Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - đầu thế XIX với vấn đề cái chết tt - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII – ĐẦU XIX
VỚI VẤN ĐỀ CÁI CHẾT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành:Văn học Việt Nam Hà Nội - 2011


Hà Nội - 2011 MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 01
1. Lí do chọn đề tài 01
2. Lịch sử vấn đề 02
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 09
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
5. Bố cục luận văn : 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG 11
1.1.Nho giáo và tƣ tƣởng Xả thân thủ nghĩa 12
1.2. Phật giáo và cái nhìn liễu sinh tử. 20
1.3. Đạo giáo và quan niệm tề sinh tử 25
Tiểu kết 31
CHƢƠNG 2: KHÁI LƢỢC VẤN ĐỀ CÁI CHẾT
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƢỚC THẾ KỶ XVIII 33
2.1. Thơ Thiền sƣ: Thái độ ung dung điềm tĩnh trƣớc cái chết 34
2.1.1. Thấm nhuần quan niệm thân xác là huyễn ảo,
cái chết là lẽ thƣờng 35
2.2.2. Cái nhìn vô úy trƣớc cái chết 38
2.2. Thơ văn nhà nho: sẵn sàng chết để bảo toàn nghĩa lớn. 44
2.2.1. Trung thần tiết nghĩa vì nƣớc quên thân 44
2.2.2. Ngợi ca những tấm gƣơng liệt nữ 52
Tiểu kết 55
CHƯƠNG 3: SỰ PHÂN HÓA QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ CÁI CHẾT
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII - ĐẦU XIX 56

và toàn diện vị trí của văn học giai đoạn này với những giá trị to lớn
của nó trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Điểm đặc sắc nhất
của văn học giai đoạn này chính là sự khẳng định cuộc sống trần thế
và đề cao tình cảm của con ngƣời với tƣ cách là một cá nhân đầy
cảm xúc trong đời sống ấy. Thay thế cho mẫu hình lý tƣởng là thánh
nhân – quân tử chủ trƣơng khắc chế tình cảm, đề cao lý trí trong văn
học những thế kỷ trƣớc; những con ngƣời trần thế tài hoa, đầy cảm
xúc, những thân phận nhỏ bé trong xã hội bƣớc vào văn chƣơng thế
kỷ XVIII – XIX với những rung động tinh tế và tình cảm chân thực,
sống động chƣa từng có trƣớc đó.
Nhìn lại lịch sử văn học trung đại Việt Nam suốt một thời
gian dài, chúng tôi nhận thấy văn học giai đoạn XVIII – đầu XIX
viết nhiều về vấn đề cái chết. Cùng với đó, là sự thay đổi quan trọng
trong thái độ ứng xử đối với vấn đề cái chết thể hiện rõ nét trong các
sáng tác văn học thời kỳ này. Nhìn một cách tổng thể, sự thay đổi
thái độ trƣớc cái chết phản ánh sự thay đổi trong tƣ tƣởng và quan
niệm của các tác giả - nằm trong mạch nguồn nhân bản của văn học
thế kỷ XVIII – XIX. Thái độ đối với vấn đề cái chết thể hiện trong
văn học thời kì này xuất hiện những cung bậc tình cảm hết sức đa
dạng và sâu sắc, nhƣ một sự khẳng định mạnh mẽ và đề cao quyền
2

sống, quyền đƣợc hạnh phúc của con ngƣời trong chính cuộc sống
thực tại. Đó là điều mà suốt từ thế kỷ X – XVII không hề có trong
văn học, khi mà cái chết đƣợc nói tới nhƣ một sự bảo toàn đạo lý
theo chuẩn mực đạo đức đã đƣợc quy định, đƣợc mô hình hóa.
Sự thay đổi quan niệm về vấn đề cái chết trong văn học thế
kỷ XVIII – đầu XIX có thể nói, là một vấn đề văn học sử quan trọng
trong tiến trình văn học Việt Nam. Tuy nhiên cho tới nay vẫn chƣa
có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề cái chết

Nguyễn Đổng Chi trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam.
Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đầu XIX
(Huỳnh Lý chủ biên, In lại lần 2 có sửa chữa bổ sung 1978, Nxb Văn
học
2.2. Bên cạnh các công trình nghiên cứu mang tính tổng thể
về văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – đầu XIX, các công trình mang
tính chuyên khảo, đặc biệt đi sâu vào tìm hiểu các tác giả cụ thể, tiêu
biểu cũng nhƣ công việc sƣu tầm, dịch thuật, giới thiệu các tác phẩm
văn học có giá trị của văn học giai đoạn này cũng đem lại những gợi
ý quan trọng.
NNC Trần Thị Băng Thanh với Ngô Thì Sĩ – những chặng
đường thơ văn. NNC Phan Văn Các tiến hành dịch chú và giới thiệu
Đoạn trường lục của Phạm Nguyễn Du.
2.3. Văn học viết về cái chết không thể bỏ qua thể loại văn
học đặc trƣng là Văn tế. Với Văn tế cổ và kim, Phong Châu –
Nguyễn Văn Phú đã tiến hành sƣu tầm, chú thích và giới thiệu các
bài văn tế trong lịch sử văn học Việt Nam. Các tác phẩm đƣợc sắp
xếp theo từng giai đoạn lịch sử nên có giá trị tham khảo.
4

Tác giả Nguyễn Đông Triều đã dành nhiều quan tâm cho thể
loại văn tế trung đại Việt Nam. “Một số công trình nghiên cứu liên
quan đến văn tế trung đại Việt Nam – Điểm lại và định hƣớng nghiên
cứu”, “Cảm hứng vô thƣờng trong một số bài văn tế trung đại Việt
Nam” . Đây là những tham khảo thiết thực đối với luận văn.
2.4. Ngoài các cách tiếp cận văn học sử truyền thống, những
công trình nghiên cứu văn học trung đại trong đó có giai đoạn thế kỷ
XVIII – đầu XIX của nhiều tác giả đã có những cách tiếp cận mới,
góp phần đa dạng thêm điểm nhìn cũng nhƣ góp phần đánh giá một
cách toàn diện hơn, sâu sắc hơn về tác giả, tác phẩm, văn học giai

hiểu, tiếp cận và thực hiện đề tài của mình.
Với cách tiếp cận mới: tiếp cận văn hóa học, NNC Trần Nho
Thìn đã có nhiều công trình viết về văn học thế kỷ XVIII – XIX có
tính định hƣớng và giá trị tham khảo đặc biệt quan trọng đối với luận
văn này của chúng tôi. Công trình Văn học trung đại Việt nam dưới
góc nhìn văn hóa với những bài viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều
nhƣ: Triết lý Truyện Kiều trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam
cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX; Nhân vật Truyện Kiều và vấn đề
tiếp cận nhân học văn hóa; NNC Trần Nho Thìn đã đi sâu vào phân
tích giá trị to lớn của Truyện Kiều với một góc nhìn mới. Vấn đề cái
chết lần đầu tiên đƣợc định danh, nằm trong hệ thống các phạm trù
giá trị văn hóa khi ông tiến hành phân tích nhân vật trong Truyện
Kiều với cách tiếp cận nhân học văn hóa với hai khái niệm “Thân”
và “Tâm”. Đây cũng là một cách làm mà chúng tôi lựa chọn và kế
thừa khi thực hiện luận văn này. Qua những tranh cãi khen chê trái
chiều về nhân vật Kiều của các nhà Nho thời trung đại, đặc biệt là
6

chuyện Kiều không tự tử chết để bảo toàn danh tiết theo quan điểm
truyền thống của Nho giáo, NNC Trần Nho Thìn đã chỉ ra sự phân
hóa quan điểm đạo đức trong văn học thời kỳ trung đại về vấn đề cái
chết. Bài viết còn cung cấp những đánh giá và phân tích cụ thể về
tiến trình vận động của quan niệm về cái chết trong lịch sử tƣ tƣởng
và văn học trung đại.
Cũng trong sách này, bài viết Trào lưu chủ tình của Văn học
Việt Nam thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX và dấu vết ảnh hưởng của
sách Thế thuyết tân ngữ đã đem tới thêm một cách lý giải rất thuyết
phục cho yếu tố ngoại sinh ảnh hƣởng tới sự thay đổi đời sống và tƣ
tƣởng văn học trung đại Việt Nam giai đoạn này. Trong sự thay đổi
mạnh mẽ của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – đầu XIX với trào lƣu

chết ở những giai đoạn trƣớc đó cũng nhƣ việc tìm hiểu nguồn gốc
quan niệm về cái chết đã chi phối thái độ ứng xử trong suốt một thời
gian dài của lịch sử văn học Việt Nam. Việc mở rộng phạm vi nghiên
cứu vì vậy cũng là một đòi hỏi bắt buộc.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phƣơng pháp
nghiên cứu xã hội học và văn hoá học để tìm hiểu, soi chiếu các vấn
đề đã đƣợc đặt ra. Tất nhiên, điều này không mang nghĩa loại trừ đối
với các phƣơng pháp nghiên cứu khác (phƣơng pháp thống kê phân
loại, phƣơng pháp liên ngành…).
5. Bố cục luận văn gồm:
Ngoài Phần mở đầu, cấu trúc luận văn gồm có ba chƣơng chính:
Chƣơng 1. VẤN ĐỀ CÁI CHẾT
TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG VĂN HÓA PHƢƠNG ĐÔNG.
8

Chƣơng 2. KHÁI LƢỢC VẤN ĐỀ CÁI CHẾT
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƢỚC THẾ KỶ XVIII.
Chƣơng 3. SỰ PHÂN HÓA QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ CÁI CHẾT
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII – ĐẦU XIX.
Tổng kết phần chính văn còn có phần Kết luận.
Cuối luận văn là phần Danh mục tài liệu tham khảo.
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1.
VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG
VĂN HÓA PHƢƠNG ĐÔNG.
(Nhìn từ thế ứng xử với thân xác.)
Con ngƣời là một thực thể sống có thể xác và tinh thần, tình
cảm; mà ngƣời xƣa gọi là Thân và Tâm. Con ngƣời hiện diện trong
cuộc đời này, biểu lộ Tâm của mình không cách gì khác chính là

nỗi lo lắng về việc mình có giữ đƣợc đạo nghĩa, có làm tròn đƣợc
trách nhiệm của mình để không hổ thẹn với cha mẹ, tổ tiên hay
không.
Quan niệm trọng tâm nhất trong học thuyết Nho giáo chính
là chữ Nhân. Đối với nhà nho, đạo Nhân phải đƣợc đặt lên trên
chuyện giàu nghèo, đặt lên trên những cám dỗ của tình ái, và đặc
biệt, phải đƣợc đặt lên trên chuyện sống chết của bản thân. Khổng
Tử nhấn mạnh:bậc chí sĩ ngƣời có đạo Nhân là những ngƣời không
ham sống mà sợ chết, khi cần thiết, phải tự mình chết để bảo toàn
đạo Nhân. Kế thừa những học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử tiếp
10

tục nói rõ thêm về “chết vì đạo đức nhân nghĩa”, đó là “xả thân thủ
nghĩa” (xả thân để bảo vệ nghĩa lớn).
Nho gia có tƣ tƣởng “trọng thân”, coi thân là gốc (thân vi
bản) nhƣng lại mang nghĩa là coi trọng tu thân, đề cao vai trò của
tâm - ý chí chứ không có ý đề cao thân xác bản năng của con ngƣời.
Đúng nhƣ NNC Trần Nho Thìn đã nhận định: “Khắc kỉ và sẵn sàng
chết khi cần thiết để bảo vệ đạo Nhân, đặt các giá trị luân lí đạo đức
cao hơn giá trị của thân xác là mô hình lí tƣởng của nhà nho”.
Những quan niệm, tƣ tƣởng của Nho giáo đối với ngƣời phụ
nữ thì càng trở nên khắt khe hơn, đặc biệt là quan niệm nghiệt ngã về
trinh tiết: "Nga tử sự tiểu, thất tiết sự đại" (Chết đói là chuyện nhỏ,
thất tiết mới là chuyện lớn). Thân xác ngƣời phụ nữ không đƣợc nhìn
nhận và đánh giá nhƣ một giá trị, đó chỉ là công cụ để đánh giá đạo
đức, ý chí; khi cần có thể hy sinh để bảo vệ trinh tiết – cái đƣợc coi
là danh dự sống còn của ngƣời phụ nữ trong xã hội.
1.2. Phật giáo và cái nhìn liễu sinh tử (rõ sống chết).
Trong khi vấn đề cốt lõi của Nho giáo là trách nhiệm, mục
đích của con ngƣời đối với xã hội, tìm cách trả lời cho câu hỏi: con

đƣợc huyền nghĩa của “cái chết”, các bậc thiền sƣ, trí giả xả bỏ tấm
thân xác giả tạm nhƣ là cởi bỏ một chiếc áo cũ.
Ở một khía cạnh khác, Phật giáo cũng gặp gỡ quan điểm “có
cái chết nặng tựa Thái sơn, có cái chết nhẹ tựa lông hồng” của Nho
giáo. Phật giáo coi tự tử là một tội rất lớn, là hành vi đáng trách và
tội lỗi – khi đó là hành vi sát thân do nóng giận và tuyệt vọng, vì đó
là hành động do sự vô minh của con ngƣời. Nhƣng với những cái
12

chết để bảo toàn giới luật hay vì động cơ và mục đích cao cả thì nhà
Phật vẫn nêu cao công đức và tán dƣơng.
Nhƣ vậy, Phật giáo là học thuyết đề cao Tâm, lấy Tâm làm
chủ. Con ngƣời khi hiểu rõ sinh tử (liễu sinh tử) thì sẽ không còn sợ
hãi, mà an nhiên tự tại đón nhận cái chết. Trong quan niệm của Phật
giáo, khi đối mặt với cái chết, ngƣời sắp chết không sợ hãi, mà ngƣời
sống cũng không nên buồn đau, bởi ngƣời hiểu biết nhận chân đƣợc
lẽ sinh diệt theo duyên hợp của tâm và thân – những cái vốn dĩ chẳng
bao giờ thực sự thuộc về con ngƣời.
1.3. Đạo giáo và quan niệm “tề sinh tử” (sinh tử là nhƣ nhau).
Đạo giáo nhìn nhận sự sống và chết là nhƣ nhau. Kế thừa tƣ
tƣởng của Lão Tử, đứng trên góc độ Đạo để nhìn nhận về vấn đề
này, Trang Tử cho rằng sống hay chết đều là sự biến hóa của Đạo,
hay là sự biến hóa của khí. Đạo giáo cho rằng con ngƣời sinh ra từ sự
hòa hợp giữa hai khí âm và dƣơng, do khí tụ lại mà sinh ra, khi khí
tán thì chết đi. Vì vậy, sự sống và cái chết chính là một thể thống
nhất. Sự sống và cái chết chỉ khác nhau về hình thái chứ không khác
biệt về bản chất. Giá trị của cái chết, theo Trang Tử, vì thế, cũng chỉ
là một dạng nghỉ ngơi sau cuộc du chơi trên cuộc đời. Thế nên, con
ngƣời nên thuận theo lẽ sống chết.
Trong cách nhìn của Trang Tử, những nhân cách tinh thần lý

Sắc thân, cái hình hài, thể xác cũng nhƣ cảm xúc của con
ngƣời đều thuộc về cái vô thƣờng, là ảo hóa hƣ huyễn trong quan
niệm của nhà Phật. Thân hƣ ảo thì cái chết vì thế hoàn toàn là lẽ tự
nhiên. Quán niệm này thể hiện rõ trong sáng tác của các thiền sƣ thời
Lý Trần, đặc biệt là trong các thơ, kệ của các thiền sƣ trƣớc khi chết.
14

Các thiền sƣ đời Lý nói về sự hƣ ảo của thân xác, cái mộng huyễn
của cuộc đời nhƣ một mệnh đề không cần phải giải thích, là một tất
yếu hằng nhiên.
Với tinh thần khắc phục sự mê lầm về tính thực hữu của thân
xác, nhận thức đƣợc thân xác chỉ là một chặng trong chuỗi hóa sinh,
chuyển tiếp giữa vô và hữu, không và sắc, các bài kệ của các thiền sƣ
Lý- Trần thƣờng xoay quanh triết lý sắc không, coi cái chết nhƣ là sự
trở về. Sinh – lão – bệnh – tử đƣợc vẽ ra không nhằm để ca ngợi
cuộc sống tƣơi đẹp với khát vọng tận hƣởng cuộc sống ấy, mà nhằm
nhắc nhở con ngƣời giác ngộ phƣơng tiện tạm bợ, giả dối, hƣ huyễn
của cuộc sống, nhìn ra khía cạnh vô nghĩa của tham – sân – si mà
ngƣời đời vẫn chạy theo. Trong Thiền uyển tập anh, tập đại thành
của văn học Thiền tông thời Lý Trần còn lƣu truyền tới ngày nay,
chúng ta còn có thể tìm thấy rất nhiều các tiểu truyện về thiền sƣ kết
thúc bằng những bài kệ về lẽ sinh tử trƣớc khi một vị thiền sƣ nào đó
nhập diệt. Trong đó, tất thảy đều cho thấy một cảm hứng về một hình
tƣợng con ngƣời mang tính chất siêu thoát, liễu sinh tử (rõ sống chết)
vƣợt thoát ra khỏi sự mê chấp thân xác của ngƣời thƣờng. Chính bởi
thế, điều ta bắt gặp ở các vị thiền sƣ luôn luôn là điềm tĩnh, ung dung
đón nhận cái chết – một thái độ “vô úy”.
2.1.2. Thái độ vô úy (không sợ hãi) trước cái chết.
Hiểu rõ chân lý về lẽ sống chết vô thƣờng, thiền sƣ đã vƣợt
khỏi vòng sinh tử luân hồi để đến chỗ chân nhƣ, tự tại.Tâm thế ấy, ta

nhƣ trong Đại Việt sử ký toàn thư). Đặc biệt trong những bài thơ
vịnh sử, lấy các nhân vật lịch sử làm trung tâm, các tác giả nhà nho
đã thể hiện rất rõ quan điểm, thái độ của mình khi ngợi ca những bậc
16

thần tử dám xả thân, tuẫn tiết để giữ đạo nghĩa của kẻ tôi trung: thơ
khen Nguyễn Hữu Nghiêm, Lƣu Thƣờng, Lê Cảnh Tuân, cha con
Đặng Dung, Đặng Tất…
Giữ vững tín niệm “bỏ sống để giữ nghĩa, còn hơn là sống.
Cầu sống mà chịu nhục, ngƣời quân tử ko làm” (Ngô Sĩ Liên), tâm
thế khi đối mặt với cái chết của những nhà nho luôn mang dáng vẻ
hiên ngang khí khái, không hề run sợ.
2.2.2. Ngợi ca những tấm gương liệt nữ.
Đề cao nhân cách lý tƣởng của nho gia với hình tƣợng trung
thần tiết nghĩa, có thể liều mình xả thân thủ nghĩa xuất hiện nhiều
trong thơ văn của nhà nho. Vì thế nhân vật trong các sáng tác văn
học cũng đầy ắp hình ảnh của những ngƣời đàn ông đang thổ lộ ý
chí, đạo lý và nhân cách. Hình ảnh những ngƣời phụ nữ xuất hiện
trong các tác phẩm của nhà nho trƣớc thế kỷ XVIII vốn rất ít ỏi, mà
khi xuất hiện cũng đều thể hiện rõ những bài học, giá trị đạo lý của
nho gia. Những cái chết vì chồng, vì nghĩa lớn của những ngƣời phụ
nữ đƣợc nhà nho ngợi khen, đƣa ra làm mẫu hình khuyến khích cho
mọi ngƣời học tập, noi gƣơng: Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ:
Ngƣời con gái Nam Xƣơng, Chuyện nghĩa phụ ở Khoái Châu,
Chuyện Lệ Nƣơng: ngƣời phụ nữ đều tự tử để bảo toàn trinh tiết, sự
thủy chung. Thơ khen nàng Mỵ Ê trong Hồng Đức Quốc âm thi tập,
Đại Việt sử ký toàn thƣ chép lại những sự kiện tự tử của những
ngƣời phụ nữ với những lời ngợi ca. Thực chất, nhà nho nhìn cái
chết của những ngƣời phụ nữ không phải từ sự tôn trọng quyền sống,
sự tôn trọng thân xác của họ; mà sự ngợi khen những cái chết ấy

tƣởng “xả thân thủ nghĩa”, “sát thân thành nhân” của Nho gia vẫn
18

tiếp tục ảnh hƣởng, đã ăn sâu vào tín niệm của các nhà nho giai đoạn
này. Những câu chuyện về Lê Tuấn Mậu, Đàm Thuận Huy, Nguyễn
Hữu Nghiêm, Bùi Thế Vinh, Vũ Duệ… một lòng phù vua “tôi trung
không thờ hai chủ” mà hy sinh thân mạng tiếp tục đƣợc kể lại.
Giữa vô vàn diễn biến lịch sử phức tạp, bề bộn của những
năm tháng cuối thế kỷ XVIII, các tác giả của Hoàng Lê nhất thống
chí sẵn sàng dành cho sự kiện tự tử của một trung thần nhƣ Lý Trần
Quán những trang miêu tả sinh động, kèm với đó là lời bình phẩm
ngắn gọn, và còn dẫn cả ý kiến dƣ luận khen ngợi. Trong tác phẩm
này còn miêu tả cái chết của những Hoàng Phùng Cơ, Trần Công
Xán, Nguyễn Đình Giản, Trần Danh Án, Trần Phƣơng Bính, Nguyễn
Văn Quyên… Tất cả đều thể hiện rõ thái độ hiên ngang, khí khái của
nhân cách nhà nho trƣớc cái chết. Đồng thời, các tác giả cũng thể
hiện rõ quan điểm tán dƣơng của mình thông qua những nhận định
ngắn gọn hay dẫn theo ý kiến của dƣ luận đồng tình, cảm phục trƣớc
những hành động đƣợc coi là minh chứng của một nhân cách lớn. cái
chết đƣợc nhà nho sử dụng nhƣ một biểu tƣợng của lòng trung thành,
cho nhân cách kẻ sĩ theo quan điểm nho giáo. Ứng xử trƣớc cái chết
(hay là sự lựa chọn giữa sống và chết) của các nhà nho minh chứng
rõ ràng cho sự ăn sâu bám rễ của mẫu hình thánh nhân của nho giáo.
Thân xác của mỗi ngƣời là duy nhất, thuộc về cái riêng tƣ, cá nhân
nhất, nhƣng ở đây lại đƣợc lựa chọn “dâng” cho nhà vua, hy sinh cho
đạo quân thần. Họ dùng cái chết để chứng tỏ nhân cách chân chính
của một nhà nho nhƣ học thuyết Nho giáo đã xác lập và củng cố
bằng truyền thống mang đậm dấu ấn tên tuổi các nhà nho tử tiết
trong lịch sử. Những tên tuổi nhƣ Bá Di, Thúc Tề, Khuất Nguyên
19

cái chết, là thái độ rõ ràng nhất cho sự bộc lộ tình cảm cá nhân nhất,
riêng tƣ nhất – cũng chính là nỗi luyến tiếc sự sống. Thái độ chủ tình,
trọng tình đã xuất hiện mạnh mẽ, không giấu giếm bên cạnh quan
niệm duy lý truyền thống lạnh lùng của Nho gia trƣớc cái chết.
3.3.1. Khóc tình riêng ly biệt bởi cái chết: khóc cho niềm hạnh
phúc trần thế ngắn ngủi.
Những bài thơ khóc vợ, khóc ngƣời thƣơng của các nhà nho
của thế kỷ XVIII- đầu XIX đều hết sức cảm động, không còn hợp
với đạo tồn dƣỡng tỉnh sát, “ai nhi bất thƣơng” của nho gia: Nguyễn
Kiều khóc vợ Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ khóc vợ với Khuê ai lục,
Phạm Nguyễn Du khóc vợ với Đoạn trƣờng lục, Phạm Thái khóc
ngƣời yêu Trƣơng Quỳnh Nhƣ; Lê Ngọc Hân khóc chồng là vua
Quang Trung, Hồ Xuân Hƣơng khóc Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh
Tƣờng… Các “nhà thơ tình” thời này đã nhận ra một giá trị rất lớn
của cuộc sống là tình yêu. Tình yêu là hạnh phúc trần thế mà con
ngƣời luôn khao khát có đƣợc. Ngƣời ta thể hiện tình yêu gắn liền
với sự sống của thân xác con ngƣời. Vì thế, không có gì khiến con
ngƣời cảm thấy đau đớn hơn cái chết. Tiếng khóc của Phạm Thái,
của Phạm Nguyễn Du, của Ngô Thì Sĩ… là tiếng khóc cất lên từ
những cảm xúc cá nhân riêng tƣ nhất, không còn chịu sự chi phối của
đạo lý, của mẫu hình nhà nho lý tƣởng biết “tri thiên mệnh” – không
ủy mị yếu đuối khóc lóc nhƣ “nữ nhi thƣờng tình” nữa. Tiếng khóc
ấy cũng chính là thể hiện nỗi khát khao hạnh phúc trong cuộc sống,
giữa cuộc đời hiện tiền.
Khóc tình riêng ly biệt trong văn học thế kỷ XVIII – đầu
XIX không chỉ là tiếng khóc thƣơng chia lìa sự gắn bó và giao cảm
về mặt thân xác với ngƣời đã mất, mà ẩn sâu bên trong đó chính là
21

tiếng khóc thƣơng thân của chính những ngƣời còn sống. Đó là sự tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status