu hướng dẫn cho toàn bộ thị trường. Bên
cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các công ty chứng khoán với
khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông qua hoạt động
tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các
loại chứng khoán trên thị trường.
1.2.1.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành
thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối
chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi
phát hành.
Tổ chức bảo lãnh chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán
của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để
hưởng hoa hồng.
Các tổ chức bảo lãnh phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ
lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành. Phí bảo lãnh
phát hành là mức chênh lệch giữa giá bán chứng khoán cho người đầu tư và
số tiền tổ chức phát hành nhận được.
Bảo lãnh phát hành gồm có các phương thức sau:
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó
tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có
phân phối được hết chứng khoán hay không.
10
người đầu tư có lợi, kiếm được tiền từ lời tư vấn này thì họ sẽ vui mừng
nhưng nếu họ bị thiệt hại thì họ sẽ tìm kiếm những nhà tư vấn để phàn nàn,
thậm chí bắt bồi thường. Do vậy, khi hành động, nhà tư vấn cần đặt ra và tuân
theo một số nguyên tắc nhất định, tối thiểu như sau:
+ Không đảm bảo chắc chắn về giá trị của chứng khoán.
+ Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình có thể
không hoàn toàn chính xác và khách hàng cần biết rằng nhà tư vấn sẽ không
chịu trách nhiệm về những lời khuyên đó.
+ Không được dụ dỗ, mời gọi khách hàng mua hay bán một loại chứng
khoán nào đó. Những lời tư vấn phải được xuất phát từ cơ sở khách quan là sự
phân tích tổng hợp một cách logic, khoa học.
1.2.2 Các hoạt động hỗ trợ
1.2.2.1 Quản lý thu nhập của khách hàng
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, Công ty chứng
khoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức chứng khoán và đứng ra làm dịch
vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách
hàng.
1.2.2.2 Hoạt động tín dụng
Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng
khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, công ty chứng khoán còn triển
khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán
khống (short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện
nghiệp vụ mua ký quỹ (margin purchase).
12
Cho vay kỹ quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho
khách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các loại chứng
khoán đó làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một
phần, số còn lại sẽ do công ty chứng khoán ứng trước thanh toán. Đến ký hạn
thoả thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số gốc vay cùng với lãi cho công ty
chứng khoán. Trường hợp khách hàng không trả được nợ, thì công ty sẽ phát
Ngoài ra có thể xem xét hiệu quả kinh tế của từng hoạt động kinh
doanh cụ thể mà công ty chứng khoán thực hiện gồm:
- Hiệu quả kinh tế hoạt động tự doanh là sự so sánh giữa doanh thu
tự doanh chứng khoán và các chi phí liên quan đến doanh thu tự doanh như
khoản lỗ bán chứng khoán tự doanh, phí lưu ký chứng khoán tự doanh, phí
giao dịch chứng khoán của khối lượng chứng khoán bán ra, chi phí trực
tiếp hoạt động kinh doanh chứng khoán tự doanh như chi phí nhân viên
trực tiếp, chi phí vật liệu văn phòng, chi phí công cụ đồ dùng, chi phí dịch
vụ mua ngoài.
- Hiệu quả kinh tế trong hoạt động môi giới là sự so sánh giữa doanh
thu thu phí giao dịch chứng khoán và các chi phí liên quan đến doanh thu
đó như chi phí giao dịch chứng khoán cho người đầu tư, chi phí nhân viên
trực tiếp.
- Hiệu quả kinh tế trong hoạt động bảo lãnh phát hành là sự so sánh
giữa doanh thu bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán và các chi phí liên
quan đến doanh thu đó như chi phí thực hiện việc bán chứng khoán bảo lãnh
phát hành, hoa hồng đại lý phát hành chứng khoán.
14
- Hiệu quả kinh tế trong vấn đầu tư chứng khoán là sự so sánh giữa số
phí công ty chứng khoán được hưởng từ việc tư vấn đầu tư chứng khoán cho
người đầu tư và các chi phí khác mà công ty chứng khoán phải trả cho tư vấn
đầu tư chứng khoán của công ty.
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng
khoán
Tất cả các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều phải đặt ra những mục
tiêu cụ thể. Để đạt được mục tiêu đó trước hết doanh nghiệp phải xác định
cho mình chiến lược kinh doanh phù hợp với sự biến động của thị trường.
Đồng thời phải tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thường dựa trên
các chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính.
năng hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Họ cũng cần nghiên cứu tình
hình về khả năng thanh toán để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đáp ứng
nhu cầu thanh toán hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ
cuối cùng của doanh nghiệp. Mỗi nhóm chỉ tiêu trên bao gồm nhiều chỉ tiêu
và trong từng trường hợp các chỉ tiêu được lựa chọn sẽ phù hợp về bản chất,
quy mô của hoạt động phân tích. Tuy nhiên, việc phân tích các chỉ tiêu (tỷ số)
sẽ có ý nghĩa hơn nếu sử dụng số liệu trong các báo cáo tình chính để minh
họa bản chất, cách tính toán và ý nghĩa của các nhóm chỉ tiêu mà chủ yếu là
bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh. Điều này không
có nghĩa là báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính không
quan trọng. Mà thực sự các nhà doanh nghiệp hiện nay cần phải quan tâm rất
nhiều tới các chỉ tiêu trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo
16
tài chính. Sau đây là nhóm những chỉ tiêu thường được áp dụng để đánh giá
hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.
- Vốn khả dụng.
Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh khả năng trả nợ của công ty chứng
khoán mà còn phản ánh khả năng chống đỡ lại với các rủi ro mà công ty có
thể gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh. Do đó, chỉ tiêu về mức
vốn khả dụng có tính chất tổng quát hơn, với những yêu cầu chặt chẽ hơn. Có
thể rút ra công thức chung mang tính khái quát để tính mức vốn khả dụng cho
công ty chứng khoán như sau:
Vốn khả dụng =
Tổng giá trị tài
-sản
Các khoản tài +
sản giảm trừ
Các khoản gia
tăng
Trong đó:
chuyển hóa thành tiền mặt)
Tỷ
Nu trong cỏc loi ti sn ca cụng ty chng khoỏn khi c phõn loi,
ỏnh giỏ li giỏ tr theo k hn, loi tr cỏc loi c phiu v ti sn khỏc
khụng cú kh nng chuyn húa thnh tin mt m nh hn n phi thanh toỏn
cựng k hn thỡ cú th dn n tỡnh trng cụng ty chng khoỏn mt kh nng
thanh toỏn tm thi ti cỏc thi im nht nh.
- Ch tiờu n trong thanh toỏn giao dch chng khoỏn trờn ngun vn.
Ch tiờu n trong thanh toỏn giao dch chng khoỏn trờn ngun vn l
quan h t l gia cỏc khon phi thu t nh u t vi ngun vn ca cụng ty
chng khoỏn. Ch tiờu ny c tớnh theo cụng thc sau:
=
Khoản phải thu từ nhà
Tỷ lệ khoản phải thu từ nhà
đầu t chứng khoán
x 100%
đầu t trên nguồn vốn Nguồn vốn
Ch tiờu ny cho bit mc ph thuc ca kh nng thanh toỏn ca
cụng ty chng khoỏn vo mt loi ti sn thng khụng th chuyn i thnh
tin (Khon phi thu ca nh u t chng khoỏn). Ch tiờu ny cũn phõn
18
biệt công ty chứng khoán hoạt động lành mạnh với công ty chứng khoán có
khó khăn về tài chính.
* Nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn (hay cơ cấu vốn).
Nhóm chỉ tiêu này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở
hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và
có ý nghĩa quan trọng trong phân tích báo cáo tài chính. Bởi lẽ, các chủ nợ
nhìn vào số vốn của chủ sở hữu công ty để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự
bảo đảm an toàn cho các món nợ. Nếu chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ đóng góp
một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro xảy ra trong sản xuất kinh doanh
nghip nhng phn ln h khụng thớch ri ro. Nghiờn cu c cu vn ca
doanh nghip s gii quyt vn ny. C cu vn c coi l mt trong
nhng chớnh sỏch ti chớnh quan trng ca doanh nghip, nú cú v trớ quan
trng trong vic iu chnh cỏc khon n, nõng cao hiu qu s dng vn ca
doanh nghip.
- Kh nng thanh toỏn lói vay hoc s ln cú th tr lói.
Ch tiờu th hin t s gia li nhun trc thu v lói vay trờn lói vay
(EBIT/ lói vay).
=
Lợi nhuận tr ớc thuế và lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay
Ch tiờu ny cho bit mc li nhun m bo kh nng tr lói vay
hng nm nh th no. Vic khụng tr c cỏc khon n ny s th hin kh
20
năng của doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản. Nếu khả năng trả lãi vay của
doanh nghiệp là kém thì thể hiện khả năng sinh lời của tài sản thấp và ngược lại.
- Chỉ tiêu cơ cấu tài sản.
Là chỉ tiêu được tính bằng cách chia tài sản lưu động (hay tài sản cố
định) cho tổng tài sản. Thông qua chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá trình độ sử
dụng vốn của công ty chứng khoán. Chỉ tiêu này còn cho biết trong một đồng
vốn mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng có bao nhiêu đầu tư vào tài sản lưu
động, bao nhiêu đầu tư vào tài sản cố định. Do đó, bố trí cơ cấu tài sản càng
hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng tài sản càng cao bấy nhiêu.
- Chỉ tiêu vốn chủ sở hữu trong tổng vốn.
Hệ số này đánh giá khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và tính chủ
động trong kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ số này càng cao, khả năng tự
chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp ít chịu rủi ro
trước các biến động của thị trường. Tuy nhiên, chi phí vốn chủ cao hơn chi
phí nợ và việc sử dụng quá nhiều vốn có thể dẫn tới bị san sẻ quyền quản lý
giảm giá chứng khoán x 100%
Nguồn vốn
trên nguồn vốn
S trớch d phũng gim giỏ chng khoỏn bao gm d phũng gim giỏ
chng khoỏn t doanh, y thỏc u t (nu cụng ty chng khoỏn chu theo
cam kt), chng khoỏn u t di hn, u t ngn hn v di hn khỏc.
Ngun vn ca mt cụng ty chng khoỏn cú vai trũ to ra ngun vn d tr
bự p cho cỏc khon tn tht ln hn mc trung bỡnh v vt quỏ kh
nng chi tr ca mc d phũng gim giỏ chng khoỏn.
Ch tiờu v s trớch d phũng gim giỏ chng khoỏn phn ỏnh mc
m bo ngun d tr bự p cho cỏc khon tn tht do gim giỏ chng
khoỏn.
- Mc tng doanh thu.
ỏnh giỏ mc tng trng v doanh thu ngi ta thng so sỏnh
doanh thu ca nm nay so vi nm trc v c xỏc nh theo cụng thc.
22
=
Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận sau thuế
x 100%
vốn kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân
Ch tiờu ny cũn cú th c tớnh cho tng loi hot ng nh hot
ng mụi gii, hot ng t doanh, bo lónh phỏt hnh, t vn v cỏc hot
ng khỏc ca cụng ty chng khoỏn.
Doanh thu hot ng kinh doanh chng khoỏn ca cụng ty chng
khoỏn bao gm:
+ Doanh thu t hot ng kinh doanh chng khoỏn t doanh.
+ Doanh thu cung cp dch v mụi gii chng khoỏn.
+ Bo lónh phỏt hnh chng khoỏn.
+ T vn u t chng khoỏn
-
Các khoản giảm trừ
doanh thu
* Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.
Các chỉ tiêu sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động
kinh doanh một thời kỳ nhất định, là đáp số cuối cùng của hiệu quả hoạt động
kinh doanh của công ty chứng khoán và còn là một luận cứ quan trọng để các
nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai của công ty.
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh một đồng doanh thu mà
công ty chứng khoán thực hiện trong kỳ đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau
thuế. Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán.
=
Tû lÖ lîi nhuËn sau
Lîi nhuËn sau thuÕ
x 100%
thuÕ trªn doanh thu Doanh thu thuÇn
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh.
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức sinh lợi của
đồng vốn, công thức tính như sau.
=
Tû suÊt lîi nhuËn
Lîi nhuËn sau thuÕ
x 100%
vèn kinh doanh Vèn kinh doanh b×nh qu©n
- Chỉ tiêu đánh giá về chất lượng đầu tư tự doanh.
24
Ch tiờu cht lng u t t doanh ỏnh giỏ hiu qu hot ng u t
t doanh ca cụng ty chng khoỏn, mt yu t quan trng úng gúp vo li
nhun chung ca cụng ty. Ch tiờu ny cũn cho bit cht lng chung trong
25