LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đẩy mạnh cải cách kinh tế và thực hiện CNH – HĐH nhằm mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội nhanh, có hiệu quả và bền vững trên cơ sở phát
huy thế mạnh,lợi thế so sánh của đất nước, gắn với nhu cầu thò trường trong
nước và ngoài nước. Với chức năng thu hút và phân bổ vốn trong nền kinh tế,
hoạt động tín dụng ngân hàng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình tăng
trưởng kinh tế quốc dân.Hơn nữa, trong điều kiện thực tế của nước ta, khi mà
hầu hết nhu cầu giao lưu vốn trong nền kinh tế đều thông qua hệ thống các
ngân hàng thương mại (NHTM), thì mối quan hệ này lại càng gắn bo,ù khắng
khít, phụ thuộc và chi phối lẫn nhau.
Có thể thấy rằng, giữa hoạt động tín dụng với tăng trưởng kinh tế có mối
quan hệ biện chứng, trong đó hoạt động tín dụng chỉ có thể có cơ hội mang lại
hiệu quả cao và phát triển bền vững trong dài hạn nếu nền kinh tế phát triển ổn
đònh và vững chắc,nghóa là cơ cấu kinh tế được chuyển dòch đúng đònh hướng;
Khi cơ cấu kinh tế chậm được đổi mới, tức là các lợi thế so sánh của quốc gia
chưa được khai thác triệt để, sẽ làm cho hoạt động tín dụng trở nên kém sôi
động, giảm sút về hiệu quả và rủi ro sẽ gia tăng. Ngược lại, hoạt động Tín
dụng cũng có vai trò tác động rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh
tế, nếu hoạt động tín dụng được điều hành linh hoạt và phù hợp sẽ trở thành
nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế theo các đònh hướng đã
xác đònh; Vốn tín dụng ngân hàng hoà cùng các nguồn vốn đầu tư khác, khơi
dậy được tiềm năng đất đai, lao động cùng với khoa học công nghệ, tạo sức bật
cho kinh tế phát triển, đồng thời góp phần chuyển dòch cơ cấu kinh tế của thành
phố theo hướng tích cực. Còn nếu hoạt động tín dụng được điều hành thiếu linh
hoạt,trì trệ thì sẽ trở thành nhân tố kìm hãm quá trình tăng trưởng kinh tế .
Bởi vậy, xét ở góc độ quản lý vó mô thì trong điều hành hoạt động tín
dụng, yêu cầu đặt ra không chỉ là gia tăng qui mô dư nợ tín dụng để đáp ứng
hoạt động tín dụng đầu tư của Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh
4/ TP. Hồ Chí Minh.
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tín dụng là hệ thống kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho
vay,nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ
thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội .
3.
Chức năng của tín dụng : tín dụng có 3 chức năng .
*
Một là : chức năng tập trung và phân phối lại tiền tệ .
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng
mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội điều hòa từ nơi “thừa “sang nơi “thiếu
4
“ để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế. Tập trung và phân phối lại tiền tệ
là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của tín dụng .
- Ở mặt tập trung vốn tiền tệ : nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng
mà các nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân
chúng,vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức
kinh tế xã hội.
- Ở mặt phân phối lại tiền tệ : đây là mặt cơ bản của chức năng này -
đó là sự chuyển hoá sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu
cầu của sản xuất lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong xã
hội.
Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo
nguyên tắc hoàn trả, vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, một mặt nó kích thích
tập trung vốn, mặt khác nó thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả.
Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng mà
phần lớn nguồn tiền trong xã hội từ chỗ là tiền “ nhàn rỗi “ một cách tương
đối đã được huy động và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống,
làm tăng hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội.
*
4.
Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thò trường :
Nói đến vai trò của tín dụng, nghóa là nói đến sự tác động của tín dụng đối
với nền kinh tế xã hội. Chẳng hạn nếu để tín dụng phát triển tràn lan không
kiểm soát thì không những làm cho nền kinh tế không phát triển mà nó lại
làm cho lạm phát gia tăng gây ảnh hưởng tới nền kinh tế xã hội.Về mặt tích
cực, tín dụng có vai trò rất to lớn :
* Tín dụng góp phần thúc đẩy hàng hoá lưu thông phát triển :
- Tín dụng trước hết là nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế trong qúa trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy
các đơn vò hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình.
- Tín dụng không những là công cụ tập trung vốn mà còn là công cụ
thúc đẩy tích tụ vốn cho các xí nghiệp, tổ chức kinh tế thực hiện tái sản xuất
mở rộng,đẩy nhanh nhòp độ phát triển của nền kinh tế hàng hoá - tạo ra nhiều
khối lượng sản phẩm, dòch vụ.
Có thể nói trong mọi nền kinh tế xã hội, tín dụng đều phát huy vai
trò to lớn nói trên của nó .
+ Đối với doanh nghiệp : tín dụng góp phần cung ứng vốn bao gồm
vốn cố đònh, vốn lưu động.
+ Đối với dân chúng : tín dụng là cầu nối giữa tín dụng và đầu tư .
+ Đối với toàn xã hội : tín dụng làm tăng hiệu suất sử dụng vốn .
Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế xã hội tạo ra động
lực phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế
đựơc .
* Tín dụng góp phần ổn đònh tiền tệ, ổn đònh giá cả:
Trong khi thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phốí lại vốn
tiền tệ,tín dụng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu thông trong nền
kinh tế, đặc biệt là tiền mặt nằm trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp
lực lạm phát. Nhờ vậy góp phần làm ổn đònh tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng
Để thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa đất
nước,thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện
nay cũng như có đủ sức tham gia vào qúa trình hội nhập quốc tế đến năm
2006 thì việc đòi hỏi các nhu cầu vốn đầu tư rất lớn. Để thoả mãn các nhu
cầu vốn đầu tư rất lớn đó, cần khai thác tối đa các nguồn vốn trong nước và
các nguồn vốn bên ngoài.
Ở trong nước, bên cạnh đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho
những công trình lớn, trọng điểm có ý nghóa toàn quốc thì đầu tư qua tín dụng
Ngân hàng càng có vò trí thật lớn. Thông qua tín dụng đầu tư mà góp phần
đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, khuyến khích các ngành, các thành phần
kinh tế tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao
động, làm ra ngày càng nhiều hàng hóa,của cải cho xã hội.
2/
Những vấn đề cơ bản về tín dụng đầu tư:
2.1/ Điều kiện cho vay:
2.1.1/
Điều kiện về pháp lý của người vay:
+ Khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam
- Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự .
7
- Cá nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, đại diện của hộ gia đình,đại
diện của tổ hợp tác và thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
+ Khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài:phải có năng
lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy đònh pháp luật của
nước mà pháp nhân đó có quốc tòch hoặc cá nhân đó là công dân,nếu pháp
luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghóa
Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy đònh hoặc được
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghóa Việt Nam ký kết hoặc tham
8
Trường hợp khách hàng là doanh nghiêp có lỗ theo kế hoạch do mới
thành lập và đi vào hoạt động chưa quá 3 năm nhưng xét thấy có khả năng
thực hiện đúng kế hoạch lỗ dự kiến trong dự án đầu tư đã được cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt và lỗ kế hoạch không ảnh hưởng đến việc trả nợ vay
gốc và lãi đúng hạn, thì có thể xem xét, quyết đònh cho vay.
Khách hàng lỗ theo phương án thành lập ban đầu, khách hàng đang
có dư nợ tại NHCT kinh doanh thua lỗ nếu đủ điều kiện cho vay khác theo
quy chế hiện hành của NHNN nếu thấy cần thiết đầu tư thì trình Tổng Giám
đốc Ngân hàng Công thương Việt nam quyết đònh.
2.1.4/ dự án kinh doanh phải có tính khả thi
Tình hình cung cầu trên thò trường đối với các yếu tố đầu vào, đầu ra
của sản phẩm mà phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư tạo ra; kinh
nghiệm, năng lực triển khai phương án/ dự án; Khả năng quản lý và thực hiện
của chủ dự án.
2.1.5 Điều kiện phòng ngừa rủi ro :
2.1.5.1/ Bảo hiểm: Khách hàng phải mua bảo hiểm tài sản là đối tượng
vay vốn,mà theo pháp luật Việt Nam quy đònh phải mua bảo hiểm. Trường
hợp pháp luật không quy đònh phải mua bảo hiểm nhưng xét thấy cần thiết,
Giám đốc Ngân hàng cho vay xem xét quyết đònh khách hàng vẫn phải mua
bảo hiểm .
Khách hàng phải cam kết và mua bảo hiểm đối với tài sản hình thành
sau khi vay. Nếu khách hàng không chòu mua bảo hiểm thì Ngân hàng cho
vay tiến hành mua bảo hiểm và ghi nợ tài khoản tiền vay của khách hàng .
2.1.5.2/ Bảo đảm tiền vay:Bảo đảm tiền vay nhằm tăng trách nhiệm bảo
đảm nghóa vụ trả nợ của khách hàng. Hình thức bảo đảm tiền vay của khách
hàng là cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh.
Cầm cố: Máy móc, thiết bò,phương tiên vận tải, nguyên –nhiên-vật
khi đơn vò phụ thuộc không trả được nợ.
-Trường hợp đơn vò chính có quan hệ tiền gửi, tiền vay trong hệ
thống NHCTVN, CN-NHCT cho vay đơn vò chính chòu trách nhiệm thẩm đònh
và xác đònh hạn mức tín dụng cao nhất cho khách hàng, trong đó chia ra hạn
mức của đơn vò chính, hạn mức của đơn vò phụ thuộc và thông báo đến chi
nhánh ngân hàng Công thương cho vay đơn vò phụ thuộc. CN-NHCT cho vay
đơn vò phụ thuộc chiụ trách nhiệm thẩm đònh và quyết đònh cho vay theo từng
dự án, phương án vay của khách hàng trong phạm vi hạn mực tín dụng đã
được CN – NHCT cho vay đơn vò chính thông báo.
- Các trường hợp khác (đơn vò chính là doanh nghiệp nhà nước
không có quan hệ tiền gửi, tiền vay trong hệ thống NHCTVN), CN – NHCT
thẩm đònh, giải trình rõ nguyên nhân, trình Tổng Giám đốc NHCTVN quyết
đònh.
+ Pháp nhân khác: ngoài qui đònh như pháp nhân là doanh nghiệp nhà
nước thì phải có văn bản bảo lãnh của ngân hàng thương mại quốc doanh,
ngân hàng Đầu tư và phát triển, Quỹ hổ trợ đầu tư phát triển và cho vay đơn
vò chính hoặc được Tổng Giám đốc Ngân hàng Công thương chấp nhận bằng
văn bản.
2.2/
Đối tượng cho vay :
2.2.1/ Đối tượng cho vay ngắn hạn là giá trò vật tư hàng hoá ( kể cả thuế
GTGT) và các khoản chi phí để thực hiện các phương án sản xuất kinh
doanh, phục vụ đời sống..., thuế xuất nhập khẩu để làm thủ tục xuất nhập
khẩu, nếu giá trò lô hàng xuất nhập khẩu đó được hình thành bằng vốn vay
của ngân hàng.
2.2.2/ Đối tượng cho vay trung dài hạn là các công trình, hạng mục công trình
hay dự án đầu tư có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trực tiếp, nhanh
chóng phát huy tác dụng thu hồi vốn nhanh, cụ thể:
10
vốn tự có của NHCTVN hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều
nguồn thì Tổng Giám đốc NHCTVN ky,ù trình Thống đốc và Thủ tướng chính
phủ phê duyệt. Việc xác đònh vốn tự có của NHCTVN để làm căn cứ tính
toán giới hạn cho vay.
- Không cho vay đối với các đối tượng là tổ chức kiểm toán, kiểm toán
viên đang kiểm toán tại NHCTVN; kế toán trưởng của NHCTVN, Thanh tra
viên đang thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại NHCTVN; các cổ đông lớn của tổ
chức tín dụng (sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp).
2.3.3/ Thời hạn cho vay :
Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn cho vay căn cứ vào chu
kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của phương án / dự án đầu tư,
11
khả năng trả nợ cuả khách hàng và nguồn vốn vay của NHCTVN. Đối với
các pháp nhân là Việt nam và nước ngoài thời hạn cho vay không quá thời
hạn hoạt động còn lại theo quyết đònh thành lập hoặc giấy phép hoạt động
tại Việt nam, đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá
thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam.
2.4/ Thể loại & phương thức cho vay:
2.4.1/ Thể loại cho vay:
- Cho vay ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12
tháng.
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60
tháng.
- Cho vay dài hạn là khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 60
tháng trở lên.
2.4.2/ Phương thức cho vay:
- PHƯƠNG THỨC CHO VAY TỪNG LẦN: Cho vay từng lần được
áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi
lần vay vốn,khách hàng và NHCTVN làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết
- Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với khách hàng có
nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất - kinh doanh, luân
chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần.
Hạn mức tín dụng: NHCV căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất,
kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá
trò tài sản bảo đảm tiền vay theo quy đònh của NHCTVN, khả năng nguồn
vốn của NHCT để tính toán và thỏa thuận với khách hàng một hạn mức tín
dụng nhưng không được vượt quá mức ủy quyền của Tổng Giám đốc
NHCTVN duy trì trong thời hạn nhất đònh hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh
doanh. Việc thỏa thuận này phải được thể hiện và ký kết bằng HĐTD.
Thời hạn cho vay được xác đònh căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh
doanh,khả năng trả nợ của khách hàng để ghi vào HĐTD và từng giấy nhận
nợ.
Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng được rút vốn phù
hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế nhưng phải đảm bảo không
vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết. Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng phải
lập giấy nhận nợ với ngân hàng, kèm theo bảng kê các chứng từ sử dụng tiền
vay và các giấy tờ liên quan đến sử dụng tiền vay. NHCV kiểm tra các tài
liệu trên đảm bảo phù hợp với nội dung sử dụng vốn vay theo các điều khoản
đã ghi trong HĐTD và ký vào giấy nhận nợ của khách hàng.
Thu nợ gốc và lãi tiền vay:
- Thu nợ gốc: Được tiến hành theo thỏa thuận ghi trên HĐTD và
từng giấy nhận nợ, khách hàng chủ động trả nợ khi đến hạn và có thể trả nợ
trước hạn.
- Tính và thu lãi: NHCV thỏa thuận với khách hàng cách tính và thu
lãi cùng với ngày trả nợ gốc hoặc một ngày quy đònh được ghi vào HĐTD.
Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng khách hàng có nhu cầu điều
chỉnh tăng hạn mức tín dụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh dòch
vụ,phải có văn bản đề nghò và NHCV xem xét, nếu thấy hợp lý thì chấp
thuận điều chỉnh hạn mức tín dụng và cùng khách hàng ký phụ lục bồ sung
Trường hợp hết thời gian giải ngân theo lòch đã thỏa thuận ban đầu mà
khách hàng chưa sử dụng hết vốn vay ghi trong HĐTD, nếu khách hàng đề
nghò thì NHCV xem xét có thể thỏa thuận và ký kết bổ sung HĐTD, tiếp tục
phát tiền vay phù hợp với tiến độ thi công cụ thể.
NHCV và khách hàng thỏa thuận trong HĐTD mức phí cam kết sử
dụng tiền vay trong trường hợp khách hàng không sử dụng hết mức vốn vay
đã thỏa thuận.
+ Thời hạn cho vay: là thời gian kể từ ngày phát sinh khoản vay đầu tiên
(ngày khởi công,giải ngân ) trải qua giai đoạn thi công công trình hoàn thành
đưa vào sử dụng cho tới khi bên vay trả hết nợ cho Ngân hàng .
-
Đối với cho vay đầu tư mới : khỏan cho vay dùng để cải tiến kỷ thuật, hợp
lý hóa dây chuyền sản xuất, đổi mới trang thiết bò của doanh nghiệp.
- Đối với cho vay để đầu tư mở rộng : thời hạn cho vay không vượt quá thời
hạn khấu hao Tài sản cố đònh ( thường không vượt quá 80% thời hạn khấu
hao). Cho vay đầu tư mở rộng dùng để xây dựng mới các cơ sở sản xuất-chế
14
biến-khai thác, cho vay đối với các cơ sở hạ tầng dòch vụ, cho vay mở rộng
quy mô sản xuất hiện có,gia tăng lượng sản phẩm để chiếm lónh thò trường.
Thời hạn = Thời hạn chuyển + Thời hạn ưu đãi + Thời hạn hoàn
cho vay giao tín dụng tín dụng trả tín dụng
(giải ngân) (thời gian ân hạn) (thời gian trả nợ)
-
Thời hanï chuyển giao : tính từ ngày nhận tiền vay đầu tiên đến ngày kết
thúc việc nhận tiền vay.
- Thời hạn ưu đãi tín dụng : tính từ sau ngày công trình hoàn thành đến trước
ngày bắt đầu trả nợ.Nếu công trình hoàn thành,đưa vào sử dụng và trả nợ
ngay thì không có thời hạn ưu đãi tín dụng. Trường hợp trong quá trình xây
15
Đến kỳ hạn nợ, khách hàng chủ động nộp đủ số tiền trả nợ theo thỏa
thuận,khách hàng có thể trả nợ trước kỳ hạn nợ nhưng không được tính lại
tiền lãi đã được xác đònh.
Đến kỳ hạn trả nợ hoặc hết thời hạn cho vay, khách hàng không trả
được nợ do nguyên nhân khách quan có đơn đề nghò thì ngân hàng xét quyết
đònh cho chuyển số nợ sang kỳ hạn trả nợ tiếp theo hoặc cho gia hạn nợ, nếu
không chấp nhận thì chuyển sang nợ quá hạn. Khách hàng phải trả thêm số
tiền lãi tính trên số tiền nợ gốc được gia hạn hoặc nợ gốc chuyển quá hạn
trong thời gian gia hạn hoặc chuyển nợ quá hạn.
-PHƯƠNG THỨC CHO VAY THÔNG QUA NGHIỆP VỤ PHÁT
HÀNH VÀ SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG: Là việc NHCT chấp nhận cho
khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để
thanh toán tiền mua hàng hoá, dòch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự
động hoặc điểm ứng tiền mặt đại lý của NHCT.
- PHƯƠNG THỨC CHO VAY THEO HẠN MỨC TÍN DỤNG DỰ
PHÒNG: Ngoài hạn mức tín dụng đầu tư, NHCT cam kết đảm bảo sẵn sàng
cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất đònh để đầu tư
cho dự án. Ngân hàng và Chủ đầu tư thỏa thuận một hạn mức dự phòng cho
công trình dự án đó nhằm khi đơn vò chủ đầu tư sử dụng hết hạn mức tín dụng
mà công trình dự án vẫn chưa hoàn thành thì đơn vò này được Ngân hàng cho
vay theo hạn mức tín dụng dự phòng để thúc đẩy công trình hoàn toàn đúng
thời hạn. Tỷ lệ hạn mức dự phòng thường chiếm 10% - 30% hạn mức tín dụng
đầu tư.
Hạn mức tín dụng = Hạn mức tín dụng - Tỷ lệ
dự phòng đầu tư dự phòng
NHCV và khách hàng thỏa thuận những nội dung sau: Thời hạn hiệu
lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí cam kết rút vốn vay cho hạn
- Vòng quay vốn tín dụng: tương tự như vòng quay vốn lưu động trong
các doanh nghiệp, vòng quay vốn tín dụng càng nhiệu hiệu qủa tín dụng càng
cao.
- Tỷ lệ nợ qúa hạn/ Tổng dư nợ: Nợ qúa hạn do nguyênn nhân chủ
quan hay khách quan đều có thể dẫn đến kết qủa xấu cho hoạt động kinh
doanh của NHTM. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín
dụng đầu tư của các NHTM là nhằm tăng khả năng đầu tư cho vay, có giải
pháp ngăn chặn không để cho nợ qúa hạn phát sinh. Chỉ tiêu nợ qúa hạn/Tổng
dư nợ đầu tư chỉ cho phép trong khoảng tối đa 5%/ Tổng dư nợ. Nếu chỉ tiêu
này vượt qúa 5%, chất lượng Tín dụng đầu tư của NHTM không tốt cần phải có
giải pháp quản lý chặt chẽ hơn.
- Tỷ lệ tăng dư nợ tín dụng đầu tư: Tỷ lệ này càng lớn thể hiện chính
sách tín dụng đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp ở mức độ cao. Tỷ lệ tăng
dư nợ tín dụng đầu tư cần ở mức độ phù hợp với các chỉ tiêu tăng trưởng kinh
tế, tỷ lệ lạm phát và quy mô cơ cấu xã hội.
2/ Kinh nghiệm hoạt động tín dụng đầu tư của NHTM Việt Nam và Khu
vực
+ Hoạt động tín dụng đầu tư của NHTM dưới cơ chế điều hành chính
sách tiền tệ linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với nền kinh tế thò trường chòu sự chi
phối tác động của các quy luật kinh tế khách quan, tình hình tăng trưởng và
phát triển kinh tế đất nước của Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã ngày càng
hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế. Các hình thức đầu tư đa dạng tạo khả
17
năng đáp ứng vốn cho các hoạt động Thương mại, Dòch vụ – Du lòch, Công
nghiệp và Nông nghiệp…đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vốn cho sự phát triển
kinh tế đồng thời thúc đẩy các dòch vụ thanh toán, ngân qũy của hệ thống
NHTM mại phát triển. Hoạt động tín dụng của NHTM trong các tháng đầu năm
2004 đạt được cụ thể như sau: Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế ước đạt 587.456
tỷ đồng, tăng trên 29% so với đầu năm, doanh số cho vay ước đạt 142.589 tỷ
kinh tế Liên doanh trong điều kiện kinh tế quốc doanh đang bộc lộ những
khuyết điểm yếu kém về quản lý - kinh doanh, đang trong qúa trình sắp xếp cổ
phần hóa doanh nghiệp.
18
- Nâng cao vai trò – đạo đức - trách nhiệm của cán bộ làm công tác tín
dụng đầu tư kể cả cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác trực tiếp.
- Hiện đại hóa quy trình tín dụng đầu tư để rút ngắn thời gian giải quyết
một hồ sơ vay vốn, kòp thời có thông tin chính xác về các điều kiện vay vốn -
tình hình tài chính của khách hàng từ đó đánh giá –xếp loại doanh nghiệp, có
kế hoạch đầu tư thích hợp đối với từng khách hàng; giảm thiểu rủi ro trong qui
trình thu nợ – lãi vay; tiến tới hội nhập Quốc tế và khu vực.
phủ đã ban hành Nghò đònh 53/HĐBT hình thành hệ thống Ngân hàng hai cấp:
Ngân hàng nhà nước làm chức năng quản lý Nhà nước về Tiền tệ - Tín
dụng. Ngân hàng chuyên doanh trực tiếp Kinh doanh Tiền tệ - Tín dụng - và
dòch vụ ngân hàng.
NHCTVN một trong bốn ngân hàng thương mại lớn thuộc sở hữu nhà
nước,được hình thành theo Quyết đònh QĐ 402/QĐ Ngày 14/11/1990 của Hội
đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ tứơng Chính phủ). Với tên gọi Ngân hàng Công
thương Việt Nam,tên giao dòch INDUSTRIAL COMMERCIAL BANK OF
VIETNAM ( viết tắt Vietincombank).Vốn điều lệ được cấp ban đầu là 200 tỷ
đồng ( tương đương 30 triệu USD thời điểm bấy giờ). Vốn này được bổ sung
hàng năm theo Quyết đònh số
67/ QĐNH5 Ngày 27/3/93 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đến
năm 1996 theo Quyết đònh của Thống đốc Ngân hàng Việt nam số 258/QĐ-
NH5 Ngày 24/6/1996 thì vốn điều lệ của hệ thống NHCTVN được xác đònh lại
là 1.100 tỷ đồng và đến tháng 10/2003 để thực hiện đề án cơ cấu lại NHCTVN,
đưa chương trình hiện đại hóa Ngân hàng tiến đến các tiêu chuẩn khu vực và
quốc tế đạt hiệu qủa vốn điều lệ của NHCTVN được cấp bổ sung 800 tỷ nâng
tổng số vốn điều lệ lên 1.900 tỷ đồng.
NHCTVN đã có một mạng lưới kinh doanh rộng lớn, trải rộng trên
khắp 60 Tỉnh,Thành phố gồm Hội sở chính, 2 sở Giao dòch, 74 Chi nhánh cấp
I, 40 Chi nhánh cấp II, 144 Phòng giao dòch,450 Quỹ Tiết kiệm, 3 Công ty
hạch toán độc lập,3 Công ty liên doanh với nước ngoài là Ngân hàng
INDOVINA và Công ty cho thuê tài chính quốc tế VILC và Công ty liên
doanh Bảo hiểm Châu á - NHCT, 2 đơn vò sự nghiệp là Trung tâm đào tạo và
20
Trung tâm Công nghệ thông tin, 3 công ty hạch toán độc lập là Công ty cho
thuê Tài chính, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, Công ty chứng
khoán. Đội ngũ CBCNV đã trưởng thành đào tạo lại với trình độ kinh nghiệm
thực tiễn ngày càng được nâng lên, không ngừng lao động tích cực, sáng
phần kinh tế ngoài quốc doanh, tăng cường hợp tác đồng tài trợ cho các dự án
lớn thông qua cấp tín dụng trung và dài hạn. Đi đầu trong công tác cải tiến
công nghệ thông tin và hiện đại hoá hoạt động ngân hàng, chính thức đưa
chương trình hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán vào hoạt động
kể từ tháng 11/2003 và đang tiến hành điều chỉnh lại tổ chức, cơ chế quản lý
và hoạt động kinh doanh theo mô hình ngân hàng hiện đại. Là ngân hàng đầu
21
tiên của Việt nam có Website nâng chất lượng dòch vụ và thanh toán quốc tế,
ứng dụng chương trình thanh toán điện tử phục vụ chuyển tiền tức thời cho
khách hàng, quản lý điều hành vốn tập trung.
NHCTVN là thành viên chính thức của Hiệp hội các Ngân hàng Châu Á
(ABA),thành viên Hiệp hội thanh toán viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu
(SWIFT),thành viên chính thức của hiệp hội VISA, Hiệp hội các Ngân hàng
Việt Nam, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Tháng 5/2002 là thành viên tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên
Ngân hàng của NHNN.
Đến nay đã đưa vào vận hành hệ thống dòch vụ tiền tự động (ATM), đang
triển khai phát hành và thanh toán thẻ VISA, MASTER - CARD, thẻ tiền lẻ,
dòch vụ NH điện tử ; năm 2003 đang kiểm tra, triển khai ứng dụng hiện đại hoá
các nghiệp vụ NH theo hướng xử lý các dữ liệu, hạch toán tập trung, tự động
hoá cao trong công tác thanh toán và sử lý tác nghiệp. Trong 16 năm qua,
NHCTVN đã chú trọng đầu tư trang thiết bò cơ sở vật chất hàng trăm tỷ đồng,
đến nay 60% hệ thống trụ sở giao dòch kiêm kho từ trụ sở chính đến các Chi
nhánh được xây dựng khang trang, hiện đại. II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG VIỆT NAM:
1.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng Công
quan tâm hàng ngày trong điều hành để đối phó với những rủi ro không lường
trước được. Cuối năm 2003,Ngân hàng nhà nước phát hành đồng tiền mới
nhưng vẫn giữ vững ổn đònh giá trò VNĐ là một trong những thành công trong
quản lý tiền tệ quốc gia.Các ngành và các Tổng Công Ty đang trong thời gian
thực hiện chiến lược phát triển,chiến lược tăng tốc đến 2005 và 2010 khiến
nhu cầu vốn đầu tư tăng lên.
+ Vốn của các Doanh nghiệp dành cho đầu tư hết sức hạn chế, trong
khi thò trường vốn chưa phát triển dẫn đến nhu cầu vốn vay Ngân hàng lớn.
+ Quy chế tín dụng được hoàn thiện và đổi mới theo hướng trao quyền
chủ động cho các Ngân hàng thương mại nên đối tượng cho vay mở rộng hơn,
diện phải trình Ngân hàng Nhà nước ít hơn. Bên cạnh đó, các quy trình của
Chính phủ liên quan đến hoạt động tín dụng Trung dài hạn như Quy chế đầu
tư xây dựng cơ bản,quy chế đấu thầu, luật khuyến khích đầu tư trong nước
...cũng đã có nhiều thay đổi theo hướng thông thoáng, cởi mở hơn.
1.2 Nhân tố chủ quan :
+ Việc phân bổ trích lập dự phòng rủi ro chưa theo nguyên tắc tính
đúng, tính đủ cũng tạo nên tình trạng tăng trưởng tín dụng mà chưa thực sự
quan tâm đến chất lượng tín dụng .
+ Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản phổ biến, đặc biệt trong thời
gian trước 2003. Các quy đònh về điều kiện cho vay không có đảm bảo bằng
tài sản hầu như đònh tính mà thiếu hệ thống chỉ tiêu đònh lượng.
+ Tình trạng cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng: giảm lãi suất
cho vay để tranh giành khách hàng, thậm chí cả việc hạ thấp tiêu chuẩn tín
dụng (như giảm mức vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, tăng cho vay không
có đảm bảo bằng tài sản, thông thoáng về thủ tục thế chấp cầm cố tài sản ...).
2/ Thực trạng hoạt động cho vay:
2.1/ Tình hình hoạt động cho vay:
+ Hoạt động tín dụng theo quan điểm nâng cao chất lượng tăng trưởng
tín dụng, chủ động điều chỉnh cơ cấu tín dụng phù hợp với sự chuyển dòch cơ
cấu kinh tế và mục tiêu chiến lược của cả nước. Coi trọng đầu tư vào những
đảm bảo tính hiệu qủa và khả thi.
+ Tăng cường cho vay có đảm bảo bằng tài sản, thực hiện rà soát lại
từng hồ sơ vay vốn, tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiệp vụ tín dụng trước khi
cho vay, kiểm tra thường xuyên tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng
sau khi phát tiền vay nhằm kòp thời xử lý những trường hợp khách hàng sử
dụng vốn vay không đúng mục đích,kòp thời thu hồi nợ vay, giảm thiểu tối đa
rủi ro tín dụng.
+ Tổ chức hội nghò chuyên đề tín dụng do các CN thuộc NHCTVN để
toàn bộ Cán bộ tín dụng hiểu sâu sắc, toàn diện công tác tín dụng. Đào tạo
lại cho cán bộ tín dụng về nghiệp vụ tín dụng, kế toán doanh nghiệp, phân
tích tài chính doanh nghiệp,thẩm đònh dự án đầu tư, cơ chế, quy chế tín dụng.
+ Tham gia nghiên cứu phân tích, xây dựng chương trình hiện đại hoá
NHCTVN theo yêu cầu của NHNN góp phần hiện đại hoá hoạt động ngân
24
hàng,từng bước hội nhập kinh tế và khu vực. Thực hiện đúng quy trình quản
lý tín dụng của hệ thống NHCTVN, đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng
của hệ thống.
Tính đến sáu tháng đầu năm 2004, NHCTVN đạt dư nợ 66.567 tỷđồng
bằng 104 lần năm 1988û, chiếm 20% thò phần vốn cho vay nền kinh tế của
toàn ngành Ngân hàng, tốc độ tăng trưởng bình quân là 30% năm, tăng 5.155
tỷ đồng so với đầu năm 2003 tốc độ tăng là 8,4%, đạt 98% kế hoạch. Trong
đó:
a/ Phân theo loại tiền:
Dư nợ VNĐ là 56.509 tỷ đồng, tăng 3.723 tỷ đồng so đầu năm 2003
(chiếm tỷ trọng 84,9% dư nợ cho vay nền kinh tế ).
Dư nợ cho vay ngoại tệ qui VNĐ đạt 10.058 tỷ đồng, tăng 1.432 tỷ
đồng so với đầu năm 2003 ( chiếm tỷ trọng 15,1% dư nợ cho vay ).
b/ Phân theo đối tượng khách hàng:
Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước là 35.472 tỷ đồng, chiếm tỷ
20.546
33.105
38.910
97,00
99,50
84,91
60,00
59,53 18
27
3.652
22.07
7
26.44
7
3,00
0,50
15,09
40,00
40,47
25
Đến nay, dư nợ cho vay ở miền Bắc là 29.120 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng
43,7% dư nợ toàn hệ thống, trong đó khu vực Hà nội - Hải phòng - Quảng
Ninh là 19.689 tỷ đồng, chiếm 29,6% dư nợ toàn hệ thống. Miền Nam có số
dư 27.798 tỷ đồng chiếm 41,8% dư nợ cho vay toàn hệ thống, trong đó khu
vực Thành phố Hồ Chí Minh, các Khu công nghiệp Đồng Nai, Bình
+ Đến nay đã có 277 dự án do trụ sở chính NHCTVN tái thẩm đònh và
đồng ý cho vay, với số tiền 14. 617 tỷ đồng, đã giải ngân 10.790 tỷ đồng, dư
nợ 8.834 tỷ đồng,nợ quá hạn 136 tỷ đồng ( tỷ trọng 1,5% dư nợ ) và 69.792 dự
án do Sở giao dòch và các chi nhánh thẩm đònh, quyết đònh cho vay với số tiền