kế toán nguyên vật liệu về sản xuất thức ăn chăn nuôi của công ty tnhh mtv thú y và thủy sản thế bình - Pdf 23

Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và kinh tế khu vực trong những
năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam cũng có nhiều thay đổi rõ nét. Ở nước ta hiện nay,
trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt của các Doanh nghiệp có cùng
lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp tư nhân cũng không nằm ngoài sự
cạnh tranh này. Để tồn tại và phát triển các Doanh nghiệp phải xây dựng phương án
sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là thu được
lợi nhuận cao. Để đạt được điều này, các chi phí sản xuất phải được tiết kiệm ở mức
tối đa, trên cơ sở hợp lý và có kế hoạch. Như chúng ta đã biết nguyên vật liệu là một
trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh; giá trị của vật liệu tiêu
hao cho quá trình sản xuất kinh doanh tạo nên giá trị của sản phẩm, chiếm tỷ trọng lớn,
chủ yếu. Chính vì vậy, việc quản lý vật liệu từ khâu thu mua đến khâu xuất dùng cho
quá trình sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm chi phí, hạ thấp giá
thành sản phẩm.
Để quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh cần phải sử dụng hàng loạt các công cụ
khác nhau; trong đó kế toán được coi là một công cụ quan trọng hữu hiệu. Kế toán về mặt bản
chất chính là một hệ thống đo lường, sử lý và truyền đạt những thông tin có ích cho các quyết
định kinh tế. Đối với nhà nước kế toán là công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng, kiểm tra
việc chấp hành ngân sách nhà nước; điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân. Đối với các
tổ chức Doanh nghiệp, kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động
kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn của Doanh nghiệp.
Hạch toán kế toán nói chung là công cụ để quản lý kinh tế thì hạch toán
nguyên vật liệu là công cụ đắc lực phục vụ cho công tác quản lý nguyên vật liệu. Việc
quản lý nguyên vật liệu là rất cần thiết, đòi hỏi kế toán nguyên vật liệu đưa ra các
thông tin chính xác, kịp thời. Việc tổ chức kế toán nguyên vật liệu một cách khoa học,
hợp lý có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý nguyên vật liệu, làm cho tình hình cung
cấp, sử dụng nguyên vật liệu được hợp lý, dẫn đến giảm chi phí và hạ thấp giá thành
của sản phẩm.
Xuất phát từ đặc điểm của nguyên vật liệu, vai trò của các kế toán vật liệu
trong các doanh nghiệp sản xuất, trên cơ sở các lý luận đã được học ở nhà trường và

cao chất lượng quản lý và khả năng sử dụng vật liệu một cách có hiệu quả.
- Về mặt thực trạng:
Qua kết quả khảo sát sơ bộ, sau khi tiến hành lập phiếu điều tra tại các phòng
ban của Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình cho thấy những vấn đề cấp
thiết đặt ra cần giải quyết trong phạm vi bộ phận kế toán tài chính của công ty đó là
công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu còn nhiều hạn chế về việc quản lý quy cách
vật tư hệ thống kho bãi, việc thu mua nguyên vật liệu của công ty vẫn để xảy ra một số
mất mát thiếu hụt vật tư, việc tiêu dùng vật tư và hao phí vật tư chưa đảm bảo đúng
hạn mức. Đó là những vấn đề bất cập liên quan đến công tác hạch toán và việc sử dụng
chi phí nguyên vật liệu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Về mặt giải pháp:
Bởi vậy, sự cần thiết cải tiến và hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nói chung,
kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất nói riêng luôn được đặt ra
với mục đích nhằm tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán sao cho phù hợp với yêu
SV : Ngô Thị Tố Loan 3 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
cầu và điều kiện của từng doanh nghiệp làm cơ sở cho các thông tin kế toán cung cấp
đảm bảo tính đúng đắn và đáng tin cậy.
2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng kế toán nguyên vật liệu để sản xuất thức ăn
chăn nuôi tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình và các giải pháp hoàn
thiện kế toán ngyuên vật liệu tại Công ty, từ đó xác lập mô hình tổ chức công tác kế
toán nguyên vật liệu trên cơ sở công ty đang áp dụng hệ thống hạch toán kế toán theo
hình thức Nhật Ký Chung.
- Tuyên bố vấn đề trong đề tài:
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán nguyên vật liệu, đồng thời
để áp dụng kiến thức đã có trong suốt thời gian học tập vào thực tế nhằm nâng cao
trình độ hiểu biết của bản thân, qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH MTV Thú y
và thuỷ sản Thế Bình, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài :“ Kế toán nguyên vật liệu tại

SV : Ngô Thị Tố Loan 5 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vị trí vai trò của nguyên vật liệu
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm.
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá
trình sản xuất. Nó có những đặc điểm rất riêng biệt so với các tư liệu sản xuất khác.
Do đặc điểm của nguyên vật liệu là chỉ tham gia một lần vào quá trình sản
xuất nên việc quản lý nguyên vật liệu đòi hỏi phải luôn luôn chặt chẽ. Do nguyên vật
liệu thuộc nhóm hàng tồn kho và là tài sản lưu động của Doanh nghiệp nên việc quản
lý nguyên vật liệu phải dựa trên cả hai chỉ tiêu số lượng ( hiện vật) và giá trị.
Về mặt hiện vật: nguyên vật liệu được tiêu dùng trực tiếp và tiêu hao toàn bộ
hoặc đổi hình thái ban đầu.
Về mặt giá trị: Giá trị của nguyên vật liệu được chuyển toàn bộ một lần vào
giá trị của sản phẩm mới tạo ra. Nó là yếu tố của vốn lưu động và được phục hồi lại
sau chu kỳ sản xuất kinh doanh.
1.1.2 Vị trí vai trò của nguyên vật liệu
- Ta được biết nguyên vật liệu là đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất. Là cơ sở vật chất để hình thành nên sản phẩm. Trong quá
trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu chỉ tham gia một
lần vào chu kỳ sản xuất; nó chuyển dịch một lần toàn bộ giá trị vào giá trị của sản
phẩm do nó tạo ra.
Nguyên vật liệu là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm, là yếu tố không thể
thiếu được trong quá trình sản xuất sản phẩm. Trong các Doanh nghiệp sản xuất,
nguyên vật liệu là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho. Nguyên vật liệu rất đa
dạng, phong phú về chủng loại, phức tạp về kỹ thuật. Trong quá trình sản xuất; vật liệu
luôn chuyển hoá, biến đổi về mặt hiện vật và giá trị.
Mặt khác, trong quá trình sản xuất nguyên vật liệu là yếu tố dễ bị lãng phí, mất

tích tình hình thực hiện định mức tiêu hao vật liệu trong sản xuất. Vì vậy, trong quá
trình sử dụng phải tổ chức tốt công tác ghi chép, phản ánh đúng tình hình sản xuất;
xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Khâu dự trữ, bảo quản: Phải xác định đúng định mức tối đa, tối thiểu trong dự trữ
nguyên vật liệu không gây ứ đọng để tăng vòng quay của vốn, hoạch gián đoạn trong
sản xuất kinh doanh vì thiếu vật liệu. Trong quá trình bảo quản phải bảo quản theo
đúng chế độ quy định, tổ chức tốt hệ thống kho tàng, bến bãi để vật liệu không bị thất
thoát, hư hỏng ảnh hưởng đến chất lượng của sản xuất.
SV : Ngô Thị Tố Loan 7 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Khâu kiểm kê: Kiểm tra định kỳ số nguyên vật liệu tồn kho để phát hiện kịp thời các
nguyên nhân thừa, thiếu nguyên vật liệu kém phẩm chất để đưa ra các biện pháp xử lý
cho phù hợp.
Tóm lại: Quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất là một
trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý tài sản của Doanh nghiệp.
1.3. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu.
Để thực hiện chức năng giám đốc và là công cụ quản lý kinh tế xuất phát từ
yêu cầu quản lý vật liệu, từ vị trí của kế toán trong quản lý kinh tế, quản lý Doanh
nghiệp, Nhà nước đã xác định nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong các Doanh
nghiệp sản xuất như sau:
- Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua vận
chuyển, bảo quản tình hình xuất nhập tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế của vật
liệu đã thu mua và nhập kho. Doanh nghiệp kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu
mua vật liệu về mặt số lượng, chủng loại, giá cả nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp
thời, đúng chủng loại vật liệu cho quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
- Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán phù hợp với phương pháp kế
toán hàng tồn kho của Doanh nghiệp để ghi chép phân loại tổng hợp số liệu và tình
hình hiện có và sự biến động tăng giảm của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh
cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu.

- Phế liệu: Là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý
tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài ( phôi bao, giấy vụn sắt, gạch…)
- Vật liệu khác: Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài những thứ kể trên như
bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc trưng…
1.4.2. Căn cứ vào nguồn nhập nguyên vật liệu được chia thành:
- Vật liệu nhập do mua ngoài.
- Vật liệu tự gia công chế biến hoặc thuê ngoài gia công chế biến.
- Vật liệu nhập do góp vốn liên doanh hoặc do tài trợ từ các tổ chức
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được từng nguồn nhập của
nguyên vật liệu để có những biện pháp sử lý.
1.5. Đánh giá nguyên vật liệu.
Đánh giá nguyên vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của chúng
theo những nguyên tắc nhất định.
SV : Ngô Thị Tố Loan 9 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
1.5.1. Mục đích đánh giá nguyên vật liệu
- Tổng hợp các nguyên vật liệu khác nhau để báo cáo tình hình nhập xuất tồn
kho nguyên vật liệu.
- Để kế toán viên thực hiện chức năng ghi chép bằng tiền mặt các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh.
1.5.2. Các nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu.
- Nguyên tắc giá phí (giá vốn)
- Nguyên tắc thận trọng
- Nguyên tắc nhất quán
- Nguyên tắc kịp thời
1.6. Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu.
1.6.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho
Trong doanh nghiệp nguyên vật liệu được nhập từ nhiều nguồn khác nhau, giá
thực tế của chúng được xác định trong từng trường hợp cụ thể. Đặc biệt luật thuế
GTGT áp dụng từ ngày 01/01/1999 việc tính giá nguyên vật liệu nhập kho sẽ được

giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho.
* VD: Mua một số nguyên vật liệu với tổng giá thanh toán 110 triệu trong đó thuế
VAT là 10 triệu, công ty đã thanh toán toàn bộ bằng tiền mặt. Như vây ta sẽ hạch toán
như sau:
Theo phương pháp khấu trừ:
Nợ TK 152: 100 triệu (không có thuế GTGT)
Nợ TK 133: 10 triệu
Có TK 111: 110 triệu
Theo phương pháp trực tiếp:
Nợ TK 152: 110 triệu
Có TK 111: 110 triệu
Việc tính đúng giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho là rất quan trọng đối
với mỗi doanh nghiệp, vì nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, nó
ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.6.2. Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho
Tuỳ thuộc đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý và
trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp giá thực tế đích danh.
- Phương pháp nhập trước - xuất trước.
- Phương pháp nhập sau - xuất trước.
- Phương pháp bình quân gia quyền
SV : Ngô Thị Tố Loan 11 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
* Phương pháp giá thực tế đích danh:
Theo phương pháp này, giá trị xuất kho của bất kỳ nguyên vật liệu nào cũng
được xác định đúng giá trị nhập kho của nó. Phương pháp này tuân thủ nguyên tắc phù
hợp của hạch toán kế toán. Chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế, giá trị
nguyên vật liệu xuất dùng cho sản xuất phù hợp với giá trị thành phẩm mà nó tạo ra.
* Phương pháp giá hạch toán.
Hạch toán nguyên vật liệu theo giá thực tế trong các doanh nghiệp có các

Theo phương pháp này ta cũng phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho
của từng lần nhập và giả thiết rằng nguyên vật liệu của doanh nghiệp sẽ được xuất kho
ngược với thứ tự nhập kho của chúng: tức là những nguyên vật liệu nào được nhập kho
SV : Ngô Thị Tố Loan 12 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
cuối cùng thì sẽ được xuất kho đầu tiên. Sau đó căn cứ số lượng xuất kho tính ra giá
thực tế xuất kho theo nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế của lần nhập sau cùng đối
với số lượng xuất kho thuộc lần nhập sau cùng, số còn lại được tính theo đơn giá thực
tế của các lần nhập trước đó.
* Phương pháp bình quân gia quyền.
Theo phương pháp này, giá thực tế của nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính
theo giá đơn vị bình quân.
Trong đó doanh nghiệp có thể chọn một trong ba cách tính giá đơn vị bình quân sau:
Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ.
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ =
Giá trị thực tế NVL tồn
đầu kỳ +
Giá trị thực tế NVL
nhập trong kỳ
Số lượng thực tế NVL tồn
đầu kỳ
+ Số lượng thực tế NVL
nhập trong kỳ
Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước
Giá đơn vị bình quân cuối
kỳ trước =
Giá trị NVL tồn đầu kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ
Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập xuất

+ Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa ( Mẫu 05- VT)
+ Bảng kê mua hàng ( Mẫu 06- VT)
+ Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ ( Mẫu 07- VT)
Ngoài các chứng từ mang tính bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của
Nhà nước, trong các Doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng
dẫn sau:
Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (mẫu 04 – VT)
Biên bản kiểm nghiệm vật tư ( mẫu 05 – VT)
Phiếu báo cáo vật tư còn lại cuối kỳ (mẫu 07 – VT)
……………………
Các chứng từ khác tuỳ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể từng Doanh
nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế, hình thức sở hữu khác nhau
mà áp dụng sao cho thuận tiện, khoa học đối với Doanh nghiệp mình.
2.1.2. Sổ sách kế toán sử dụng
Sổ kế toán dùng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế trên cơ sở chứng từ kế toán
hợp lý, hợp pháp. Sổ kế toán chi tiết vật liệu phục vụ cho việc hạch toán chi tiết các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến nguyên vật liệu.
Tuỳ thuộc vào phương pháp hạch toán chi tiết áp dụng trong Doanh nghiệp mà sử
dụng các sổ ( thẻ) kế toán chi tiết sau:
- Số (thẻ) kho
- Số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu
- Số đối chiếu luân chuyển
- Sổ số dư
………………….
SV : Ngô Thị Tố Loan 14 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Ngoài các sổ chi tiết nêu trên, có thể mở các bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng
kê luỹ kế nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu phục vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết
được đơn giản, nhanh chóng kịp thời.
2.2. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu và ưu, nhược điểm của

- Điều kiện áp dụng: Thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có chủng loại
vật tư phong phú đa dạng, mật độ nhập – xuất – tồn lớn, hệ thống kho tàng phân tán,
kế toán không đủ điều kiện thực hiện đối chiếu, kiểm tra thường xuyên.
- Nguyên tắc hạch toán.
Tại kho: Thủ kho vẫn mở thẻ kho để theo dõi về mặt số lượng đối với từng danh điểm
vật tư như phương pháp thẻ song song.
Tại phòng kế toán: Không mở thẻ kế toán chi tiết vật tư mà mở sổ đối chiếu luân
chuyển để hạch toán số lượng và giá trị của từng danh điểm vật tư theo từng kho. Sổ
đối chiếu luân chuyển ghi mỗi tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các
chứng từ nhập – xuất phát sinh trong tháng của từng danh điểm vật tư, mỗi danh điểm
vật tư chỉ được ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng đối chiếu với số lượng vật tư trên sổ
đối chiếu luân chuyển với thẻ kho đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp.
- Ưu điểm: Giảm bớt số lần ghi trùng lặp và khối lượng ghi chép của kế toán tiện lợi
trong việc đối chiếu kiểm tra sổ sách, cung cấp thông tin về tình hình nhập – xuất – tồn
của từng danh điểm nguyên vật tư để kế toán xác định được trọng tâm quản lý đối với
những loại vật liệu có độ luân chuyển lớn.
- Nhược điểm: Vẫn còn trùng lặp trong ghi chép, vì công việc dồn vào cuối tháng nên
việc cung cấp thông tin chưa được kịp thời.
2.2.3. Phương pháp sổ số dư (Sơ đồ 1c phần phụ lục).
- Điệu kiện áp dụng: Tương tự như phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển,
phương pháp này vẫn thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có chủng loại vật tư
phong phú đa dạng, mật độ nhập – xuất – tồn lớn, hệ thống kho tàng phân tán, kế toán
không đủ điều kiện thực hiện đối chiếu, kiểm tra thường xuyên.
- Nguyên tác hạch toán.
Tại kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập – xuất – tồn của từng
loại nguyên vật liệu. Định kỳ, sau đó ghi thẻ kho, thủ kho tập hợp toàn bộ chứng từ và
nộp cho kế toán. Sổ số dư được mở cho từng kho và dùng cho cả năm.
Tại phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo từng kho. Định kỳ kế toán nguyên vật
liệu phải xuống hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận
chứng từ. Sau đó tính giá theo từng chứng từ theo giá hạch toán, tổng cộng số tiền và

+ TK 1528 Vật liệu khác
- Tài khoản 151: “Hàng mua đang đi đường”dùng để phản ánh giá trị vật tư,
hàng hoá mà Doanh nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán, nhưng chưa về nhập kho.
- Tài khoản 331: “Phải trả người bán” Dùng để phản ánh mối quan hệ thanh
toán giữa Doanh nghiệp với người bán, người nhận thầu về các khoản vật tư, hàng
hoá, lao vụ dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết.
SV : Ngô Thị Tố Loan 17 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
- Tài khoản 621: “ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ” Dùng để phản ánh chi phí
nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
- Tài khoản 627: “ Chi phí sản xuất chung” Dùng để phản ánh chi phí phục vụ
sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ dịch vụ.
Tài khoản 641: Chi phí bán hàng, Tài khoản 642: Chi phí quản lý Doanh nghiệp, Tài
khoản 142: Chi phí trả trước, Tài khoản 214: “ Xây dựng cơ bản dở dang”
Ngoài ra còn sử dụng các tài khoản như TK 112, TK141,TK138…
* Trình tự luân chuyển chứng từ:
- Trình tự luân chuyển chứng từ nhập vật tư: Khi xuất hiện nhu cầu nhập vật
tư, bộ phận có yêu cầu lập phiếu yêu cầu, phiếu yêu cầu được gửi lên phòng mua hàng
hoặc phòng cung ứng vật tư. Hàng được người bán giao cho thủ kho hoặc nhân viên
phòng mua hàng đưa về. Căn cứ vào giấy báo nhận hàng, nếu xét thấy cần thiết khi
hàng về tới nơi, có thể lập bảng kiểm nghiệm vật liệu thu mua cả về số lượng, chất
lượng, quy cách. Kết quả kiểm nghiệm sẽ được ghi vào “ biên bản kiểm nghiệm vật
tư”. Sau đó bộ phận cung ứng lập “ Phiếu nhập kho” vật tư làm hai liên trên cơ sở hoá
đơn giấy báo nhận hàng và biên bản kiểm nhận rồi giao cho thủ kho một liên. Thủ kho
nhập hàng và ghi số lượng thực nhập và ký vào phiếu nhập kho, sau đó căn cứ vào
phiếu nhập kho ghi vào thẻ (sổ) kho. Người bán giao hoá đơn bán hàng hoặc hoá đơn
GTGT cho nhân viên mua hàng ký vào hoá đơn. Phiếu nhập kho, hoá đơn và hợp đồng
được chuyển cho kế toán hàng tồn kho. Kế toán hàng tồn kho căn cứ phiếu nhập kho;
hoá đơn để ghi vào sổ kế toán có liên quan. Sau đó toàn bộ chứng từ mua vật tư được
chuyển cho các bộ phận kế toán liên quan để ghi vào sổ kế toán.

Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản khác liên quan như: TK152, TK153,
TK331, TK111, TK112, TK141, TK333, TK138, TK411, TK621, TK627
3.2.2. Phương pháp và sơ đồ của kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm
kê định kỳ (Sơ đồ 3 phần phụ lục)
SV : Ngô Thị Tố Loan 19 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT
LIỆU TẠI CÔNG TY TNHH MTV THÚ Y VÀ THUỶ SẢN THẾ BÌNH
2.1. GIỚI THIỆUCHUNG VỀ CÔNG TY TNHH MTV THÚ Y VÀ THUỶ SẢN
THẾ BÌNH.
2.1.1. Sự hình thành và phát triển Công ty.
Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình được thành lập theo quyết định
thành lập số 2102/QĐ - UB ngày 14 tháng 06 năm 2000 của UB tỉnh Hưng Yên.
Tên giao dịch: Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình – (TNHH),
Trụ sở chính: Thôn Đình Dù, xã Đình Dù, Huyện văn Lâm, Hưng Yên
Điện thoại: 0321.3993260, Fax: 0321.3993260
Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình có tư cách pháp nhân, có
các quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động
kinh doanh, có con dấu, có tài sản và các quỹ tập trung, được mở tài khoản tại Ngân
hàng nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo điều lệ công ty.
Công ty được quản lý bởi Hội đồng thành viên và được điều hành bởi Giám
đốc, với tư cách là cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp theo
Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của Pháp luật.
Nguồn vốn của Công ty từ năm 2000 đến nay được bổ sung dần từ các thành
viên, từ lợi nhuận. Được sự ủng hộ nhiệt tình của các ban ngành Công ty TNHH MTV
Thú y và thuỷ sản Thế Bình đã đạt được những thành quả nhất định, Công ty đã chiếm
lĩnh được thị trường trong nước và bước đầu làm quen với thị trương nước ngoài. Mới
đầu chỉ có một dây truyền sản xuất năm 2000 đến nay Công ty đã có thêm 2 dây
truyền và dự định sẽ lắp đặt thêm 1 dây truyền nữa vào cuối năm 2012 này. Hiện nay
Công ty có 414 người trong đố có 46 người đạt trình độ Đại học và Cao đẳng còn lại là

Sau một thời gian nhất định máy đã nghiền trộn các loại nguyên liệu thành hỗn hợp.
Lúc này tổ thành phẩm sẽ đảm nhiệm vai trò đóng thành các bao hỗn hợp trên. Tổ cuối
cùng trong toàn quy trình sản xuất là tổ ra bao, tổ này có trách nhiệm đưa bao thành
phẩm vào kho của phân xưởng.
2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất của Công ty (Sơ đồ 5 phần
phụ lục).
Theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường bộ máy quản lý phải thực sự năng
động, sáng tạo hoạt động đem lại hiệu quả cao. Công ty sản xuất thức ăn gia súc Minh
Tâm đã không ngừng đổi mới, từng bước cải tiến bộ máy quản lý và phương pháp làm
việc. Bộ máy hoạt động của công ty ngày càng hoàn thiện hơn.
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo hình thức trực tuyến chức năng
nghĩa là các phòng ban của Công ty có liên hệ mật thiết với nhau và chịu sự quản lý
SV : Ngô Thị Tố Loan 21 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
của Hội đồng thành viên gồm: một Giám đốc, hai Phó giám đốc. Hội đồng thành viên
của Công ty có nhiệm vụ điều phối hoạt động giữa các phòng ban để quá trình sản xuất
kinh doanh được tiến hành đều đặn và đạt hiệu quả cao nhất: Giám đốc là người chịu
trách nhiệm toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, đại diện cho Công ty về mặt pháp
lý với các tổ chức kinh tế khác và đối với Nhà nước. Giám đốc cùng hai Phó giám đốc
và các phòng ban điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và đề ra những quyết định
những hướng đi có tính chất chiến lược đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Công ty.
* Nhiệm vụ các phòng ban chức năng:
+ Phòng kế hoạch: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh, phối hợp
với các phòng ban khác lập ra kế hoạch cho Công ty. Tổng hợp số liệu phân tích báo
cáo cho Giám đốc, đề xuất ý kiến hoàn thiện quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty.
+ Phòng hành chính: Chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên, phụ trách tiếp
khách, và làm một số thủ tục hành chính khác như cung cấp kịp thời đầy đủ văn phòng
phẩm cho công ty.
+ Phòng kinh doanh: Nghiên cứu nhu cầu khai thác và tìm hiểu thị trường. Căn cứ vào
tình hình sản xuất kỳ trước qua phân tích để xây dựng kế hoạch sản xuất cho kỳ mới.

toàn bộ công tác kế toán được thực hiện tại phòng tài chính kế toán từ khâu ghi chép
ban đầu đến khâu tổng hợp lập báo cáo tài chính.
Trong Công ty, phòng kế toán tài chính là một trong những phòng quan trọng
nhất với chức năng quản lý về tài chính, phòng kế toán đã góp phần không nhỏ trong
việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty. Phòng kế toán tài chính là
trợ lý đắc lực cho Ban lãnh đạo của Công ty trong việc đưa ra các quyết định, là người
ghi chép thu thập các thông tin kinh tế tài chính phát sinh trong toàn Công ty. Hiện nay
các nhân viên trong phòng kế toán đều được đào tạo có trình độ đại học, cao đẳng phù
hợp với yêu cầu thực tế của Công ty. Bộ máy kế toán đã xây dựng, bố trí phù hợp với
trình độ từng người,từng công việc. (Sơ đồ 6 phần phụ lục).
2.1.4.1. Tài khoản sử dụng
TK 152, TK 621, TK 641, TK 642, TK331.Ngoài ra Công ty còn sử dụng các
tài khoản khác như: TK 151 (hàng đi đường chưa về), TK 141 (tạm ứng), TK 111, TK
112, TK 627, TK 331, TK 142 (chi phí trả trước), Tk 622 (chi phí nhân công trực tiếp)

2.1.4.2. Hệ thông sổ (Sơ đồ 7 phần phụ lục).
Căn cứ vào điều kiện thực tế sản xuất kinh doanh, điều kiện trang thiết bị máy
tính phục vụ cho công tác kế toán. Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật Ký Chung.
áp dụng sổ sách theo chế độ chứng từ kế toán quy định 15/2006/QĐ-BTC 20/03/2006
của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
SV : Ngô Thị Tố Loan 23 Lớp : K6_HK11A
Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán
2.1.4.3. Phương pháp đánh giá hàng tồn kho của Công ty.
Công ty áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên. Trị giá vốn vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất kho được tính theo đơn giá
thực tế bình quân đầu và cuối mỗi tháng. Tại mỗi kho có một thủ kho có nhiệm vụ bảo
quản hàng hoá trong kho và theo dõi việc xuất nhập hàng trên thẻ kho. Cuối tháng thủ
kho mang thẻ kho lên phòng tài vụ để theo dõi đối chiếu về số lượng của số hàng hoá
nhập - xuất - tồn.
2.2. THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY

toán nguyên vật liệu theo dõi, phản ánh tình hình hiện có và sự biến động của từng loại
nguyên vật liệu từ đó giúp cho kế toán và lãnh đạo Công ty quản lý nguyên vật liệu
một cách khoa học.
2.2.3. Đánh giá nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế
Bình.
Hiện nay nguyên vật liệu của Công ty sử dụng để phục vụ sản xuất phải thu
mua từ nhiều nguồn khác nhau, Công ty sử dụng giá thực tế để phản ánh, ghi chép trên
sổ kế toán:
2.2.3.1.Tính giá nguyên vật liệu nhập kho:
Tuỳ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khác nhau mà Công ty sử dụng
đánh giá thực tế để hạch toán:
Đối với nguyên vật liệu nhập khẩu:
Giá thực tế NVL
nhập kho
= Giá ghi trên
hoá đơn
+ Thuế nhập khẩu
(nếu có)
+ Chi phí vận chuyển
bốc dỡ
VD: Ngày 20/10/2011 Công ty đã mu cám mì của Inđônêxia theo hoá đơn số 002842
với giá ghi trên hoá đơn là 146.030.000
đ
, thuế nhập khẩu 5%. Chi chí vận chuyển, bốc
xếp là 2.130.000
đ

Vậy trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập kho là:
146.030.000 + (146.030.000 X 5%) + 2.130.000 = 155.461.500
đ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status