Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa
Mác-Lênin
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Triết gia Ph.Ăng-ghen với các tác phẩm của mình đã đặt nền tảng cho Lý luận của Chủ
nghĩa Mác-Lênin về nhà nước
Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa Mác-Lênin hay còn gọi là Lý luận về Nhà
nước và Pháp luật của Chủ nghĩa Mác- Lê nin là hệ thống những kiến thức của chủ
nghĩa Mác-Lênin về những quy luật phát sinh, phát triển đặc thù, những đặc tính chung
và biểu hiện quan trọng nhất của nhà nước nói chung và nhà nước Xã hội chủ nghĩa nói
riêng
[1]
. Tập trung vào phân tích nguồn gốc và bản chất của nhà nước, Lý luận của những
người Mác-xít đi sâu nghiên cứu về nhà nước một cách tổng thể những vấn đề chung nhát
về bản chất, chức năng, vai trò của nhà nước, hình thức nhà nước, bộ máy nhà nước và
làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các bộ phận trong thượng tầng kiến trúc chính trị-pháp lý
với các tổ chức xã hội, giữa nhà nước với cá nhân. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-
Lênin thì nhà nước thực chất là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy
chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì
trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.
Những nội dung cơ bản ban đầu về học thuyết này được phản ánh thông qua tác phẩm:
"Nguồn gốc của gia đình, chế độ sở hữu và của nhà nước" của Ph.Ăng-ghen. Qua tác
phẩm này, Ăng-ghen đã phân tích các vấn đề về gia đình, nguồn gốc của giai cấp và của
nhà nước và những quy luật tiếp tục phát triển và biến đổi sau này của chúng. Ph.Ăng-
ghen đã chỉ ra rằng nhà nước chỉ ra đời ở một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội trên
cơ sở xuất hiện chế độ tư hữu và gắn liền với nó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp
đối kháng, ông cũng luận chứng về tính chất giai cấp và tính lịch sử của nhà nước, làm
sáng tỏ chứa năng gia cấp cơ bản của nhà nước
[2]
. Sau đó lý luận này được những người
Mác-xít tiếp tục phát triển và hoàn thiện trong điều kiện mới. Lý luận về nhà nước và
pháp luật là một môn học bắt buộc trong chương trình học Đại học đối với các ngành
Nguồn gốc
Lịch sử cho thấy không phải khi nào xã hội cũng có nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ,
do kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp, cho nên chưa có nhà nước. Đứng
đầu các thị tộc và bộ lạc là các tộc trưởng (hay tộc chủ) do những người dân ở đó bầu ra,
quyền lực của những người đứng đầu thuộc về uy tín và đạo đức, việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội được thực hiện bằng những quy tắc chung, những tập quán trong cộng
đồng. Trong tay họ không có và không cần một công cụ cưỡng bức đặc biệt nào.
Sự ra đời
Ph.Ăng-ghen đã mô tả sự ra đời của nhà nước trên cơ sở sự tan rã của chế độ thị tộc.
Theo đó xã hội loài người qua quá trình phát triển đã dẫn đến sự phát triển không ngừng
của lực lượng sản xuất. Vào thời cổ đại đã diễn ra ba lần phân công lao động xã hội.
Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt là đòn bẩy cho kinh tế và hình thành mầm mống tư hữu
• Lần phân công thứ nhất, chăn nuôi đã trở thành một ngành kinh tế độc lập và tách
ra khỏi trồng trọt, từ đây mầm mống của chế độ tư hữu phát triển và "gia đình cá
thể đã trở thành một lực lượng đang đe dọa thị tộc"
[3]
• Lần phân công thứ hai, thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, lần phân công
này dẫn đến hình thành bước đầu chế độ nô lệ với số lượng nô lệ ngày càng tăng
và họ bị đẩy đi làm việc ở ngoài đồng ruộng và trong xưởng thợ, thành từng đoàn
mười người, người hai người một
[4]
điều đó cho thấy sự phân hóa xã hội, phân
tầng xã hội sâu sắc.
• Lần phân công thứ ba, sản xuất tách bạch với trao đổi dẫn đến sự xuất hiện của
tầng lớp thương nhân, lần đầu tiên xuất hiện một giai cấp tuy không tham gia sản
xuất một tý nào nhưng lại chiếm toàn bộ quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những
người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế… và bóc lột cả hai, một giai
cấp mà lịch sử loài người trước đó chưa hề biết đến
[5]
.
xung đột đó năm trong vòng trật tự
[7]
.
Và như vậy là Nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan, nó là sản phẩm của một xã
hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nó không phải là một quyền lực từ bên
ngoài áp đặt và xã hội mà là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ như
đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm
trong vòng trật tự
[8]
. Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước Chiếm hữu nô lệ, xuất
hiện trong cuộc đấu tranh không điều hoà giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Tiếp đó
là Nhà nước Phong kiến, Nhà nước Tư sản và sau cùng là Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là mâu thuẫn giai cấp không thể điều
hoà được. V.I.Lênin nhận định: Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu
thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về
mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà nước xuất
hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là
không thể điều hoà được
[9]
. Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của
sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa.
“
Chỉ khi nào xã hội không còn giai cấp đối kháng và giai cấp nói chng thì lúc
đó nhà nước mới biến mất. Sự tiêu vong của nhà nước là quá trình lâu dài,
chỉ có thế hệ những người lớn lên trong điều kiện lịch sử mới, tức là bước
quá độ từ chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản mới hình dung được sự
tiêu vong của nhà nước…. khi nhà nước tỏ ra thật sự là đại biểu của toàn xã
hội, nhân danh xã hội năm quyền sở hữu về các tư liệu sản xuất, việc quản lý
người được thay bằng quản lý các quá trình sản xuất, lúc đó mới có thể đưa
yêu cầu chống xâm lấn.
Bản chất giai cấp
Nhà nước ra đời tựa hồ đứng ngoài xã hội, làm cho xã hội tồn tại trong vòng trật tự nhất
định nhưng trên thực tế, chỉ giai cấp có thế lực nhất - giai cấp thống trị về kinh tế mới có
đủ điều kiện lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước. Nhờ có nhà nước, giai cấp này cũng trở
thành giai cấp thống trị về mặt chính trị, và do đó có thêm những phương tiện mới để đàn
áp và bóc lột giai cấp khác.
“
Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với
giai cấp khác, điều đó trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống
như trong chế độ quân chủ vậy
”
—Ph.Ăng-ghen
[12]
Đàn áp là một trong những biểu hiện quan trọng của bản chất giai cấp của nhà nước
Vì thế, về bản chất Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để
trấn áp một giai cấp khác
[13]
, là bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối
với giai cấp khác, là cơ quan quyền lực của một giai cấp đối với toàn xã hội, là công cụ
chuyên chính của một giai cấp.
Theo chủ nghĩa Mác thì không có và không thể có nhà nước đứng trên các giai cấp hoặc
nhà nước chung cho mọi giai cấp. Nhà nước chính là một bộ máy do giai cấp thống trị về
kinh tế thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức của chúng đối với quần
chúng lao động. Giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để đàn áp, cưỡng bức các
giai cấp khác trong khuôn khổ lợi ích của giai cấp thống trị. Đó là bản chất của nhà nước
theo nguyên nghĩa, tức nhà nước của giai cấp bóc lột. Theo bản chất đó, nhà nước không
thể là lực lượng điều hòa sự xung đột giai cấp, mà trái lại, nó càng làm cho mâu thuẫn
giai cấp ngày càng gay gắt. Cũng theo bản chất đó, nhà nước là bộ máy quan trọng nhất
“
Nếu nhà nước và pháp quyền nhà nước của nó là do những quan hệ kinh tế
quyết định, thì dĩ nhiên pháp quyền công dân cũng thế, vai trò của pháp
quyền này về thực chất chỉ là để xác nhận những quan hệ kinh tế bình thường
tồn tại giữa những cá nhân riêng biệt trong những hoàn cảnh nhất định
”
—Ph.Ăng-ghen
[16]
Đặc trưng
Các nhà nước được tổ chức một cách khác nhau. Song, theo Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bất
kỳ nhà nước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản sau:
Quản lý dân cư theo lãnh thổ
Khác với tổ chức thị tộc, bộ lạc thời nguyên thủy được hình thành trên cơ sở những quan
hệ huyết thống, Nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà
họ cư trú. Quyền lực nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên trong lãnh thổ không phân
biệt huyết thống. Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong cộng
đồng với nhà nước. Mỗi nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định.
Nhà nước xuất hiện đã lấy sự phân chia lãnh thổ làm điểm xuất phát và để cho công dân
thực hiện nhưng quyền và nghĩa vụ xã hội của họ theo nơi cư trú, không kể họ thuộc thị
tộc và bộ lạc nào
[17]
.
Thiết lập quyền lực công cộng
Nhà nước lúc này đã tách phần nào khỏi xã hội và không còn hòa nhập với dân cư nữa,
quyền lực trong xã hội không thuộc về xã hội và thuộc về giai cấp thống trị. Và để thực
hiện quyền lực công cộng cần có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý và
cưỡng chế.
“
Không những dưới chế độ quân chủ mà cả dưới chế độ cộng hòa dân chủ,
thì bộ máy nhà nước không thể tồn tại được và mặt khác chỉ có nhà nước mới có quyền
đặt ra thuế và thu thuế vì nhà nước là tổ chức duy nhất có tư cách đại diện chính thức của
toàn xã hội.
Chức năng
Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó. Tùy theo góc độ
khác nhau, chức năng của nhà nước được phân chia khác nhau. Dưới góc độ tính chất của
quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng
xã hội. Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và
chức năng đối ngoại. Trong các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò
đặc biệt quan trọng, có tác dụng quyết định năng lực hiện thực hóa của một nền kinh tế vì
nó là lực lượng vật chất có sức mạnh kinh tế.
“
Bạo lực [quyền lực nhà nước] cũng là một lực lượng kinh
tế
”
—Ph.Ăng-ghen
[19]
Thống trị và xã hội
Bên cạnh việc nhấn mạnh bản chất giai cấp của nhà nước, Ph.Ăng-ghen còn đánh giá
đúng tầm quan trọng về bản chất xã hội của nhà nước
Chức năng thống trị chính trị của giai cấp (hay chức năng giai cấp) là chức năng nhà
nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối
với toàn thể xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà
nước và tạo thành bản chất chủ yếu của nó. Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng
nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn
một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước.
Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất có vai trò chi phối
chức năng xã hội phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Giai cấp
thống trị bao giờ cũng biết giới hạn kiện toàn cách thực hiện chức năng xã hội trong
ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.
Kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại
trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế-xã hội nào. Mỗi kiểu nhà
nước lại có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau. Khác với hình thức nhà nước, hình
thức nhà nước là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện
quyền lực nhà nước. Nói cách khác đó là hình thức cầm quyền của giai cấp thống trị.
Hình thức nhà nước bị quy định bởi bản chất giai cấp của nhà nước, bởi tương quan lực
lượng giữa các giai cấp, bởi cơ cấu giai cấp - xã hội, bởi đặc điểm truyền thống chính trị
của đất nước
Tương ứng với ba chế độ xã hội có đối kháng giai cấp trong lịch sử là hình thái kinh tế-xã
hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế-xã hội phong kiến và hình thái kinh tế-xã hội tư
bản chủ nghĩa là ba kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến và
nhà nước tư sản. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia mà mỗi kiểu
nhà nước được tổ chức theo những hình thức nhất định. Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang
bản chất "giai cấp vô sản", nhưng lại là một kiểu nhà nước đặc biệt.
Nhà nước Chiếm hữu nô lệ
Nhà nước chiếm hữu nô lệ bảo đảm quyền sở hữu của nô lệ cho chủ nô
Nhà nước chiếm hữu nô lệ hay còn gọi là nhà nước chủ nô là hình thức nhà nước đầu tiên
trong lịch sử loài người và được coi là được coi là tổ chức quyền lực chính trị của giai
cấp chủ nô trong xã hội. Nhà nước chủ nô ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản
nguyên thủy (sự tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc ). Các nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu
tiên xuất hiện khoảng 4000 - 5000 năm trước công nguyên ở châu Á và Bắc Phi (Trung
Quốc, Ấn Độ, Ai Cập ) và ở châu Âu (Hy Lạp, La Mã)
Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô chính là quan hệ sản xuất được đặc trưng bởi chế độ
chiếm hữu tư nhân của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và nô lệ. Chủ nô là người
sở hữu toàn bộ đất đai, tư liệu sản xuất cộng với cả người sản xuất là nô lệ. Do vậy, chủ
nô có toàn quyền bóc lột nô lệ, nô lệ phải hoàn toàn phục tùng chủ nô, và trở thành
những công cụ biết nói.
Về tổ chức nhà nước, đây là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu biểu là các
phong kiến.
Nhà nước phong kiến chuyên chế - một biểu tượng cho sự thống trị của giai cấp địa chủ
phong kiến
Ở phương Đông (tiêu biểu là Trung Quốc và Ấn Độ, Ba Tư), hình thức quân chủ tập
quyền (quân chủ chuyên chế tập quyền) là hình thức nhà nước phổ biến dựa trên chế độ
sở hữu nhà nước về ruộng đất. Trong nhà nước này, quyền lực của vua được tăng cường
rất mạnh, hoàng đế có uy quyền tuyệt đối, ý chí của vua là pháp luật. Hình thức này còn
được tìm thấy ở các nước như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Dù tồn tại dưới bất kỳ
hình thức nào, nhà nước phong kiến cũng chỉ là chính quyền của giai cấp địa chủ, quý
tộc, là cơ quan bảo vệ những đặc quyền phong kiến, là công cụ của giai cấp địa chủ
phong kiến dùng để áp bức, thống trị nông nô.
Về mặt từ nguyên, phong kiến là từ ghép của phong tước và kiến địa hay phong hầu và
kiến ấp. Các vua chúa thời kỳ này thường phong tước cho những người thân thích, đồng
thời chia (ban thưởng) đất đai cho những người này để hình thành các nước chư hầu.
Việc phân phong đất đai ở châu Á chủ yếu lại diễn ra ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ, với điển
hình là thời kỳ Xuân Thu ở Trung Quốc. Vua nhà Chu phân đất cho các con em trong họ
và các quan lại, hình thành nên hơn 100 nước chư hầu và đó là mầm mống loạn lạc trong
những thời kỳ sau này. Nhà nước phong kiến thường lấy tôn giáo làm cơ sở lí luận cho sự
thống trị của mình (như các học thuyết thiên mệnh, học thuyết của Thiên Chúa giáo, Bà
La Môn
Nhà nước Tư sản
Mô hình biếm họa về nhà nước Tư sản
Nhà nước tư sản cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng nói chung,
chỉ có hai hình thức cơ bản nhất là hình thức cộng hoà và hình thức quân chủ lập hiến.
Hình thức cộng hoà lại được tổ chức dưới những hình thức khác nhau như Cộng hoà Đại
nghị, Cộng hoà Tổng thống, Cộng hòa hỗn hợp (hay cộng hòa lưỡng tính) trong đó hình
thức cộng hoà Đại nghị là hình thức điển hình và phổ biến nhất. Trong thực tế, nhằm
thích ứng với điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, các hình thức cụ thể của nhà
nước tư sản hiện đại lại có sự khác nhau khá lớn, về chế độ bầu cử, chế độ tổ chức một
viện hay hai viện, về nhiệm kỳ tổng thống, về sự phân chia quyền lực giữa tổng thống và
Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải
biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một
thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác
hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản
”
—C.Mác
[23]
[24]
C.Mác, người khẳng định việc xây dựng nhà nước vô sản phải bằng một cuộc cách mạng
Theo lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê nin thì giai cấp vô sản phải tìm mọi cách thu hút
lực lượng đông đảo về phía mình, ở đây, chuyên chính vô sản đóng vai trò là thiết chế
cần thiết để bảo đảm sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với nhân dân. Tính chất đặc
biệt của nhà nước vô sản còn thể hiện ở chỗ chức năng cơ bản nhất, chủ yếu nhất của nó
không phải là chức năng bạo lực mà là chức năng tổ chức xây dựng kinh tế – xã hội.
Khi đề cập tới vấn đề này, V.I.Lênin cho rằng chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo
lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là
tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Cũng vì những tính chất đặc biệt như vậy của nhà nước vô sản mà những nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng nhà nước vô sản là một kiểu nhà nước đặc
biệt trong lịch sử, đó là nhà nước không còn nguyên nghĩa, là nhà nước nửa nhà nước.
Sau khi những cơ sở kinh tế, xã hội của sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước mất đi thì
nhà nước sẽ không còn. Sự mất đi của nhà nước tư sản không phải bằng con đường thủ
tiêu, xóa bỏ mà bằng con đường tự tiêu vong. Sự tiêu vong của nhà nước tư sản được dự
báo là một quá trình rất lâu dài.
Và cũng do vậy, chuyên chính vô sản là một loại liên minh đặc biệt giữa giai cấp công
nhân với quần chúng lao động không vô sản. Nhà nước vô sản do vậy phải là chính
quyền của nhân dân, là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Cũng do đó, chế độ dân chủ vô
sản là chế độ dân chủ theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này. Đó là nền dân chủ bao quát toàn
kiểu Công xã (hình thức này làm tiền đề cho các kiểu tổ chức sau đó như Công xã Quảng
Châu ở Trung Quốc. Hình thức thứ hai của chuyên chính vô sản là Xô viết (ở Liên Xô và
các nước Đông Âu sau cách mạng tháng 10 Nga, Xô viết Nghệ Tĩnh từng tồn tại trong
thời gian ngắn ở Việt Nam ), ở một số nước, nhà nước vô sản còn tồn tại dưới hình thức
nhà nước dân chủ nhân dân (như Mông Cổ, Triều Tiên, Lào )
Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội mang lại cho nhà nước vô sản nhiều hình thức mới.
Tính đa dạng của nhà nước đó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của thời điểm xác
lập nhà nước ấy, tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp và khối liên minh
giai cấp tạo thành cơ sở xã hội của nhà nước, tùy thuộc vào nhiệm vụ kinh tế - chính trị -
xã hội mà nhà nước đó phải thực hiện, tùy thuộc vào truyền thống chính trị của dân tộc.
Hình thức cụ thể của nhà nước trong thời kỳ quá độ có thể rất khác nhau, nhưng bản chất
của chúng chỉ là một: chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.
Đó là một trong những tổ chức chính trị cơ bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa, một công cụ quản lý mà đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ra
để qua đó là chủ yếu, nhân dân lao động thực hiện quyền lực và lợi ích của mình, cũng
qua đó là chủ yếu mà giai cấp công nhân và Đảng của nó lãnh đạo xã hội về mọi mặt
trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng quan
niệm nhà nước xã hội chủ nghĩa là thống nhất về căn bản với nhà nước chuyên chính vô
sản cả về bản chất, mục tiêu, vai trò, chức năng và các hoạt động theo những nguyên tắc,
pháp luật, chính sách của nó. Nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
Đã là một loại hình nhà nước dân chủ thì nó có kế thừa và phát huy các thành quả chung -
những giá trị của quá trình phát triển dân chủ mà nhân loại đã sản sinh ra. Ví dụ, dân chủ
xã hội chủ nghĩa cũng kế thừa khái niệm và thuật ngữ "dân chủ", với bản chất nhất là
"quyền lực của dân". Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng do nhân dân bầu cử ra và có thể
bãi miễn nó. Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng kế thừa tính hợp lý về cơ cấu tổ chức có
tính pháp quyền của nhà nước dân chủ tư sản: cũng có các cơ quan lập pháp (Quốc hội,
Nghị viện ), hành pháp (Chính phủ, Hội đồng Bộ trưởng) và tư pháp (Toà án, Viện kiểm
sát, Viện Công tố ). Tất nhiên, về bản chất, mục tiêu, quyền lực, lợi ích thì khác về căn
bản so với nhà nước "Tam quyền phân lập tư sản".
[26]
. Việc chú ý tới bối
cảnh lịch sử như vậy cho phép chúng ta khẳng định rằng, đặc điểm đó của chuyên chính
vô sản do V.I.Lênin nêu ra không phải là phổ biến. Bạo lực, trấn áp là cái vốn có của mọi
chính sách, do đó, nó cũng là cái vốn có của nhà nước vô sản.
Cả C.Mác-Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều xem tổ chức, xây dựng mang tính sáng tạo
nhằm cải tiến trật tự chủ nghĩa tư bản và hình thành trật tự chủ nghĩa cộng sản là cái căn
bản hơn trong chức năng của chuyên chính vô sản. Đặt mối tương quan với chức năng tổ
chức – xây dựng, thì chức năng trấn áp chỉ là việc quét sạch các đống rác rưởi trước khi
xây dựng
[27]
mà chưa phải là bản thân việc xây dựng.
Nhiệm vụ
Ngay từ năm 1847, Ph.Ăngghen đã nêu ra 12 nhiệm vụ mà giai cấp công nhân phải thực
hiện sau khi giành được chính quyền, thì tất cả các nhiệm vụ đó đều trực tiếp liên quan
tới tổ chức, xây dựng xã hội mới. Sau đó một năm, khi xác định những nấc thang, những
giai đoạn của cuộc cách mạng công nhân nhằm đi tới giải phóng và phát triển toàn diện
con người, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng xem việc giai cấp công nhân giành lấy quyền lực
nhà nước mới chỉ là giai đoạn đầu tiên. Sau đó phải sử dụng quyền lực nhà nước để tăng
thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất.
Lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga làm cách mạng, sau khi thiết lập
chuyên chính vô sản, V.I.Lênin đã trực tiếp giải quyết, xây dựng xã hội mới. Đó là thời
kỳ chủ nghĩa cộng sản không còn chỉ là cương lĩnh hay học thuyết, mà đã trở thành công
việc xây dựng hằng ngày. Bởi vậy, V.I.Lênin đã có sự phát triển mới về mặt lý luận liên
quan tới chức năng tổ chức và xây dựng của chuyên chính vô sản. Ông xem việc tích cực
xây dựng chủ nghĩa cộng sản, sáng tạo ra những quan hệ kinh tế mới, sáng tạo ra một xã
hội mới là nhiệm vụ bức bách, quan trọng hơn là đập tan sự phản kháng của tư sản.
Không dừng lại ở việc khẳng định nhiệm vụ hàng đầu là tổ chức, xây dựng so với nhiệm
vụ trấn áp, V.I.Lênin còn làm rõ nội dung, biện pháp của nhiệm vụ đó trên nhiều bình
diện khác nhau.
và được coi là tài liệu tuyên truyền bồi dưỡng
chính trị cho cán bộ, công chức, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và cũng đưa vào
các trường Đại học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.
Trong quá trình hoạt động cách mạng và học tập những lý luận bên ngoài, Hồ Chí Minh
chú ý khảo cứu lựa chọn ra một kiểu nhà nước mới cho Việt Nam để xây dựng sau khi
cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản thành công. Nhà nước
đó phải đại biểu quyền lợi cho số đông người và Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng
một Nhà nước công nông binh thể hiện trong Chánh cương vắn tắt của Đảng khi thành
lập Đảng đầu năm 1930. Hồ Chí Minh đã từng có chủ trương xây dựng ở Việt Nam một
nhà nước Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, nhà nước của
dân, do dân, vì dân. Trong bài báo Dân vận (năm 1949), Hồ Chí Minh khẳng định: Nước
ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn
thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều
ở nơi dân.
Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Nhà nước của dân: Nhà nước theo quan điểm của Hồ Chí Minh là nhà nước của dân,
ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, ông có ghi chú rằng: Nhà nước
Việt Nam dân chủ kiểu mới là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cơ sở xã hội của nhà
nước đó là toàn thể dân tộc Việt Nam, dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam
[30]
. Và từ năm 1941, ông cũng đã có chủ trương rằng: Chính quyền cách mạng của
nước dân chủ mới, không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung, của
toàn thể dân tộc, chỉ trừ bọn tay sai của đế quốc Pháp Nhật và những bọn phản quốc…,
còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam, hết thảy đều được một phần tham gia
giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy
[31]
Minh thẵng thừng tuyên bố rằng: việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách
nhiệm "ghé vai gánh vác một phần, quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách
nhiệm, nghĩa vụ.
Ông cũng đưa ra những câu nhận định đại loại như: Tất cả các cơ quan nhà nước phải
dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát
của nhân dân hay như ý kiến: Lực lượng bao nhiêu là nhờ dân hết nhà nước muốn điều
hành quản lý xã hội có hiệu quả thì phải dựa vào dân, và dân như nước, mình như cá,
phải đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân.
“
Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ
Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác
”
—Hồ Chí Minh
[30]
Nhà nước vì dân: Theo những người nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh thì họ cho
rằng Hồ Chí Minh coi nhân dân là chủ thể quyền lực, nhà nước là công cụ của nhân dân,
là hình thức để tập hợp, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp chung chứ Nhà
nước không phải là nơi để thăng quan, phát tài, chia nhau quyền lực, lợi ích và bổng lộc.
Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều
do dân cử ra
Nhà nước vì dân theo ông này là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm
mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ một lợi ích nào
khác. Đó là một nhà nước trong sạch, không có bất kỳ một đặc quyền, đặc lợi nào. Hồ
Chí Minh nhấn mạnh: mọi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm đưa lại quyền lợi cho dân,
việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố
gắng tránh. Và nhiệm vụ của nhà nước là phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có
mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành
[32]
.
Trong một diễn biến tiếp theo vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội Khóa I của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã họp Phiên đầu tiên lập ra các tổ chức, bộ máy và các
chức vụ chính thức của Nhà nước. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ liên
hiệp đầu tiên. Đây chính là Chính phủ đã được dựng lên và tự tuyên bố là có đầy đủ giá
trị pháp lý để thay chính quyền của Pháp và chính phủ Trần Trọng Kim quản lý, cai trị
chính thống ở Việt Nam. Các bản Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 đã cho
thấy.
Cũng từ năm 1919, Hồ Chí Minh đã đề cập vấn đề thần linh pháp quyền trong đời sống
xã hội. Có Hiến pháp và pháp luật nhưng không đưa được vào trong cuộc sống thì xã hội
cũng sẽ bị rối loạn. Trong thời kỳ đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh chú ý
và bỏ công xây dựng pháp chế để bảo đảm quyền làm chủ của dân chúng. Ông cũng tự
mình làm gương về lối sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tự giác khép mình
chấp hành kỷ luật. Ông cũng cho rằng công tác giáo dục pháp luật (tuyên truyền) cho mọi
người là quan trọng.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Bài chi tiết: Cán bộ và Công chức
Đây cũng là một nội dung quan trọng và thường được Hồ Chí Minh nhắc nhiều trong tư
tưởng của mình về xây dựng nhà nước. Một nhà nước chỉ có thể có hiệu lực, thực thi
được quyền lực của mình thông qua nhân tố quan trọng chính là cán bộ, công chức, lính
tráng, thừa lại. Để chủ trương chính sách và lợi ích của Đảng cầm quyền được thực thi thì
phải thông qua từng vị trí cán bộ, công chức, viên chức cụ thể.
Hồ Chí Minh nêu lên những yêu cầu sau đây về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức mà
ông cho là lý tưởng để sử dụng hiệu quả:
• Tuyệt đối trung thành với cách mạng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh lòng trung thành
đó phải được thể hiện hàng ngày, hàng giờ, trong mọi lĩnh vực công tác.
• Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ. Ngay trong thời kỳ
đánh nhau với Pháp, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76 ban hành Quy chế công
chức nêu rõ công chức là người giữ một nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước
dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ. Sắc lệnh cũng nêu lên cách thức và nội
dung thi tuyển để bổ nhiệm vào các ngạch, bậc hành chính trong bộ máy chính
• Tham ô, lãng phí, quan liêu. Theo Hồ Chí Minh thì tham ô, lãng phí, quan liêu là
"giặc nội xâm", "giặc ở trong lòng", thứ giặc nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm.
Nhiều người "lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức".
"Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh
của thực dân và phong kiến Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật
thám"
[35]
.
Để khắc phục, ông đã mạnh tay với chính cấp dưới của mình thể hiện qua việc
ngày 27 tháng 11 năm 1946, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội
đưa và nhận hối lộ với mức từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai và phải nộp phạt gấp
đôi số tiền nhận hối lộ, tiếp đến, ngày 26 tháng 1 năm 1946, Hồ Chí Minh ký lệnh
nói rõ tội tham ô, trộm cắp của công là tội tử hình.
• "Tư túng", "chia rẽ", "kiêu ngạo". Những hành động này gây mất đoàn kết, gây
rối cho công tác, tệ kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì
cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình
thì đẩy ra ngoài. Ngay cả trong chính quyền, còn chia rẽ, không biết cách làm cho
mọi người hòa thuận với nhau, còn có người "bênh vực lớp này, chống lại lớp
khác". Ngoài cậy thế, có người còn kiêu ngạo, "tưởng mình ở trong cơ quan
Chính phủ là thần thánh rồi Cử chỉ lúc nào cũng vác mặt quan cách mạng", làm
mất uy tín của Chính phủ.