Nghiên cứu ảnh hưởng của prostaglandin đến các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và khả năng sinh trưởng của tế bào hạt ở tầng trước tế bào trứng gà - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
THÁI NGUYÊN - 2014

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thông tin, tài liệu trích
dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
4 năm 2014
Tác giả ii
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được
sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình của thầy hướng dẫn TS.
ực hiện luận văn. Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy hướng dẫn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Nội dung nghiên cứu 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tính chất lý hoá học và chức năng chính của máu 3
1.1.1. Tính chất lý học, chức năng các thành phần chính của máu 3
1.1.1.1. Hồng cầu 3
1.1.1.2. Hemoglobin (Hb) 5
1.1.1.3. Bạch cầu 7
1.1.2. Tính chất sinh hóa học của máu 8
1.1.2.1. Protein huyết thanh và các tiểu phần protein huyết thanh 9
1.1.2.2. Hệ số A/G 10
1.2. 10
10
11
13
16
1.2.5. 17
(EGF) 17
kemia inhibitory factor (LIF) 18

iv
(SCF) 18
1.3. (PG) 19
1.3.1. Lịch sử nghiên cứu 19
1.3.2. Sinh tổng hợp PG 20
1.3.3. Phân loại 21
1.3.4. Cách gọi tên PG 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CS :
EGF : Epidermal growth factor
Hb : Hemoglobin
LIF : Leukemia inhibitory factor
LWF :
LYF :
PG : Protaglandin
SCF : Stem cell factor
SWF :
SYF :
v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Ảnh hưởng của PG đến số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm
lượng huyết sắc tố máu của phôi gà 29
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của PG đến hàm lượng protein và các tiểu phần
protein huyết thanh 30
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của PG đến khả năng sinh sản của tế bào hạt 31 vi

lý sinh sản và sinh lý nội tiết của chúng.
Hệ thống nội tiết ở động vật nói chung và gia cầm nói riêng là một hệ
thống phức tạp, có chức năng chính là sản xuất ra các loại hocmon nhằm điều
tiết quá trình sinh trưởng, sinh sản…. Các cơ quan nội tiết cung cấp một lượng
hocmon đã được đong đếm kỹ lưỡng trước khi được đưa vào hệ thống tuần
hoàn, theo máu đi đến những bộ phận khác nhau của cơ thể nhằm kiểm soát và
điều tiết các chức năng. Một số hocmon còn do một số cơ quan chức năng
(không phải tuyến) tiết ra như: cơ quan sinh sản (ở con đực và con cái), cơ quan
bài tiết sữa…, và chúng chỉ được hoạt động ở cơ quan được tiết ra.
Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu về sử dụng các loại hocmon trong
điều khiển khả năng sinh của gia cầm, đặc biệt là gà mái. Một trong các loại
hocmon có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh sản của gia cầm phải kể đến
hocmon prostaglandin (PG). PG là các axit béo không bão hòa ở các mô, được
sinh tổng hợp ngay tại màng tế bào từ phospholipid, các PG được tổng hợp để
dùng ngay tại mô, nồng độ rất thấp chỉ khoảng vài nanogam/gam mô. Chúng có
mặt ở khắp nơi trong cơ thể, phạm vi tác dụng sinh lý rất rộng lớn: có vai trò
như một chất trung gian hóa học của quá trình viêm và cảm nhận đau, ngoài ra
còn có các tác dụng sinh lý rất rộng lớn các mô riêng biệt nên chúng được gọi
là các hocmon tổ chức.

2
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh
hưởng của Prostaglandin đến các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và khả
năng sinh trưởng của tế bào hạt ở tầng trước tế bào trứng gà”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được mức độ ảnh hưởng PG đến các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa
máu; khả năng sinh trưởng của tế bào hạt ở tầng trước trong chu kỳ phát triển
của tế bào trứng gà.
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của PG đến các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu:

kháng thể tồn tại trong huyết thanh, bạch cầu là hàng rào bảo vệ vững chắc, ngăn
ngừa ập của vi khuẩn. Máu giúp cân bằng nước, muối khoáng trong cơ
thể, tạo một hệ thống đệm rất hoàn chỉnh và hoạt động linh hoạt. Các rối loạn về
thành phần cấu tạo của máu ảnh hưởng đến sự tuần hoàn bình thường của nó
có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác nhau.
Độ pH máu tương đối ổn định (7,35 ± 0,15) nhờ hoạt động của hệ thống
đệm, hoạt động của thận, tuyến mồ hôi và đường hô hấp. Có hai hệ thống đệm:
trong huyết tương và trong hồng cầu. Mỗi hệ thống gồm nhiều đôi đệm, trong
đó có một đôi đệm gồm 1 axit yếu và một muối kiềm mạnh của nó.
Khi hàm lượng một axit tăng lên trong máu thì lập tức, các đôi đệm hoạt
động theo nguyên tắc của phản ứng trung hòa với muối kiềm của đôi đệm và
ngược lại. Tác dụng đệm của máu có ý nghĩa cho sự sống: nếu muốn axit hóa
máu phải dùng hàm lượng HCl gấp 327 lần, nếu muốn kiềm hóa máu phải dùng
hàm lượng NaOH gấp 40 - 70 lần so với khi cho vào nước.
1.1.1. Tính chất lý học, chức năng các thành phần chính của máu
1.1.1.1. Hồng cầu
Hồng cầu, hay hồng huyết cầu (tế bào máu đỏ), là loại tế bào máu có
chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa O
2
từ phổi đến

4
các mô. Enzyme carbonic anhydrase trong hồng cầu làm tăng hàng nghìn lần
vận tốc của phản ứng giữa CO
2
và H
2
O tạo ra H
2
CO

2
, vitamin C,…
Số lượng hồng cầu trong máu khác nhau tùy theo loài:
- Số lượng hồng cầu trong 1mm
3
máu của gà là 2,5 - 3,2 triệu
- Số lượng hồng cầu trong 1mm
3
máu của lợn là 6 - 8 triệu
- Số lượng hồng cầu trong 1mm
3
máu của bò là 6 - 8 triệu
- Số lượng hồng cầu trong 1mm
3
máu của thỏ là 5,5 - 6,5 triệu
Hồng cầu có 60% là nước và 40% là vật chất khô, hemoglobin chiếm
khoảng 1/3 khối lượng, hồng cầu sống được 90 - 120 ngày [2].

5
Tuy không có nhân, ti thể và hệ lưới nội chất, trong hồng cầu vẫn có một
số enzyme thực hiện chức năng chuyển hóa glucose và tạo ra một lượng nhỏ
ATP. Đồng thời, các enzyme đó cũng giúp:
- Gìn giữ sự dẻo dai của màng hồng cầu.
- Đảm bảo trao đổi ion qua màng tế bào.
- Giữ sắt trong hemoglobin dưới dạng hóa trị 2 thay vì hóa trị 3.
- Ngăn chặn phản ứng ôxy hóa của các protein trong hồng cầu.
Mặc d vậy, theo thời gian, hệ chuyển hóa của hồng cầu ngày càng kém
hiệu quả, khiến cho màng hồng cầu trở nên mong manh, dễ vỡ. Do đó, các
hồng cầu già sẽ bị vỡ khi đi qua tổ chức chật chội của hệ tuần hoàn, chủ yếu là
tại lách và gan.

2
. Tại các mô, phân tử ôxy được phóng thích
nguyên dạng vào dịch ngoại bào.
Hb có chức năng sinh lý quan trọng trong trao đổi khí, nếu không khí bị
nhiễm độc bởi CO, SO
2
, NO
2
, các chất oxy hóa mạnh,… thì Hb bị trúng độc trở
thành trạng thái met.hemoglobin và không còn chức năng sinh lý.
Khí CO (cacbon mônôxít) có khả năng kết hợp hóa học với Hemoglobin
mạnh hơn cả Oxi nên chúng bám chặt lấy hồng cầu, không cho hồng cầu kết
hợp với Oxi nên làm sinh vật ngạt khí khi ở nơi có nồng độ khí CO quá cao và
chỉ được tách ra khi có nồng độ khí Oxi cao như ở phổi
Hb + CO → HbCO (met.hemoglobin)
Fe
++
Fe
+++

Hàm lượng Hb trong hồng cầu phụ thuộc vào dung tích oxy của máu. Ở
người, mỗi gam Hb có 1,36 ml oxy, ở gia cầm có 1,40 - 1,41 ml oxy. Ở gà
trung bình có 22 - 23g Hb, tức là có 30 - 46,2 ml oxy, ở vịt có 56 - 78,4 ml
oxy, [6].
Hàm lượng Hb trong máu của các loài gia súc thay đổi theo giống, tuổi,
tính biệt, trạng thái dinh dưỡng, tình trạng bệnh tật. Hàm lượng Hb tăng khi
thân nhiệt tăng, lao động nặng, mất nước do ỉa chảy, thiếu máu do ký sinh
trùng, dung huyết,…. [3].

7

nghìn, vịt là 34 - 35 nghìn, ngỗng là 27,8 - 38,6 nghìn). Số lượng bạch cầu phụ

8
thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng, trạng thái sức khỏe (bạch cầu tăng khi có
bệnh), đặc điểm giống, loài, thậm chí là các thời điểm khác nhau trong ngày
(buổi sáng ít, buổi chiều nhiều hơn) [6].
Tỷ lệ các loại bạch cầu trong máu gọi là công thức bạch cầu. Khi sinh lý
cơ thể thay đổi, công thức bạch cầu cũng biến đổi, dựa vào đó để chẩn đoán
lâm sàng.
1.1.2. Tính chất sinh hóa của máu
Phương pháp tiếp máu cứu người đã được áp dụng từ rất lâu nhưng tỷ lệ
tử vong do tiếp máu cũng khá lớn. Năm 1901, Lande Steiner đã phát hiện ra
các nhóm hồng cầu và phản ứng ngưng kết của máu khi gặp máu lạ (protide lạ),
có thể hiểu gần như kháng nguyên và kháng thể. Sau đó người ta đã biết phản
ứng nhóm máu là phản ứng miễn dịch, phát sinh ngưng kết giữa kháng nguyên
(ngưng kết nguyên - agglutinogen) với kháng thể (ngưng kết tố - agglutinin).
Đặc trưng cơ bản của các nhóm máu khác nhau:
Nhóm A: hồng cầu có kháng nguyên A, huyết thanh có kháng thể β.
Nhóm B: hồng cầu có kháng nguyên B, huyết thanh có kháng thể α.
Nhóm AB: hồng cầu có kháng nguyên A, B; huyết thanh không có
kh thể α và β.
Nhóm O: hồng cầu không có kháng nguyên; huyết thanh có kháng thể
α và β.
Khi tiếp máu chỉ cần xét phản ứng hồng cầu (cho) + huyết thanh (nhận),
nếu phát sinh ngưng kết thì không thể tiếp máu được.
Nhưng khi nghiên cứu trên gia súc, gia cầm, các nhà khoa học khám phá
ra rằng: tính chất sinh hóa học của máu có liên quan đến khả năng tổng hợp
protein của từng loài sinh vật.
Protein là chất hữu cơ có ở bất cứ vật sống nào với tỷ lệ khá ổn định, là
vật chất mang sự sống, là thành phần hóa học của tế bào sống.

10
tỷ lệ phần trăm của albumin thường biến động đồng thời với hàm lượng
protein huyết thanh.
Globulin có 3 nhóm chính: α-globulin, β-globulin và γ-globulin. Ngoài ra
còn có một số nhóm khác.
Trong đó, γ-globulin chứa phần lớn kháng thể tự nhiên và các loại
protein miễn kháng. Điều này có ý nghĩa lớn trong quá trình tiến hóa của sinh
vật. Đây là loại globulin liên quan đến sức đề kháng của cơ thể nên rất có ý
nghĩa trong chẩn đoán.
α-globulin liên quan đến hướng sản xuất, sự tổng hợp và tích lũy mỡ của
cơ thể. β-globulin tham gia vào quá trình tạo máu, tham gia vận chuyển Zn, Cu,
Mn [10].
1.1.2.2. Hệ số A/G
Hệ số A/G là trị số dùng để chỉ tỷ lệ albumin/globulin trong máu. Nếu
A/G>1 là rất tốt. Tương quan A/G phụ thuộc vào tuổi và khối lượng sinh
trưởng. Ví dụ ở gà đẻ là 0,96%, còn ở gà con thời kỳ sinh trưởng lượng
albumin giảm còn lượng globulin tăng [2].
1.2. T
buồng
Quá trình sinh sản ở gia cầm mái khác nhau rất cơ bản so với ở gia súc.
Sinh sản ở gia cầm thông qua việc đẻ trứng. Trứng được thụ tinh bên trong
đường sinh dục cái. Phôi phát triển ngoài cơ thể mẹ và đòi hỏi những điều kiện
nhất định.
Giai đoạn đầu của quá trình phát triển phôi, cơ quan sinh dục ở gia cầm
không có sự phân biệt đực, cái. Sự phân hoá giới tính chỉ xảy ra từ tuần thứ hai
của quá trình phát triển phôi. Ở gia cầm cái chỉ có buồng trứng và ống dẫn
trứng bên trái phát triển (trừ bồ câu), nguyên nhân của sự mất đi của buồng
trứng và ống dẫn trứng bên phải chưa được xác định và giải thích thoả đáng.

11

vào phần loa kèn và lưu lại tại đây 5-25 phút. Sau đó nhờ nhu động của ống dẫn
trứng mà trứng được di chuyển tiếp tục xuống các phần sau của ống dẫn trứng
[7].
+ Phần tiết lòng trắng trứng: Là phần tiếp theo ngay loa kèn của ống
dẫn trứng có chiều dài bằng 80% chiều dài toàn bộ ống dẫn trứng. Chức
năng là sản sinh ra lòng trắng trứ 40-50% lòng trắng trứng được
hình thành từ đoạn này, phần lòng trắng còn lại sẽ tiếp tục được hình thành ở
phần sau của ống dẫn trứng. Trứng dừng lại ở phần phân tiết lòng trắng
trứng không quá 3 giờ.
+ Phần eo của ống dẫn trứng: Tiếp theo phần tiết lòng trắng, phần eo có
chức năng hình thành màng vỏ trứng và một phần lòng trắng trứng. Qua khỏi
phần eo hình dạng của trứng được hình thành. Trứng dừng lại ở phần eo
khoảng 75 phút.
+ Tử cung: Là phần phình to tiếp theo phần eo, có chiề 10%
chiều dài ống dẫn trứng. Tại tử cung phần lòng trắng tiếp tục được sinh ra và
thấm qua màng vỏ trứng vào trứng. Ngay khi trứng vào đến phần eo thì đầu
trước của nó hình thành vỏ lụa (màng dưới vỏ trứng), sau đó vỏ cứng được hình
thành dần dần (vỏ đá vôi). Thời gian trứng lưu lại ở tử cung là 16-20 giờ. Tại tử
cung màu sắc của vỏ trứng cũng được hình thành.
+ Âm đạo: Là phần tận cùng của ống dẫn trứng, có chức năng sinh ra
lớp màng mỡ bao bọc vỏ trứng. Lớp màng mỡ này giúp cho gia cầm dễ đẻ,
ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn vào trong trứng, hạn chế sự bốc hơi
nước của trứng. Lớp màng mỡ tạo nên độ bóng giúp ta phân biệt được trứng
cũ và trứng mới.
Như trên đã trình bày, trứng được t một phần ở buồng trứng một
phần ở ống dẫn trứng. Sự hình thành trứng là một quá trình phức tạp có sự
tham gia của hocmon. Tuy lòng đỏ trứng được hình thành ở buồng trứng,
nhưng hàm lượng protein của nó lại được tổng hợp ở các phần khác nhau của
cơ thể mà chủ yếu ở gan và thận. Mỡ của trứng được tổng hợp nên có nguồn


0,01 -
.
.
4 -
90 - , t
,
.

15
35 - 40
htophyl
.
1n. ,
.
Quá trình phát triển nang trứng gia cầm có những đặc điểm riêng biệt:
quá trình phát triển có hình thức ưu tiên lựa chọn phát triển từ nang nhỏ đến lớn
theo trình tự rụng trứng. Quá trình phát triển được chia ra làm hai tầng:
Tầng trước (Proliferation follicles) gồm:
(SWF): 1-3 mm; (LWF): 3-5 mm;
(SYF): 5-6 mm; (LYF): 6-9 mm.
Tầng sau (Preovulatory follicles) gồm: 6 (F6);
5 (F5); 4 (F4); 3 (F3);
2 (F2 (F1).

Trích đoạn Ảnh hưởng của PG đến các chỉ tiêu sinh lý máu Ảnh hưởng của PG đến các chỉ tiêu sinh hóa máu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status