59 Giải pháp phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bằng các công cụ phái sinh tại Ngân hàng ngoại thương - chi nhánh TP.HCM - Pdf 23

Trang 1
CHƯƠNG 1: CÔNG CỤ PHÁI SINH VÀ NGHIỆP VỤ KINH DOANH
NGOẠI TỆ BẰNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.1 Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí
nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng
số vốn đó để cho vay, chiết khấu, ngoài ra ngân hàng thương mại còn cung cấp các
phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền
kinh tế.
Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004) chỉ
rõ: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân
hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng
khác”.
1.1.2 Các nghiệp vụ hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM.
1.1.2.1 Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn (Nghiệp vụ nợ).
Là nghiệp vụ hình thành trên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Các
nguồn vốn của NHTM bao gồm:
a. Vốn điều lệ và các quỹ:
- Vốn điều lệ: là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt
động và được ghi vào bản điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu
theo quy định của pháp luật (ở các nước và ở Việt Nam đều có quy định mức vốn
pháp định cho mỗi loại hình ngân hàng). Vốn điều lệ được Ngân sách nhà nước cấp
phát nếu là ngân hàng công, do các cổ đông đóng góp theo cổ phần nếu là ngân hàng
cổ phần. Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ được cấp bổ
Trang 2
sung vốn điều lệ theo quy định của luật pháp mỗi nước. Vốn điều lệ được sử dụng

theo kế hoạch tập trung của Nhà nước; vốn tiếp nhận để cho vay ủy thác, vốn chiếm
dụng của khách hàng trong quá trình thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt...
1.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn (Nghiệp vụ có).
Với nguồn vốn có được, ngân hàng sử dụng cho các hoạt động sau:
a. Thiết lập dự trữ:
Các ngân hàng thương mại không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động
kinh doanh, mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu
sau: duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; thực hiện lệnh
rút tiền thanh toán chuyển khoản của khách hàng; chi trả các khoản tiền gửi đến hạn,
chi trả lãi; đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng; thực hiện các
khoản chi tiêu hàng ngày tại ngân hàng...
Dự trữ của ngân hàng có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại ngân
hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.
b. Cấp tín dụng:
Bao gồm các nghiệp vụ cho vay (ngắn, trung và dài hạn); chiết khấu thương
phiếu và chứng từ có giá; cho thuê tài chính; bảo lãnh, bao thanh toán...
c. Đầu tư tài chính:
Ngân hàng thương mại sử dụng các nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình
thức đầu tư nhằm kiếm lời và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng. Các hình thức
đầu tư tài chính bao gồm: góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của các công ty, xí
nghiệp, các tổ chức tín dụng khác và mua chứng khoán, các giấy tờ có giá trị để
hưởng lợi tức, chênh lệch giá.
d. Sử dụng vốn cho các mục đích khác:
Mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở
ngân hàng, hệ thống kho bãi và các chi phí khác.
1.1.2.3 Nghiệp vụ trung gian (Dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh
Trang 4
doanh khác).
Đây là các dịch vụ mà khi ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ nhận được
các khoản hoa hồng và lệ phí như: dịch vụ ngân quỹ; dịch vụ ủy thác; tổ chức thanh

kỳ hạn với nhau.
... đến những công cụ hiệu quả như swap và option.
Swap cũng là một công cụ phái sinh dựa trên sự trao đổi và thực hiện hợp
đồng. Các giao dịch hoán đổi là động lực chính của những tăng trưởng trên hợp đồng
kỳ hạn.
Giao dịch đầu tiên của thị trường option bắt đầu ở châu Âu và Mỹ từ đầu thế
kỷ 18. Những năm đầu thị trường hoạt động thất bại vì nạn tham nhũng. Một trong
những người liên quan là nhà môi giới có quyền chọn về một loại cổ phiếu nhất định
đã ăn hối lộ để giới thiệu cổ phiếu cho khách hàng của họ. Vào đầu những năm 1900,
một nhóm công ty đã thành lập hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền
chọn. Mục đích của hiệp hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và
những người bán lại với nhau. Tháng 4 năm 1973 Chicago Board of Trade lập thị
trường mới, Chicago Board Options Exchange, đặc biệt dành cho trao đổi option về
cổ phiếu. Từ đó thị trường option trở nên phổ biến với nhà đầu tư. Đến thập niên 80
của thế kỷ 20, thị trường option đối với ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng
future đã phát triển ở Mỹ. Thị trường chứng khoán Philadelphia là nơi giao dịch
option ngoại tệ đầu tiên.
1.2.3 Các chủ thể tham gia trên thị trường.
1.2.3.1 Nhà bảo hộ giá (Hedger).
Chúng ta xem xét tình huống sau: Công ty Import Co.Ltd có một hợp đồng trị
giá 1 triệu USD, thời hạn thanh toán là 6 tháng, tỷ giá giao ngay (USD/VND) ở thời
điểm hiện tại: 15.990, tỷ giá giao ngay (USD/VND) khi hợp đồng đến hạn: chưa biết.
Công ty Import Co.Ltd đứng trước rủi ro nếu USD lên giá so với VND ở thời điểm
thanh toán. Sự lên giá này của USD có thể gây ra cho Import Co.Ltd tổn thất giao
Trang 6
dịch bằng trị giá hợp đồng nhân cho chênh lệch tỷ giá giữa hai thời điểm thanh toán
và ký kết. Để tránh rủi ro ngoại hối, công ty liên hệ với ngân hàng mua quyền chọn
mua có những nội dung sau:
- Trị giá quyền chọn (K): 1 triệu USD.
- Tỷ giá thực hiện (E): 16.010.

b
+ 20) triệu VND. Giá trị này
chưa được cố định nhưng bị chặn trên tối đa ở mức 16.030 triệu VND, vì S
b
< 16.010.
Do đó, rủi ro ngoại hối cũng được kiểm soát.
Kết quả là dù tỷ giá giao ngay khi hợp đồng nhập khẩu đến hạn là bao nhiêu đi
Trang 7
nữa thì giá trị phải thanh toán của hợp đồng nhập khẩu quy ra VND vẫn nằm ở mức
tối đa là 16.030 triệu VND.
1.2.3.2 Nhà đầu cơ (Speculator).
Chúng ta có thể sử dụng các công cụ phái sinh cho mục đích đầu cơ. Để làm
rõ việc sử dụng công cụ phái sinh vào mục đích đầu cơ như thế nào chúng ta xem xét
tình huống sau: Đang ở thời điểm hiện tại tỷ giá EUR/USD = 1,2028, ông A dự báo
rằng trong tương lai EUR sẽ lên giá so với USD và tỷ giá có thể lên đến EUR/USD =
1,2928.
Ông A mua EUR và chờ giá lên sẽ bán ra lấy lời trong tương lai. Dĩ nhiên là
việc mua EUR để đầu cơ này là một việc làm rủi ro vì nếu EUR không lên giá đúng
như dự đoán của mình thì ông A sẽ lỗ. Nhưng là người có kinh nghiệm và bản lĩnh
ông A tin chắc vào sự dự đoán của mình và kỳ vọng kiếm lời mỗi EUR được (1,2928
– 1,2028) = 0,09 USD. Chẳng hạn để kiếm được 11.250 USD ông A phải mua
125.000 EUR. Để mua được 125.000 EUR ngay thời điểm hiện tại ông A phải bỏ ra
125.000 x 1,2028 = 150.350 USD. Với số tiền USD phải bỏ ra khá lớn khiến ông A
có thể ngậm ngùi nhìn cơ hội kiếm 11.250 USD trôi qua trong tiếc nuối vì không có
tiền mua 125.000 EUR. Nhưng ông A có thể nắm bắt cơ hội đầu cơ bằng cách mua
hợp đồng giao sau trị giá 125.000 EUR thay vì mua giao ngay 125.000 EUR. Vì mua
hợp đồng giao sau trị giá 125.000 EUR chứ không phải mua 125.000 EUR nên ông A
không cần bỏ ra ngay 150.350 USD mà chỉ cần bỏ ra 1.755 USD ký quỹ theo yêu cầu
của Sở giao dịch. Như vậy, với số tiền bỏ ra ít hơn: 1.755 USD so với 150.350 USD
ông A vẫn mua được cơ hội kiếm lời nếu như tỷ giá biến động đúng như dự đoán của

nhảy vào cuộc, do có nhiều người dùng USD để mua EUR ở Frankfurt nên EUR sẽ
lên giá so với USD ở Frankfurt và do có nhiều người bán EUR lấy GBP ở London
nên EUR giảm giá so với GBP ở London, cuối cùng ở New York do có nhiều người
bán GBP để lấy USD nên GBP sẽ giảm giá so với USD ở New York. Cơ hội kinh
doanh chênh lệch giá cũng chấm dứt nhường chỗ cho sự quân bình tỷ giá giữa ba khu
Trang 9
vực thị trường.
Trên thực tế còn có chi phí giao dịch và rào cản giao dịch giữa các thị trường.
Chính điều này khiến cho giao dịch kinh doanh chênh lệch tỷ giá không phải dễ dàng
thực hiện. Kết quả, cơ hội kinh doanh chênh lệch tỷ giá ít khi xuất hiện và nếu có
cũng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
1.2.4 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của NHTM.
1.2.4.1 Nghiệp vụ hối đoái giao ngay (spot).
Giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa
hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong
vòng hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán.
Tùy theo tập quán kinh doanh và điều kiện thị trường từng nước, có thể niêm
yết tỷ giá theo nhiều cách khác nhau. Nhưng nhìn chung có hai cách niêm yết giá trên
thị trường giao ngay dành cho hai đối tượng khách hàng khác nhau. Cách yết giá theo
kiểu Mỹ và kiểu Âu dành cho khách hàng là ngân hàng khác trên thị trường liên ngân
hàng. Cách yết giá trực tiếp và gián tiếp dành cho khách hàng thông thường, tức
khách hàng không phải là ngân hàng.
Yết giá theo kiểu Mỹ (American term) là cách niêm yết tỷ giá bằng số USD
trên đơn vị ngoại tệ. Yết giá theo kiểu châu Âu (European term) là cách niêm yết tỷ
giá bằng số ngoại tệ trên 1 đơn vị USD.
Yết giá trực tiếp (direct quotation) là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị
ngoại tệ thông qua một số lượng nội tệ nhất định. Yết giá gián tiếp (indirect
quotation) là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị nội tệ thông qua một số lượng
ngoại tệ nhất định. Theo thông lệ các đồng tiền thường được yết giá gián tiếp gồm có
bảng Anh, dollar Úc và dollar New Zealand, các đồng tiền thường được yết giá trực

JPY thường có chênh lệch giá mua bán ở mức 0,1% đến 0,5% trong khi các ngoại tệ
mà thị trường giao dịch hẹp hơn có mức chênh lệch giá cao hơn nhiều. Lý do là ngân
hàng sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua vào các mục đích như phòng
ngừa rủi ro biến động tỷ giá ngoại tệ mua vào hoặc bán ra, bù đắp chi phí giao dịch
và cuối cùng là kiếm lợi nhuận thỏa đáng. Do vậy với các ngoại tệ có phạm vi giao
dịch hẹp, hoặc vào những thời kỳ tỷ giá của ngoại tệ nào đó biến động mạnh thì ngân
hàng duy trì chênh lệch giữa giá bán và giá mua lớn hơn so với các ngoại tệ khác
hoặc so với thời kỳ tỷ giá ổn định.
Trang 11
Giao dịch hối đoái giao ngay được ngân hàng sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu
mua hoặc bán ngoại tệ giao ngay cho khách hàng. Tuy nhiên, nhược điểm của giao
dịch hối đoái giao ngay là không đáp ứng được nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ của
những khách hàng nào cần mua hoặc cần bán ngoại tệ nhưng việc chuyển giao ngoại
tệ chưa thực hiện ngay ở hiện tại mà sẽ được thực hiện trong tương lai. Để đáp ứng
nhu cầu này của khách hàng ngân hàng phải phát triển thêm một loại giao dịch khác,
đó là giao dịch hối đoái có kỳ hạn.
1.2.4.2 Nghiệp vụ hối đoái có kỳ hạn (forward).
Giao dịch hối đoái có kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán
với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽ được
thực hiện trong tương lai.
Tỷ giá có kỳ hạn thường được yết theo hai cách: yết giá theo kiểu outright và
yết giá theo kiểu swap. Tỷ giá có kỳ hạn theo kiểu outright đơn giản là giá cả của một
đồng tiền này tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia. Nó cũng được niêm yết tương tự
như tỷ giá giao ngay chỉ khác một điều là tỷ giá được hai bên xác định và thỏa thuận
ở hiện tại nhưng sẽ được áp dụng trong tương lai. Tỷ giá theo kiểu swap chỉ yết phần
chênh lệch theo số điểm căn bản (basic points) giữa tỷ giá có kỳ hạn và tỷ giá giao
ngay tương ứng. Yết giá theo kiểu swap thường được sử dụng trên thị trường liên
ngân hàng, tức là trong giao dịch giữa một ngân hàng này với một ngân hàng khác.
Tỷ giá có kỳ hạn (forward rate) là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được
xác định ở hiện tại. Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn

+ r
y
- r
y
r
d
- r
y
F = S
__________
= S
______________________
= S + S
___________ 1 + r
y
1 + r
y
1 + r
y
Vì lãi suất r
y
thường nhỏ nên ta có thể xấp xỉ 1 + r
y
≈ 1. Khi ấy, công thức
này có thể viết lại thành F = S + S(r
d
- r

giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền khác,
trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch
được xác định tại thời điểm ký hợp đồng. Về cơ bản giao dịch swap gồm: 1 giao dịch
spot và 1 giao dịch forward trái chiều với giao dịch spot.
Thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng. Nếu ngày đáo hạn
rơi vào ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ thì hai bên sẽ thỏa thuận chọn một ngày đáo hạn
thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế.
Trong giao dịch hoán đổi, ngày thanh toán bao gồm hai loại ngày khác nhau:
ngày hiệu lực và ngày đáo hạn. Ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toán giao dịch
giao ngay trong khi ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn.
Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷ giá
có kỳ hạn. Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch
do hai bên thỏa thuận. Tỷ giá có kỳ hạn được tính trên cơ sở tỷ giá giao ngay, chênh
lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ, và số ngày thực tế của hợp đồng.
Giao dịch hoán đổi chỉ giải quyết được nhược điểm của hợp đồng giao ngay là
có thể thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm tương lai, đồng thời
khắc phục được nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn ở chỗ có thể thỏa mãn nhu cầu
ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, cũng như giao dịch kỳ hạn,
giao dịch hoán đổi vẫn còn hạn chế ở hai điểm:
- Nó là hợp đồng bắt buộc yêu cầu các bên phải thực hiện khi đáo hạn bất chấp
tỷ giá trên thị trường giao ngay lúc đó như thế nào. Điều này có lợi là tránh được rủi
ro tỷ giá cho khách hàng, nhưng đồng thời đánh mất đi cơ hội kinh doanh nếu như tỷ
giá biến động trái với dự đoán của khách hàng.
Trang 14
- Nó chỉ quan tâm đến tỷ giá ở hai thời điểm: thời điểm hiệu lực và thời điểm
đáo hạn, mà không quan tâm đến sự biến động tỷ giá trong suốt quãng thời gian giữa
hai thời điểm đó.
Chính những hạn chế này khiến cho hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi
chỉ có thể là công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và thích hợp với nhu cầu phòng ngừa
rủi ro tỷ giá của khách hàng hơn là nhu cầu kinh doanh hay đầu cơ kiếm lời từ sự

- Thứ ba: nhà đầu cơ sẽ nhận được hợp đồng giao sau theo giá mới được thiết
lập vào cuối ngày giao dịch.
Hợp đồng giao sau có cả ưu lẫn nhược điểm khi sử dụng. Ưu điểm của nó
trước tiên là sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có giá trị nhỏ. Kế đến nó cho phép
các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi
hợp đồng hết hạn. Với hai ưu điểm này hợp đồng giao sau dễ dàng thu hút nhiều
người tham gia. Ngược lại, hợp đồng giao sau có nhược điểm là chỉ cung cấp giới
hạn cho một vài ngoại tệ mạnh và một vài ngày chuyển giao ngoại tệ trong năm mà
thôi. Kế đến, hợp đồng giao sau là hợp đồng bắt buộc phải thực hiện khi đến hạn chứ
không cho người ta quyền được chọn như trong hợp đồng quyền chọn. Nói chung
giao dịch giao sau có thể bổ sung cho giao dịch kỳ hạn và hoán đổi ở tính chất thực
hiện thanh toán hằng ngày nhằm bảo đảm cho nhà đầu cơ có thể tận dụng cơ hội nếu
thị trường biến động có lợi cho họ. Tuy nhiên, nếu thị trường biến động bất lợi nhà
đầu cơ không có quyền tự ý rút khỏi thị trường. Tính chất “có quyền” này chỉ có thể
có được trong giao dịch quyền chọn.
1.2.4.5 Nghiệp vụ hối đoái quyền chọn (option).
Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên, theo đó người mua option có
quyền, chứ không phải nghĩa vụ, mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ cụ thể với một
mức giá thực hiện đã được ấn định trước cho một thời hạn cụ thể trong tương lai, sau
khi đã trả phí (premium) cho người bán option ngay từ lúc ký hợp đồng. Trong khi
đó, người bán option có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng theo các điều khoản đã
Trang 16
thỏa thuận trước đó bất luận giá cả thị trường biễn biến như thế nào, nếu như người
mua option muốn thực hiện quyền của mình.
Quyền chọn mua (call): là quyền cho phép người mua option tự quyết định
thực hiện mua ngoại tệ hay không mua ngoại tệ.
Quyền chọn bán (put): là quyền cho phép người mua option tự quyết định thực
hiện bán ngoại tệ hay không bán ngoại tệ.
Giá giao ngay (spot): giá mua bán ngoại tệ giao ngay hiện hành tại thời điểm.
Giá thực hiện (strike): mức giá mà người mua option được quyền ấn định

Nếu một option có giá strike ITM hoặc “deep ITM”, premium của option đó
đắt nhất, vì giá strike có lợi hơn hoặc rất có lợi hơn giá spot thời điểm hiện hành. Nếu
một option có giá strike ATM, thì premium của option đó ít đắt hơn so với option
ITM, vì giá strike xấp xỉ giá spot thời điểm hiện hành. Nếu một option có giá strike
OTM, thì premium của option đó rẻ nhất, vì giá strike bất lợi hơn giá spot thời điểm
hiện hành.
Premium của option kiểu Mỹ đắt hơn option kiểu Âu, vì kiểu Mỹ có thể thực
hiện vào bất cứ lúc nào trong suốt thời hiệu hợp đồng còn kiểu Âu chỉ được thực hiện
vào ngày đáo hạn hợp đồng.
Cách xác định giá quyền chọn phổ biến và đơn giản nhất là bằng mô hình
Black-Scholes: đối với quyền chọn mua theo kiểu châu Âu, mô hình Black-Scholes
có thể diễn tả bởi công thức sau:
C
e
= Se
-bT
N(d
1
) – Ee
-aT
N(d
2
)
Trong đó:
C
e
là giá cả của quyền chọn mua theo giá châu Âu.
S là tỷ giá giao ngay giữa đồng tiền A và đồng tiền B.
E là tỷ giá thực hiện.
T là thời hạn hợp đồng, tính bằng năm.

Âu phụ thuộc vào tỷ giá thực hiện so với tỷ giá giao ngay, lãi suất phi rủi ro giữa hai
quốc gia, thời hạn của hợp đồng và độ lệch chuẩn của sự thay đổi tỷ giá hai đồng
tiền. Mô hình này được thực hiện dựa trên một số giả định như sau:
- Lãi suất vẫn không thay đổi, lãi suất cho vay và đi vay như nhau.
- Không có thuế hay chi phí giao dịch.
- Sự sai biệt tỷ giá tuân theo quy luật phân phối chuẩn.
- Độ lệch chuẩn vẫn không đổi trong suốt thời hạn hợp đồng.
Bởi vì những giả định này không đúng trên thực tế, lãi suất và tỷ giá luôn thay
đổi bất ngờ, lãi suất cho vay và lãi suất đi vay không giống nhau, có chi phí giao dịch
và thuế, độ lệch tỷ giá chưa chắc có phân phối chuẩn, nên mô hình Black-Scholes
chưa hẳn chính xác và nó cần phải được hoàn thiện thêm.
Tuy vậy, mô hình Black-Scholes vẫn áp dụng rộng rãi trong việc định giá
quyền chọn, một mặt bởi vì theo thói quen, một mặt bởi vì nó đơn giản dễ áp dụng.
Hơn nữa, mô hình này có thể dẫn đến việc định giá sai nhưng mức độ sai lệch không
nghiêm trọng đến nỗi tạo ra cơ hội thu lợi cho những người kinh doanh chênh lệch
giá.
Khi sử dụng mô hình Black-Scholes để định giá quyền chọn chúng ta chỉ định
giá đối với quyền chọn mua. Để định giá quyền chọn bán chúng ta sử dụng đẳng thức
Trang 19
cân bằng giữa giá trị quyền chọn mua và quyền chọn bán. Mối quan hệ giữa quyền
chọn mua và quyền chọn bán được diễn tả qua sự cân bằng chọn mua – chọn bán (put
– call parity). Trong trường hợp quyền chọn theo kiểu châu Âu mối quan hệ này thể
hiện qua công thức sau:
C
e
(S, T, E) = P
e
(S, T, E) + S(1 + b)
-T
– E(1 + a)

- Kinh doanh trên cơ sở chênh lệch tỷ giá: Doanh nghiệp có thể khai thác
chiều hướng biến động có lợi của tỷ giá để thu lợi nhuận. Một quyền chọn mua hay
bán (kiểu Mỹ) có thể được thực hiện trước ngày đáo hạn nếu tỷ giá giao ngay trên thị
trường cao hơn hay thấp hơn tỷ giá quyền chọn với dự báo rằng tỷ giá có xu hướng
biến động ngược chiều trong tương lai.
- Tạo công cụ bảo hiểm rủi ro ngoại hối cho các hoạt động kinh doanh đặc thù:
Các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho thị trường thế giới thông qua hoạt động
đấu thầu sẽ có nguồn thu ngoại tệ nhưng không chắc chắn vì còn phụ thuộc vào kết
quả đấu thầu. Trong trường hợp này, một giao dịch quyền chọn bán ngoại tệ sẽ rất
thích hợp để bảo toàn khoản lợi nhuận nếu doanh nghiệp trúng thầu cung cấp sản
phẩm.
1.3.2 Đối với ngân hàng
- Kiểm soát nguồn vốn khả dụng: Các ngân hàng thương mại có thể thực hiện
các giao dịch hoán đổi ngoại tệ với Ngân hàng Nhà nước để điều tiết lượng ngoại tệ
khả dụng tại ngân hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra, các
ngân hàng thương mại còn có thể ký kết các hợp đồng hoán đổi ngoại tệ với nhau
nhằm sử dụng nguồn ngoại tệ hiện có một cách hiệu quả.
- Tạo liên kết với khách hàng: Nhờ đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của
khách hàng nên các giao dịch hối đoái phái sinh trở thành một cầu nối quan trọng
giữa ngân hàng và khách hàng. Cầu nối đó lại càng chắc chắn hơn khi thông qua các
giao dịch này ngân hàng thực hiện việc bán chéo các sản phẩm, dịch vụ của mình cho
khách hàng. Khách hàng sẽ rất hài lòng khi được phục vụ với một gói các sản phẩm,
dịch vụ chất lượng cao.
- Tăng thu nhập cho ngân hàng: Các giao dịch ngoại hối phái sinh mang lại
cho các ngân hàng thương mại nguồn thu thông qua phí và chênh lệch tỷ giá hoái đối.
Ngoài ra, việc bán chéo sản phẩm cũng đem lại nguồn thu không nhỏ cho các ngân
hàng nếu khai thác một cách triệt để.
Trang 21
- Nâng cao năng lực kinh doanh: Sử dụng tốt các giao dịch hối đoái phái sinh
giúp ngân hàng kiểm soát nguồn vốn khả dụng bằng ngoại tệ một cách hiệu quả, tạo

thị" sẽ hình thành theo trục TP.HCM - Vũng Tàu trong 15 - 20 năm tới. Chùm đô thị
này, không chỉ có vị trí đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của nước ta, mà còn
có vị trí quan trọng trong mối quan hệ với các đô thị khác ở khu vực Đông Á và
Đông Nam Á.
Cho đến năm 2010, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là một trung tâm công
nghiệp hàng đầu của cả nước, xét về phương diện tỷ trọng, mặc dù trong thời kỳ này
sẽ hình thành nhiều khu công nghiệp lớn khác trong cả nước. Các khu công nghiệp
tập trung được hình thành trên địa bàn của 6 huyện ngoại thành hiện nay sẽ tiếp tục
củng cố vai trò trung tâm công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, vai
trò này sẽ giảm dần ở thời kỳ sau năm 2010, khi các khu công nghiệp khác của vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam (Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu) và quá
trình công nghiệp hóa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đạt bước phát triển đáng
kể.
Cho đến năm 2010, vai trò trung tâm thương mại - dịch vụ, đầu mối giao lưu
quốc tế đối với khu vực và cả nước vẫn chưa có nơi nào vượt được vị thế của Thành
phố Hồ Chí Minh. Nhưng khác với công nghiệp, ngành thương mại - dịch vụ của
Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng có vị trí quan trọng hơn trong quá trình công
nghiệp hóa toàn khu vực. Tốc độ công nghiệp hóa cả khu vực Nam bộ càng nhanh,
thì vai trò trung tâm thương mại - dịch vụ của Thành phố Hồ Chí Minh càng quan
trọng, chứ không bị chia sẻ bớt.
Cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một bộ phận cấu thành chỉnh thể
nền kinh tế cả nước nói chung và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng, mà ở
đó các ngành công nghệ kỹ thuật cao, các sản phẩm có hàm lượng khoa học kỹ thuật
Trang 23
chiếm tỷ trọng lớn; các loại dịch vụ phục vụ sản xuất và giao thông quốc tế sẽ có vị
trí ưu thế trong cơ cấu kinh tế của cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh sẽ trở thành một
trung tâm tài chính và thương mại của các nước ASEAN sau năm 2010.
2.1.2 Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng Ngoại thương – Chi
nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng Ngoại thương – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh được thành

thương sẽ được duy trì ở mức không thấp hơn 51%.
Năm 2007 là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam với một loạt sự kiện như ký hợp đồng tư vấn quốc tế, xây dựng
phương án cổ phần hóa trình Chính phủ phê duyệt, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược
nước ngoài, chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng và niêm yết cổ phiếu của Ngân
hàng trên sàn giao dịch chứng khoán, đặc biệt Ngân hàng Ngoại thương được bầu
chọn là “Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối cho doanh nghiệp tốt nhất năm 2007”
do tạp chí Asia Money bình chọn.
Ngân hàng Ngoại thương – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh được xem là
chi nhánh có tổng tích sản lớn nhất tại Thành phố và đạt mức tăng trưởng hàng năm
trên 15%. Nguồn vốn huy động liên tục tăng và chiếm trên 1/5 tổng nguồn vốn của
toàn bộ các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Là trung tâm về thanh toán quốc tế (chiếm
40% tổng kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh), là đầu
mối về kinh doanh ngoại tệ và là một trong những ngân hàng hàng đầu trong các lĩnh
vực đầu tư tín dụng, bảo lãnh, thanh toán hối đoái, nghiệp vụ ngân quỹ và dịch vụ
thanh toán thẻ ...
Với đội ngũ cán bộ được đào tạo lành nghề, nhiệt tình, năng động và dày dạn
kinh nghiệm, cùng với hệ thống trang thiết bị tin học tiên tiến, Ngân hàng Ngoại
thương – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đang phấn đấu trở thành một ngân hàng
hiện đại.
2.2 Thực trạng về nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bằng công cụ phái sinh
Trang 25
tại Ngân hàng Ngoại thương – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.1 Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn.
a. Thực trạng các giao dịch ngoại tệ kỳ hạn tại VCB-HCM.
Từ khi ra đời năm 1998 đến nay, giao dịch ngoại tệ kỳ hạn đã được VCB-
HCM sử dụng trong kinh doanh với doanh số giao dịch tăng dần qua các năm (tỷ lệ
tăng hằng năm thấp nhất là 7,55%, cao nhất là 40,40%). Điều đó chứng tỏ giao dịch
ngoại tệ kỳ hạn rất cần thiết đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và việc
vận dụng giao dịch kỳ hạn của VCB-HCM cũng rất hiệu quả. Đặc biệt là sau khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status