Văn học việt nam thế kỷ 20 - Pdf 23


Trang 1

VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX
1. Văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX- 1930
1.1. Những tiền đề lịch sử, x ã hội và tư tưởng, thẩm mỹ của giai đoạn văn học đầu thế kỷ
XX đến năm 1930
a. Tình hình chính tr ị, kinh tế trong nước
Ðầu thế kỉ XX, Pháp c ơ bản đã thực hiện xong công cuộc b ình định trên đất nước ta
và chuyển sang khai thác thuộc địa, xây dựng trật tự mới. Kể từ sau cái chết của Phan Ðình
Phùng (1896), phong trào ch ống Pháp theo ngọn cờ Cần V ương xem như đ ã thất bại hoàn
toàn. Cả bộ máy thống trị của nh à nước phong kiến từ triều đ ình đến tỉnh, huyện, l àng, xã
đều trở thành tay sai cho b ọn xâm lược. Mọi quyền h ành đều nằm trong tay Pháp. Bộ máy
cai trị của Pháp đ ược tổ chức lại theo lối hiện đại h ơn, chặt chẽ hơn, có quyền lực hơn và
phá dần thế tự trị làng xã ngày trước.
Trong bối cảnh chính trị phức tạp v à đen tối như thế, thanh niên Việt Nam cảm thấy
bi quan tuyệt vọng vô cùng. Họ quyết định bỏ lối học từ ch ương, đi tìm đến những tri thức
hiện đại mà họ biết được qua sách vở và báo chí nước ngoài được bí mật đưa vào Việt nam
lúc này. Trong s ố đó tiêu biểu là tân thư, tân văn. C ũng từ sách vở n ước ngoài, họ được tiếp
xúc với các luồng tư tưởng tiến bộ, hiểu đ ược tình hình cách m ạng trên thế giới từ đó chọn
cho mình một con đường cứu nước khác trước.
Về kinh tế, đầu thế kỉ XX nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu. Thực dân
Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân, kéo n ước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa t ư bản
nhưng không đư ợc công nghiệp hoá m à lại biến thành thị trường tiêu thụ cho Pháp.
b. Tình hình xã hội

Trang 2

Xã hội nước ta trước khi Pháp xâm l ược là một xã hội phong kiến ph ương Ðông. Khi
có mặt thực dân Pháp tr ên đất nước thì mọi cái đã thay đổi. Kinh tế hàng hoá kích thích s ự
phát triển của công th ương nghiệp làm cho thành th ị phát triển, l àm xuất hiện nhiều nhu

thị thì nó bắt đầu va chạm với ý thức t ư sản vừa mới xuất hiện. Tuy nhi ên, phạm vi còn nhỏ
hẹp, chỉ giới hạn trong quan hệ đạo đức gia đình và tình c ảm cá nhân.
Vào đầu thế kỉ XX, giai cấp t ư sản ra đời, tư tưởng tư sản cũng xuất hiện. X ã hội Việt
Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ từ ý thức hệ phong kiến sang ý thức hệ t ư sản. Ở
giai đoạn 30 năm đầu thế kỉ, ý thức hệ t ư sản chưa đủ sức làm thay đổi nền văn hoá phong
kiến Việt Nam nh ưng trong một mức độ nhất định nó đ ã góp phần tạo ra những nhân tố
thúc đẩy cho sự đổi mới ho àn toàn ở giai đoạn sau, giai đoạn 1930 – 1945.
Trong những năm 20, 30, ý thức vô sản đ ã bắt đầu xuất hiện. Nh ưng ảnh hưởng của
ý thức hệ vô sản chủ yếu mới chỉ l à trên đời sống tư tưởng chính trị. Ðối với văn học, nhất
là văn h ọc giai đoạn n ày, dĩ nhiên nó có ảnh hưởng, hơn nữa còn tạo ra những th ành tựu
đáng kể nhưng chưa có điều kiện để phát triển.
Trước thế kỉ XX, nền văn hoá n ước ta là nền văn hoá phong kiến mang đậm bản sắc
Ðông Nam Á. Nhìn chung, n ền văn hoá Việt Nam đ ược thai nghén và trưởng thành trong cái
nôi văn hoá Ðông Nam Á. Tư tưởng phương Ðông đã ăn sâu vào phong t ục, tập quán và
tâm khảm của con ng ười. Lối sống theo l àng xã, họ tộc đã tạo nên thế tự trị lâu đời cho
người Việt Nam. Con ng ười Việt Nam có nếp sống chuẩn mực từ trong cách ăn mặc cho đến

Trang 4

việc ứng xử. Thế m à đến đầu thế kỉ XX , sự du nhập của văn hoá ph ương Tây vào Việt Nam
đã làm thay đổi những giá trị cổ truyền của dân tộc. Văn hoá Việt Nam chuyển dần sang
nền văn hoá hiện đại chịu ảnh h ưởng của văn hoá ph ương Tây.
Trước kia ở Việt Nam tồn tại ba tôn giáo đ ược du nhập từ n ước ngoài. Ðó là Phật
giáo, Nho giáo và Ð ạo giáo. Kitô giáo vốn đ ã xuất hiện ở Việt Nam từ các thế kỉ tr ước (XVI -
XVII), đến giai đoạn 1900 - 1930 đã có nhiều ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của ng ười
Việt Nam Chữ quốc ngữ: Chữ quốc ngữ ra đời từ thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XX, các sĩ phu yêu
nước trong phong tr ào Duy Tân nh ận thấy những ưu điểm của chữ quốc ngữ đ ã cổ động sử
dụng chữ quốc ngữ. Việc đổi mới chữ viết đ ã mang nhiều ý nghĩa lớn, nó không chỉ tạo điều
kiện dễ dàng trong vi ệc học, viết, đọc m à còn cung cấp phương tiện hiện đại cho nền văn
học mới.

Ðà, Hoàng Ngọc Phách. Ðấy là những sáng tác đ ã gợi lên tiếng lòng sâu kín, nh ững nỗi
buồn đau và những mơ ước hảo huyền của lớp ng ười đang bi quan, chán nản tr ước cuộc
sống. Sự xung đột giữa lễ giáo phong kiến cũ v à chủ nghĩa cá nhân bắt đầu xuất hiện.
d. Vấn đề thẩm mĩ văn ch ương
Giai đoạn 1900 - 1930, tình hình chính tr ị xã hội Việt Nam có nhiều biến động làm
cho môi trường thẩm mĩ cũng thay đổi. Lối sống t ư sản đã tấn công quyết liệt vào xã hội
phong kiến Việt Nam, c ùng với nó là sự du nhập ồ ạt của nền văn hoá ph ương Tây. Trạng
thái tâm lí c ủa con người thay đổi trước những biến động xã hội, cho nên ý thức thẩm mĩ

Trang 6

của con người tất yếu cũng đổi thay. Quan niệm về cái đẹp của cuộc sống, của con ng ười,
cũng như cái đẹp trong nghệ thuật đ ã có nhiều thay đổi.
Ðối với sáng tác văn ch ương, trước đây, người ta quan niệm cái đẹp toát l ên từ sự
hài hoà cân đ ối của một bài thơ Ðường luật, từ sự ho àn chỉnh của phép đối, của cách gieo
vần Giờ đây, những yếu tố đó đang chịu sự lấn át dần bởi chất phóng khoáng , tự do vừa
tìm thấy được từ văn học ph ương Tây.
1.2. Vài nét chính v ề văn học giai đoạn này
a. Nền văn học có sự phân hoá
Phân hoá trong l ực lượng sáng tác: Lực lượng sáng tác của văn học viết thời trung
đại chủ yếu là nhà nho, nh ững trí thức phong kiến. Ðầu thế kỷ XX, trong một giai đoạn lịch
sử đầy biến động, lực l ượng sáng tác cũng phân hóa phân hoá sâu sắc:
- Nhiều nhà nho vì yêu n ước thương dân, không cam tâm làm nô l ệ đã tiếp tục đứng
lên chống Pháp như Phan Bội Châu, Ngô Ðức Kế, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền,
Huỳnh Thúc Kháng Họ vừa họat động chính trị vừa sáng tác văn ch ương. Bằng những
cách tân ngh ệ thuật họ nhiệt t ình th ể hiện những vấn đề mới của xã hội, cuộc sống v à con
người, ý thức hệ phong kiến không c òn chi phối tư tưởng của họ một cách nặng nề nh ư
trước nữa.
Ðến giai đoạn thoái tr ào của phong trào cách mạng, các nhà nho cảm thấy buồn
chán, bi quan. H ọ lại trở về với bản chấ t của nhà nho trước kia: sống h ướng nội, thích bộc


Trang 8

một đặc trưng chung, bởi nó được tạo nên bằng một ph ương pháp sáng tác ch ung, thể hiện
qua một số yếu tố: ngôn ng ữ, thể loại, kết cấu, nhân vật
Ðầu thế kỉ XX, ng ười sáng tác không c òn tuân thủ theo một hệ thống ph ương pháp
sáng tác duy nh ất ấy nữa. T ình hình đó đã tạo ra tình trạng phân hóa không thể tránh khỏi
trong phương pháp sáng tác.
- Một số nhà nho đã chọn con đường cách tân nghệ thuật sáng tác của nh à nho. Họ
vẫn theo phương pháp sáng tác c ũ nhưng có những đổi mới đáng kể.
- Một số người thuộc lực l ượng trí thức tân học th ì chọn con đường học theo
phương Tây để sáng tác. Họ bắt đầu từ công việc dịch thuật, qua phỏng tác v à cuối cùng là
sáng tác.
Trong lịch sử văn học Việt Nam đây l à giai đoạn duy nhất có hiện t ượng đan xen hai
yếu tố cũ và mới thể hiện trong sáng tác của một tác giả, có khi trong c ùng một tác phẩm.
Hai yếu tố cũ và mới được kết hợp nhuần nhuyễn v à phổ biến trên khắp các thể loại tạo ra
những giá trị đặc biệt, không thể xếp v ào kho tàng văn h ọc trung đại, mà cũng chưa thể
công nhận đó là một tác phẩm của nền văn học hiện đại.
d. Độc giả văn chương
Có thể nói như sau về các thành phần trong nền văn học trung đại: lực l ượng sáng
tác (chủ yếu là nhà nho) cũng chính là công chúng. Đ ầu thế kỷ XX, lớp công chúng cũ vẫn
còn. Lớp công chúng mới, bao gồm nhiều loại ng ười khác nhau đang sống trong các đô thị
chịu ảnh h ưởng của văn hóa ph ương Tây, của cuộc sống mới, có nhu cầu thị hiếu mới, đ òi
hỏi sự đổi mới của văn học. Quá tr ình này đặt ra cho các nhà văn nhiệm vụ phải thay đổi
quan niệm sáng tác, ph ương pháp sáng tác phù h ợp với thời đại mới. Hai loại công chúng
này mang trạng thái tâm lý khác nhau, sống trong hai điều kiện khác nhau, c ùng tồn tại

Trang 9

song song trong xã h ội thực dân nửa phong kiến đầu thế kỷ XX, trong cái thế một b ên đã ít

nhà nho trước kia. Tiêu bi ểu nhất là thơ văn yêu nư ớc và cách mạng. Còn nhiều tác phẩm
thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng h ình th ức nghệ thuật cũ.
- Từ năm 1920 - 1930 (bước 2): Văn học ở giai đoạn n ày không ch ỉ đổi mới về nội
dung mà cả nghệ thuật cũng đ ã khác trước rất nhiều. Văn học đ ã mang tính hiện đại rõ rệt
nhưng yếu tố trung đại vẫn c òn tồn tại xen kẽ, khá phổ biến từ nội dung đến h ình th ức. Ví
dụ : "Tố Tâm" - Hoàng Ngọc Phách, các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, th ơ Tản Ðà đều có
mang đặc điểm nói trên.
Mặc dù đây chỉ là chặng đường đầu của tiến tr ình hiện đại hóa văn học Việt Nam
nhưng nó cũng gặt hái được những kết quả đáng kể, tạo c ơ sở vững chắc cho chặng đ ường
tiếp theo. Trước hết, nó đã đóng góp tích c ực vào công cu ộc hiện đại hóa văn học bằng sự
thay đổi hệ ý thức trong văn học theo h ướng tiên tiến. Nó cũng có vai tr ò trong việc đổi mới
thi pháp văn h ọc. Mặt khác, công cuộc hiện đại hóa văn ch ương ở giai đoạn này đã đưa nền
văn học nước ta đi vào quỹ đạo của nền văn học thế giới.
1.4. Các xu hướng văn học
a. Văn thơ yêu nước
Lực lượng sáng tác chủ yếu của d òng văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn
1900 - 1930 là các nhà có tư tư ởng tiến bộ. Họ đ ược tiếp nhận các luồng t ư tưởng tiến bộ
từ nước ngoài vào, thông qua sách báo, tiêu bi ểu là tân thư và tân văn. H ọ sáng tác văn

Trang 11

chương để phục vụ cho hoạt động chính trị: Phan Bội Châu, Nguyễn Th ượng Hiền, Nguyễn
Quyền,
Văn học yêu nước đã nêu lên quan ni ệm mới về đất n ước, về yêu nước. Nước không
còn là của vua, vua và nước không còn là một, nói đến nước là nói đến non sông, n òi giống,
nói đến dân tộc, đồng b ào. Xuất phát từ quan niệm mới về đất n ước, yêu nước các tác giả
đã đi đến khẳng định quyền l àm chủ của người dân trong xã hội, đồng thời cũng khẳng định
vai trò của người dân trong sự nghiệ p cứu nước.
Trong thơ văn yêu nư ớc đầu thế kỷ XX, vấn đề y êu nước còn gắn liền với vấn đề
cách mạng. Ở đây song song với nội dung k êu gọi chống Pháp, c òn có nội dung cải cách x ã

vừa tiếp nhận nghệ thuật hiện đại của nền văn học ph ương Tây. Các tác gi ả đã tiến hành
một cuộc cách tân trong nghệ thuật, lấy truyền thống làm cơ sở. Trong lịch sử văn học Việt
Nam, đây là giai đo ạn đặc biệt có hiện t ượng đan xen giữa hai h ình thức nghệ thuật: nghệ
thuật của văn học trung đại v à nghệ thuật của văn học hiện đại, nhiều tác phẩm mang tính
chất trung gian, vừa có ch ất hiện đại vừa mang dáng dấp truyền thống.
1.5. Các tác gi ả lớn của Văn học Việt Nam giai đoạn đầu Tk XX - 1930
Hoàng Ngọc Phách
Tiểu thuyết duy nhất của nh à văn là "Tố Tâm" đã thể hiện sự kết hợp hai yếu tố cũ
và mới trên cả hai phương diện nội dung v à nghệ thuật. Ông đ ã để cho hai nhân vật chính
Tố Tâm và Ðạm Thủy giằng co giữa hai con đ ường chạy theo t ình yêu t ự do hay chấp nhận

Trang 13

lễ giáo phong kiến. Với "Tố Tâm", ng ười tuân thủ đạo đức truyền thống đ ã không có h ạnh
phúc trong ch ế độ đại gia đ ình phong ki ến, mà người muốn sống hết m ình cho tình yêu t ự
do cũng không thể đón nhận hạnh phúc trong t ình yêu. . "T ố Tâm" là một tác phẩm ti êu
biểu thể hiện tính giao th ời của văn học giai đoạn n ày.
Văn chương Hồ Biểu Chánh
Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh phản ánh nhiều mảng hiện thực khác nhau trong x ã hội
Nam Bộ ở những năm đầu thế kỉ XX. Hiện thực cuộc sống đ ược đưa vào trong tác ph ẩm của
ông thể hiện rõ tính chất chân thật, cụ thể v à đa dạng. Ông không chỉ viết về th ành thị mà
còn đi sâu vào cu ộc sống ở nông thôn.
Ở nông thôn: Hồ Biểu Chánh đ ã đề cập đến tầng lớp thống trị ở nông thôn : ông đ ã
xây dựng hình ảnh những ông địa chủ độc ác, tham lam, t ìm m ọi cách để ức hiếp bóc lột
dân lành
Bên cạnh địa chủ, ở nông thôn Nam bộ thời đó còn có một lực lượng không nhỏ bao
gồm hương chức, hội tề, những kẻ có quyền thế ở nông thôn chuy ên cấu kết nhau để ức
hiếp dân lành vô tội.
Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh c òn đề cập đến tầng lớp dân ngh èo ở nông thôn : Họ bị
bóc lột về kinh tế, làm lụng vất vả quanh năm nh ưng vẫn phải sống trong cảnh đói ngh èo vì

Theo quan niệm của Phan Bội Châu nhiệm vụ cứu n ước là rất quan trọng v à cấp
bách trong hoàn c ảnh hiện tại. Tuy nhi ên, vấn đề cải cách x ã hội, tiến lên xây dựng một chế

Trang 15

độ mới, chế độ dân chủ t ư sản, theo gương Nhật Bản cũng là rất cần thiết, phải thực hiện
ngay trong thời điểm bấy giờ. Phan Bội Châu đ ã đưa ra quan niệm tiến bộ về ng ười dân
trong xã h ội. Ông khẳng định đất n ước là của dân, đấu tranh ch ống giặc cứu n ước là để bảo
vệ nòi giống, đồng bào Việt Nam.
Ông đã nêu lên mẫu người lý tưởng trong xã hội, đó là người yêu nước, có lòng căm
thù giặc, dám xả thân v ì đất nước. Người anh hùng xuất hiện trong sáng tác của Phan Bội
Châu là những con người bình thường nhưng làm được việc phi th ường. Với ông không có
sự phân biệt nam nữ, đẳng cấp, tôn giáo, gi àu nghèo trong quan ni ệm về người anh
hùng.
Tản Đà
Tư tưởng yêu nước trong thơ Tản Đà: Tản Ðà là một nhà nho đứng ngoài cuộc đấu
tranh cứu nước của dân tộc lúc bấy giờ. Tuy nhi ên, ở ông vẫn tiềm t àng một tình yêu quê
hương đất nước thiết tha. Tản Ðà luôn có ý thức lo đời và mong muốn được giúp đời.
Trước hoàn cảnh hiện tại của đất n ước, Tản Ðà nhận thấy cần phải có sức mạnh của
đoàn kết mới có thể xoay trở được tình thế. Tuy ông không tham gia v ào cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc nh ưng trong ông vẫn thường trực một nỗi lo lắng muốn giúp ích cho đời.
Nỗi lo lắng ấy thể hiện ở ý thức muốn đem t ài văn chương c ủa mình ra giúp đời, muốn làm
cho văn chương của mình "Có bóng mây h ơi nước đến dân x ã" (Giấc mộng con I).
Lãng mạn thoát ly là khuynh hướng chủ yếu trong th ơ văn Tản Ðà. Ông xuất thân từ
tầng lớp phong kiến đang suy thoái. Bản thân sống ở th ành thị, gần gũi với tầng lớp tiểu t ư
sản, đứng ngoài các cuộc đấu tranh của dân tộc, cuộc đời lại trải qua nhiều thất bại, n ên tư
tưởng trở nên tiêu cực thoát ly. Cái tôi l ãng mạn Tản Ðà có tư tưởng thoát ly vẫn c òn bị chi
phối bởi ý thức hệ phong kiến: T ư tưởng thoát ly của Tản Ðà gắn liền với ý t hức muốn đứng

Trang 16

cách mạng Việt Nam d ành được thắng lợi, th ành lập nước Việt Nam dân chủ cộng h òa.
2.2. Các giai đo ạn phát triển
a. Thời kỳ 1930- 1935
Mở đầu là sáng tác thơ văn g ắn liền với cao tr ào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao
là Xô Viết Ngệ Tỉnh.
Bộ phận văn học t ư sản, tiểu tư sản thời kỳ n ày là văn h ọc lãng mạn, bao gồm: tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn và Thơ mới.
Xu hướng văn học phê phán có t ừ trước 1930 đến thời kỳ n ày phát triển hơn và xác
định rõ ràng hơn về phương pháp, thể tài.
b. Thời kỳ 1936- 1939
Văn học vô sản, đặc biệt l à thơ cách mạng phát triển nhanh chóng. Một loạt nh à thơ
xuất hiện: Sóng Hồng, L ê Ðức Thọ, Xuân Th ủy, Tố Hữu, Văn học cách mạng thời kỳ n ày
đánh dấu một bước tiến triển mới mẻ của văn học vô sản theo h ướng hiện đại hóa.
Văn học hiện thực ph ê phán phát tri ển mạnh mẽ v à đạt được nhiều thành tựu xuất
sắc:
- Vấn đề nông dân, nông thôn đ ược đặt ra trong nhiều tác phẩm nh ư: “Bước đường
cùng” của Nguyễn Công Hoan, “Vỡ đ ê” của Vũ Trọng Phụng, “Tắt đ èn” của Ngô Tất Tố,…
- Vấn đề phong kiến, thực dân đ ược nêu lên một cách gay gắt trong một loạt các tác
phẩm: “Số đỏ”, “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng, “Tắt đ èn” của Ngô Tất Tố,…
Tác phẩm hiện thực ph ê phán không d ừng lại ở truyện ngắn, phóng sự m à phát triển

Trang 18

mạnh mẽ thể tài tiểu thuyết. Ðây chính là m ột thành công lớn của văn học hiện thực ph ê
phán thời kì này
Văn học lãng mạn tư sản, tiểu tư sản vẫn tiếp tục phát triển, phân hóa theo các
hướng khác nhau:
Bên cạnh chủ đề cũ chống lễ giáo phong kiến v à đề cao hạnh phúc cá nhân, Tự lực
văn đoàn còn nêu chủ đề mới: chủ trương cải cách bộ mặt nông thôn v à cải thiện đời sống
cho nông dân v ới các tác phẩm: “Gia đ ình” của Khái Hưng, “Con đư ờng sáng” của Ho àng

được khẳng định qua nhiều kiệt tác bất hủ, đồng thời phải xây dựng một hệ thống thi pháp
mới trên cơ sở tiếp nhận ảnh h ưởng của văn hoá nhân loại, v à kế thừa những tinh hoa của
văn hoá truyền thống.
Giai đoạn văn học Việt Nam 1930-1945, quá trình hi ện đại hoá văn học diễn ra đặc
biệt mạnh mẽ và sâu sắc ở hầu hết các thể loại:
- Về tiểu thuyết, có sự xuất hiện của nhóm nh à văn Tự lực văn đoàn và nhiều nhà
văn hiện thực phê phán.
- Các thể loại khác nh ư: truyện ngắn, phóng sự, bút ký, tuỳ bút, kịch cũng có nhiều
thành tựu đáng chú ý.
- Về thơ, phong trào Thơ m ới khởi xướng từ năm 1932 đ ã đóng vai trò quyết định
trong công cu ộc hiện đại hoá th ơ ca Việt Nam. Cá tính sáng tạo đ ược giải phóng, h àng loạt
tiếng thơ trẻ trung và tài năng ra đ ời với nhiều màu sắc và giai điệu khác nhau. Mảng th ơ ca

Trang 20

cách mạng cũng có nhiều đóng góp v ào nền thơ ca dân tộc.
b. Sự phân hóa phức tạp th ành nhiều xu hướng trong quá tr ình phát tri ển
Trong giai đoạn này, sự phân hoá của văn học Việt Nam dự a trên cơ sở thái độ chính
trị của nh à văn và ở quan niệm về mối quan hệ giữa văn học v à chính trị. Từ đó, có thể
thấy, văn học Việt Nam thời kỳ n ày có thể chia như sau:
Văn học hợp pháp: Nét đặc trưng của bộ phận văn học n ày là chứa đựng những yếu
tố tư tưởng lành mạnh, tiến bộ, nh ưng không có tinh th ần chống đối trực tiếp chế độ thực
dân. Do sự khác nhau về quan điểm nghệ thuật v à khuynh hư ớng thẩm mỹ, bộ phận văn
học này chia làm hai xu hướng chính:
Văn học lãng mạn: Đặc điểm chính của văn học l ãng mạn là sự đào sâu vào cái tôi
nội cảm, diễn tả ước mơ, khát vọng của cá nhân, đề cập đến những số phận cá nhân với
thái độ bất hoà, bất lực trước hiện thực tầm th ường, tù túng.
Văn học hiện thực: Xu hướng văn học n ày quan tâm đ ến viẹc diễn tả v à lý giải một
cách chân th ực và chính xác quá trình phát tri ển khách quan của hiện thực khách quan
thông qua vi ệc khắc học những h ình tượng điển hình.

tiểu thuyết Tự lực văn đo àn
Phong trào Thơ mới
Thơ mới thời kỳ 1932-1935 gồm những nhà văn lớn:
Lưu Trọng Lư: Thơ Lưu Trọng Lư là một lối thơ quen thuộc của dân tộc, L ưu Trọng

Trang 22

Lư đến với thơ bằng cả tâm h ồn sầu mộng của m ình. Trong th ơ ông, mọi hình ảnh mọi âm
thanh của cuộc sống đều đ ược vào thế giới mộng t ưởng. Thơ Lưu Trọng Lư diễn tả một cái
tôi đang say sưa thoát li vào m ộng tưởng.
Thế Lữ: Thơ Thế Lữ thời kì đầu say sưa thoát li hiện thực. Nh ưng những sự kiện lớn
lao của lịch sử vẫn c òn âm vang, th ơ ông ấp ủ tinh thần dân tộc v à khát khao tự do, là tiếng
vọng xa xôi của phong tr ào 1930-1931.
Thời kì 1936-1939:
Thời kì này, Xuân Diệu xuất hiện chiếm hẳn địa vị độc tôn tr ên thi đàn. Hoài Thanh
đã lên tiếng khẳng định vị trí của Xuân Diệu: “Câu văn tuồng bỡ ngỡ ấy chính l à Xuân Diệu
hơn người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi, không thể đi theo đ ường có sẵn. Ý văn xô đẩy, khiến
câu văn phải lung lay”, “Th ơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống d ào dạt chưa từng thấy ở
chốn nước non lặng lẽ n ày” (“Thi nhân Vi ệt Nam”).
Một số tên tuổi tiêu biểu khác như Nguyễn Bính (với các tác phẩm chân qu ê viết
bằng những vần th ơ lục bát tài hoa diễn tả hồn qu ê đất nước), Hàn Mặc Tử (nhà thơ của
những vần thơ “điên” mãnh liệt).
Thời kì 1940- 1942:
Thơ mới rơi vào bế tắc. Mỗi nh à thơ thoát li m ột cách, và càng thoát li l ại càng lạc
lối, một số xu h ướng chủ yếu là: Nhóm Dạ Ðài (Vũ Hoàng Chương, Tr ần Dần, Ðinh Hùng);
nhóm Xuân Thu Nhã T ập (Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Ðỗ Cung, Phạm Văn Hạn h, Nguyễn
Lương Ngọc, Ðoàn Phú Tứ); xu hướng thoát li siêu thoát vào tri ết lí thần bí (Huy Cận, Chế
Lan Viên).
b. Văn học hiện thực ph ê phán
Ngô Tất Tố với tập phóng sự “Việc l àng” viết về những hủ tục nặng nề ở nông thôn

thừa", "Trăng sáng", "Qu ên điều độ”, “Bài học quét nhà”,
Nam Cao chú ý đến những ng ười nông dân thấp cổ bé họng, bị áp bức bất công,
chịu số phận đen đủi, hẩm hiu. Ông đ ã đanh thép lên án xã hội chà đạp người nông dân
lương thi ện và dõng dạc bênh vực nhân phẩm của họ. Có thể nói, tr ước Cách mạng tháng
Tám, ít có nhà văn nào hi ểu được một cách sâu xa ng õ ngách sâu kín nh ững hy sinh thầm
lặng, những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn ng ười nông dân như Nam Cao. Các tác ph ẩm
chính ở đề tài này là: “Chí Phèo”, “Lão H ạc”, “Một đám c ưới”, “Một bữa no”
c. Văn chương cách m ạng
Tên tuổi tiêu biểu nhất là “Hồ Chí Minh” với tập “Nhật ký trong t ù”.
Tập thơ ghi lại những sự việc Bác đ ã chứng kiến, quang cảnh Bác nh ìn thấy ở những
nơi bị giam hay bị giải đi qua: chuyện bị bắt ở Túc Vinh, chuyện ng ười tù cờ bạc bị chết,
cảnh trốn lính, vợ phải t ù thay chồng… Toàn bộ những cảnh đ ã xảy ra trong “Nhật ký trong
tù” là hình ảnh thu nhỏ của x ã hội Trung Quố c thời bấy giờ. Những thối nát, bất công, t àn
bạo của chế độ T ưởng Giới Thạch đ è nặng lên cuộc sống của dân l ành.
Tập thơ cũng thể hiện tâm hồn cao đẹp của Bác. Nói tới tâm hồn tr ước hết nói tới
tình yêu th ương con ngư ời của Bác, Bác ái ngại cho cảnh ng ười vợ đến thăm chồng trong
ngục, thương người bạn tù chỉ có cái chăn bằng giấy bồi, đ êm thu trằn trọc ngủ không y ên,
Bác thương ngư ời tù cờ bạc nghèo không có gì ăn. Thương cả những người lao động dầm
mưa, dãi gió mà công lao ch ẳng được bao nhiêu. Thương tâ m nhất vẫn là những em bé,
Bác thương m ọi số phận, tha thiết với mọi biểu hiện của sự sống d ù là bé nhỏ nhất.
Nói tới tâm hồn cao đẹp ở Hồ Chủ tịch không thể qu ên tình yêu thiên nhiên của
Người. Giữa bao nhi êu khổ cực Bác vẫn vui, vẫn cảm thấy niềm vui tr àn đầy trong thiên

Trang 25

nhiên, cuộc sống. Người vui với trời đất, d õi theo một cánh chim, một l àn mây, một xóm
ven sông.
“Nhật ký trong t ù” canh cánh n ỗi nhớ nước thương dân của người tù Hồ Chí Minh.
Chân bước đi trên đất Bắc mà lòng Bác v ẫn hướng về Nam, nhớ t hương đồng bào trong
hoàn cảnh lầm than, hoạn nạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status