LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cám
ơn Trần Khánh Hưng, Tiến sỹ, phó chủ nhiệm bộ môn Lịch sử kinh tế trường Đại
học Kinh tế Quốc dân, đã tận tình hướng dẫn, xin chân thành cám ơn Thày Phạm
Huy Vinh, Tiến sỹ, chủ nhiệm bộ môn cùng các thày cô trong khoa Lịch sử Kinh tế
trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đã tận tình góp ý và động viên tôi trong quá trình
thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành cám ơn các thày cô Khoa Đào tạo Sau Đại học Trường, Khoa
Lịch sử Kinh tế của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, các bạn lớp Cao học Kinh tế
Chính trị khóa 18 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian khóa học vừa qua.
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới ông Giám đốc và các đồng nghiệp Quỹ Bảo vệ
môi trường Việt Nam đã cung cấp các tư liệu quý báu cho tôi thực hiện luận văn này.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả khả năng và
tâm huyết của mình, song không thể tránh được những thiếu sót, rất mong nhận
được những đóng góp quý báu của các thày cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Vũ Văn Chỉnh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CDM : Cơ chế phát triển sạch
KCN : Khu công nghiệp
NSNN : Ngân sách nhà nước
VEPF : Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
SƠ ĐỒ
BẢNG
HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong những năm đổi mới đã thu
được những thành tựu quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu kinh tế đạt được, công nghiệp hoá, hiện
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2004, là thời gian Quỹ Bảo vệ môi truờng
Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động đến nay.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp
thực hiện dự án bảo vệ môi trường
1.1.1. Sự cần thiết của việc hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu
tư thực hiện dự án bảo vệ môi trường
1.1.1.1. Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và
tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, Giữa môi trường và
sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự
phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường có thể gây ra ô nhiễm môi
trường tự nhiên hoặc nhân tạo. Vậy xã hôi loài người cần tìm ra con đường để giải
quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển.
Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải
chấp nhận phát triển, nhưng giữ cho phát triển không tác động một cách tiêu cực
đến môi trường
ii
1.1.1.2. Các biện pháp nhằm bảo vệ môi trường
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, có nhiều biện pháp bảo vệ môi
trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội được các nước áp dụng, tựu chung
lại có các nhóm biện pháp sau:
+ Các chính sách pháp luật của nhà nước về bảo vệ môi trường.
+ Biện pháp khoa học - công nghệ. Ứng dụng các thành tựu khoa học công
nghệ trong sản xuất, trong các dự án xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường.
+ Biện pháp tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường
lập Quỹ hỗ trợ đời sống. Quỹ môi trường ở các nước phát triển và các nước trong
khu vực Asean hiện nay hoạt động khá hiệu quả.
Từ nghiên cứu thực tế hoạt động của các Quỹ môi trường trên thế giới, có thể
rút ra một số bài học sau đây để các Quỹ Môi trường Việt Nam tham khảo vận dụng:
- Một là, cần phải nhân thức rõ: các chính sách làm cho đầu tư cho bảo vệ môi
trường là một lĩnh vực đầu tư có nhiều cơ hội, có thể mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội,
- Hai là, cần đa dạng hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các
nguồn đầu tư tài chính cho mục tiêu bảo vệ môi trường
- Ba là, lựa chọn đúng các ưu tiên trong hoạt động bảo vệ môi trường làm
cơ sở cho việc định hướng và khuyến khích đầu tư tài chính cho lĩnh vực này;
- Bốn là, tăng cường và đề cao vai trò của khu vực doanh nghiệp trong đầu
tư bảo vệ môi trường.
- Năm là, trong các nguồn vốn của Quỹ, cần quan tâm nhiều hơn tới hai
nguồn vốn là ODA và nguồn vốn của tư nhân
- Sáu là, xác định đúng đắn vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực hoạt động
đầu tư tài chính cho bảo vệ môi trường,
- Bảy là, lãi suất không nên cố định mà phải để trong một khoảng dung sai
cho phép, Tùy theo dự án môi trường, hoặc tùy theo tình hình lạm phát hoặc tùy
thuộc mức lãi suất ngân hàng để điều chỉnh cho phù hợp
- Tám là, thời hạn cho vay của Quỹ môi trường cần phải linh hoạt, phù hợp
với tính chất đầu tư của dự án môi trường thường là dài
iv
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP Ở QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
2.1. Khái niệm về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam - VEPF, thành lập ngày 26 tháng 6 năm
2002 với bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ Bảo vệ môi truờng Việt Nam gồm:
1. Hội đồng quản lý Quỹ.
2. Ban Kiểm soát.
Tính đến hết tháng 12/2010, tổng số dự án Quỹ thực hiện tài trợ vốn là 176
nhiệm vụ dự án với tổng số vốn tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường là hơn
18,8 tỷ đồng.
2.2.1.3. Hỗ trợ lãi suất vay vốn sau đầu tư
Do mới đi vào hoạt động, nguồn vốn chưa đa dạng và hạn hẹp, việc bổ sung
nguồn vốn hàng năm chưa thực hiện được nên Quỹ chưa thực hiện triển khai được.
2.2.1.4. Hỗ trợ đối với dự án CDM:
Đây là nhiệm vụ rất mới bởi bản thân cơ chế phát triển sạch CDM là cơ chế
hợp tác quy định tại điều 12 Nghị Định thư KYOTO thuộc Công ước khung của
Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu có hiệu lực từ 16/02/2005.
Hiện nay, trong hoạt động này, Quỹ mới chỉ thực hiện nghiệp vụ hỗ trợ gần
600 triệu đồng cho hoạt động tuyên truyền về CDM và biến đổi khí hậu.
Tóm lại, việc sử dụng vốn của Quỹ đã đạt được những kết quả ban đầu tốt
đẹp , đã tiếp cận được các dự án, các hoạt động cần nguồn hỗ trợ. Tuy nhiên, kết
quả đó cũng chưa đạt được mục tiêu của Quỹ, hoạt động chủ yếu mới tập trung vào
vi
hoạt động cho vay, chiếm khoảng 95%, trong khi đó hoạt động tài trợ, hỗ trợ chiếm
chỉ chiếm 5%, đặc biệt hoạt động hỗ trợ lãi suất vay vốn các tổ chức tài chính, tín
dụng chưa thực hiện được.
2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
2.3.1. Những kết quả đạt được
Trong điều điều kiện khả năng hỗ trợ trực tiếp từ Ngân sách Nhà nước cho
công tác BVMT còn hạn chế, việc ra đời một định chế tài chính thu hút các nguồn
vốn trong và ngoài nước để hỗ trợ riêng cho việc gìn giữ, bảo vệ môi trường là cần
thiết và quan trọng. Những kết quả của các Quỹ Môi trường Việt Nam đã đạt được
cho đến nay đã phần nào chứng minh được tính đúng đắn trong quá trình tổ chức
thực hiện sau hơn 7 năm thực hiện nhiệm vụ được giao.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Về cơ chế, chính sách hoạt động sử dụng vốn của VEPF
- Những hạn chế trong nghiệp vụ cho vay:
cầu thực tế là khoảng 8.000 tỷ đến 20.000 tỷ đồng.
2.3.2.3. Sự hạn chế về năng lực tổ chức hoạt động cho Quỹ
2.3.2.4. Hoạt động tuyên truyền về chính sách hỗ trợ tài chính của VEPF:
Chưa thực sự được đẩy mạnh nên nhiều doanh nghiệp không nắm hết thông
tin để tiếp cận với VEPF.
2.4. Một số bài học kinh nghiệm
- Thứ nhất: Về phía các doanh nghiệp chưa nhận thấy hết trách nhiệm công
tác bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, do vậy chưa
mặn mà với các khoản hỗ trợ từ VEPF .
- Thứ hai, Vấn đề hạ lãi xuất cho vay thấp hơn nữa cần đặt ra.
- Thứ ba, về cơ chế và thủ tục hỗ trợ tài chính cần thay đổi sao cho các doanh
nghiệp tiếp cận nguồn hỗ trọ này ít gặp phiền hà, ít tốn kém thời gian,
- Thứ tư, VEPF có thể giói thiệu nguồn cung cấp công nghệ thiết bị sản suất
sạch cho doanh nghiệp.
viii
- Thứ năm, nguồn vốn vay từ VEPF với lãi xuất ưu đãi rất có thể bị các
doanh nghiệp sử dụng sai mục đích, Do vậy phải đấy mạnh công tác kiểm tra
thường xuyên tình hình sử dụng vốn vay.
- Thứ sáu, nên có hoạt động tài trợ cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi
trường, nhất là cơ quan thanh tra, kiểm tra ngành môi trường.
- Thứ bảy, cần lựa chọn đúng các ưu tiên trong hoạt động bảo vệ môi trường
làm cơ sở cho việc định hướng và hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực này;
Thứ tám, VEPF cần xây dựng đội ngũ chuyên viên chuyên nghiệp hơn,
- Thứ chín, ý thức bảo vệ môi trường là rất quan trọng. cho nên công tác
tuyên truyền, nâng cao ý thức của cộng đồng, của các doanh nghiệp cần thiết là một
trong những hoạt động của VEPF.
- Thứ mười, VEPF cần tổ chức giải thưởng môi trường giành cho các doanh
nghiệp nhận hỗ trợ tài chính ở VEPF và thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trưòng.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO VỆ
Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án , VEPF cần tiếp tục
nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy trình nghiệp vụ theo hướng thông
thoáng, gọn nhẹ, chủ động xử lý, phối hợp với các cơ quan chức năng. Nâng cao
chất lượng công tác thẩm định,
d. Hình thức hỗ trợ tài chính phải phù hợp với từng đối tượng:
+ Đối với làng nghề
+ Đối với doanh nghiệp và các khu công nghiệp
e. Nguyên tắc và điều kiện vay vốn
- Cần nới lỏng điều kiện đảm bảo vốn vay của các dự án bảo vệ môi trường
x
- Quỹ phải tính toán lại lãi suất cho vay ưu đãi để đảm bảo quyền lợi của chủ
DA. (có thể giao động từ 2-4%. Tùy theo từng tính chất của dự án và thời hạn vay).
- Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các dự án sau khi vay vốn.
3.3.1.2. Hoàn thiện công tác Hỗ trợ lãi suất vốn vay sau đầu tư:
Việc hỗ trợ lãi xuất vay vốn nên thực hiện dần hàng năm căn cứ vào một phần
nợ gốc mà dự án đã trả cho tổ chức tín dụng trong một thời gian thường là một năm.
3.3.1.3. Hoàn thiện công tác trợ giá đối với sản phẩm của dự án CDM
3.3.2. Gia tăng nguồn vốn cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
3.3.2.1. Mục tiêu huy động vốn cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đến
năm 2015
- Bảo đảm vốn điều lệ 3000 tỷ đồng từ Ngân sách Nhà nước và 10% kinh phí
dành cho hoạt động quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường hàng năm.
- Huy động tối đa tiền đền bù thiệt hại về môi trường của các tổ chức, cá
nhân Huy động tối đa tiền thu phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
- Huy động hiệu quả các nguồn vốn nước ngoài.
3.3.2.2. Giải pháp tăng cường huy động vốn cho VEPF
- Đa dạng hoá các nguồn vốn hoạt động trong đó cần phát triển các nguồn
thu, ngoài phí bảo vệ môi trường như đã quy định, cần xem xét, mở rộng đối tượng
nộp phí như chất thải rắn, chất thải khí…., tăng mức thu phí bảo vệ môi trường cao
hơn mức hiện nay theo lộ trình phát triển đất nước giống như các nước phát triển
Nghiên cứu đề tài “Hoạt động hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp của
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam”, học viên đã hoàn thành những mục tiêu đề ra
trong nghiên cứu và có những đóng góp sau:
1- Làm rõ cơ sở lý luận về hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đồng thời, luận văn cũng làm rõ kinh
nghiệm thực tiễn về hoạt động hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp của Quỹ môi
trường ở một số nước trên thế giới.
2- Tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng hoạt động hỗ trợ tài chính đối với
các doanh nghiệp của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam từ năm 2004 đến nay. Từ
đó, luận văn đã chỉ rõ những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế cùng những
nguyên nhân và rút ra một số bài học kinh nghiệm là cơ sở để đề xuất phương
hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ.
3- Làm rõ mục tiêu, phương hướng về bảo vệ môi trường ở nước ta đến năm
2020, luận văn đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ
tài chính cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng dự án bảo vệ môi trường của Quỹ
Bảo vệ môi trường Việt Nam. Luận văn cũng đã đề xuất một số kiến nghị đối với
chính phủ và các bộ, ngành liên quan về những vấn đề cần được giải quyết nhằm
hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu tư xây
dựng các dự án bảo vệ môi trường.
xiii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong những năm đổi mới
đã đạt được những thành tựu quan trọng. Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều
năm có tốc độ khá cao, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu
nhập đời sống của các tầng lớp dân cư từng bước được cải thiện… Tuy nhiên bên
cạnh những thành tựu kinh tế - xã hội đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn bộc lộ
không ít những hạn chế. Đặc biệt là tăng trưỏng kinh tế nước ta chủ yếu vẫn dựa
trên nhân tố chiều rộng, đã xuất hiện tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên, tình trạng ô nhiễm môi truờng có xu hướng ngày càng gia tăng… Thực tế đó
án bảo vệ môi trường.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2004, thời gian Quỹ Bảo vệ môi truờng Việt
Nam được thành lập và đi vào hoạt động đến nay.
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic là những
phương pháp mang tính đặc thù của chuyên ngành nghiên cứu. Đồng thời luận văn
còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích kinh tế, đối chứng so sánh để làm
rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
4. Mục tiêu đóng góp dự kiến của đề tài nghiên cứu
- Hệ thống hoá làm rõ cơ sở lý luận về hỗ trợ tài chính đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Làm rõ thực trạng hoạt động hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp của
Quỹ Bảo vệ môi truờng Việt Nam và rút ra một số bài học kinh nghiệm.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ tài
chính đối với các doanh nghiệp của Quỹ Bảo vệ môi truờng Việt Nam.
2
5. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, mực lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động hỗ trợ tài chính đối
với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp của
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ tài chính đối với các doanh
nghiệp của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2020
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP THỰC HIỆN DỰ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
khái niệm Phát triển bền vững, trong đó nêu rõ là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu
cầu hiện tại của con người như không làm tổn hại tới sự thỏa nmãn nhu cuầc ủa thế
hệ tương lai. Phát triển bền vững là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp
lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con
người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau.
Thực tế những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trong phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế tăng trưởng khá, cơ sở vật chất kỹ thuật
của nền kinh tế từng bước được tăng cường, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo
hướng tiến bộ. Cùng với những thành tựu về kinh tế, thu nhập, đời sống của các
tầng lớp dân cư được nâng cao, các lĩnh vực giáo dục, y tế, việc làm… cũng đạt
được những thành tựu đáng chú ý.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế ở nước ta thời gian qua vẫn chủ yếu dựa vào
những nhân tố chiều rộng, còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên;
năng suất lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng
nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải. Nhiều nguồn tài nguyên
thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả. Đặc biệt, môi
trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến
mức báo động.
Nguyên nhân lớn gây ô nhiễm môi trường ở nước ta chính là chất thải từ các
nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp, các làng nghề và từ cuộc sống sinh hoạt
của dân cư.
5
Đối với sản xuất công nghiệp, ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp
có nguy cơ gia tăng. Theo báo cáo hiện trạng môi trường: năm 2000, hàng năm
tổng chất thải rắn công nghiệp khoảng hơn 7750 ngàn tấn, tổng lượng nước thải hơn
11.199 m
3
và liên tục gia tăng hàng năm (giai đoạn 2003-2010) trung bình 180%
đến 200% đối với chất thải rắn,và dự báo tới năm 2015, khối lượng chất thải rắn
ước tính 44 triệu tấn/năm. đối với lượng nước thải công nghiệp tính riêng đến năm
xuất nghề nông thôn đã tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30%
lực lượng lao động nông thôn, đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn
60% nhân lực lao động. Đây là hai khu vực sản xuất có tốc độ tăng trưởng nhanh,
tuy nhiên, cũng đối diện không ít bất cập trong quá trình phát triển đó, đặc biệt là
vấn đề bảo vệ môi trường.
Đồng hành với sự phát triển của các làng nghề, vấn đề ô nhiễm cũng đang
tăng trưởng với cấp số nhân. Với thực trạng đầu tư nhỏ lẻ, thiết bị thủ công hoặc
công nghệ lạc hậu, 100% nguồn nước thải, rác thải từ các làng nghề không được xử
lý đã góp phần không nhỏ gây ô nhiễm môi trường. Theo báo cáo của Tổng cục
môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, tình trạng ô nhiễm nước diễn ra đặc biệt
nghiêm trọng tại các làng nghề chế biến lượng thực thực phẩm, chăn nuôi và giết
mổ, làng nghề tái chế giấy (ô nhiễm hữu cơ), dệt nhuộm (nước thải chứa nhiều hóa
chất), tái chế kim loại (ô nhiễm kim loại nặng). Trong khi đó, ô nhiễm không khí diễn
ra nặng nề tại các làng nghề gốm sứ, vật liệu xây dựg và khai thác đá (ô nhiễm bụi),
làng nghề tái chế phế thải (ô nhiễm bụi chứa kim loại nặng và vật liệu độc hại).
Đáng chú ý là đối với các làng nghề là phần lớn chất thải rắn không được thu
gom, xả thẳng vào môi trường. Thực trạng hiện nay ở các làng nghề tại nước ta
chưa quan tâm tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như áp dụng công nghệ cho
bảo vệ môi trường, xuất phát từ nguyên nhân là: Quy mô nhỏ, trình độ, năng lực
người lao động hạn chế và đặc biệt là vốn đầu tư quá ít. Dự báo, ô nhiễm không khí,
nước và đất ở làng nghề còn diễn biến phức tạp nếu không kịp thời cương quyết áp
dụng các giải pháp quản lý và kỹ thuật. Cùng đó, ô nhiễm làng nghề cũng là nguyên
nhân gây ra các bệnh, dịch cho người dân lao động và sinh sống ở chính làng nghề.
7
Thực tế cho thấy, mối quan tâm đến môi trường đã từng không được coi
trọng, nhất là thời kỳ bao cấp. Đã có giai đoạn Việt Nam tiến hành phát triển công
nghiệp bằng mọi giá, khai thác tài nguyên được tiến hành một cách thiếu quy hoạch
và tự phát Những đánh giá về giá cả tài nguyên sai lệch do gò ép và điều tiết quá
mức của Nhà nước đã dẫn đến sự lãng phí về sử dụng tài nguyên. Suốt một thời
gian dài, tăng trưởng kinh tế ở nước ta dựa nhiều vào việc gia tăng vốn đầu tư, lao