Ẩn dụ có mặt khắp mọi nơi trong đời sống chúng ta, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn trong tư duy và hành động - Pdf 23


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“n dụ có mặt khắp mọi nơi trong đời sống chúng ta, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn trong tư duy
và hành động” (Lakoff & Johnson, 1980:3). n dụ được sử dụng rộng rãi và lâu bền trong giao tiếp hàng
ngày, trong khoa học, giáo dục, và cả chính trò. Phần lớn các quá trình tri nhận của chúng ta bao gồm việc tư
duy, cảm nhận và đánh giá thế giới chung quanh đều dựa trên các ý niệm mang tính ẩn dụ có nhiệm vụ cấu
trúc hoá và có ảnh hưởng đến ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng. Việc xem xét và đối chiếu các hiện tượng ẩn
dụ ý niệm xuyên ngôn ngữ có thể mang lại nhiều giá trò học thuật trong lónh vực ngôn ngữ học ứng dụng.
Một mặt, nó giúp tìm hiểu cách thức tư duy khác nhau ở những nền văn hoá khác nhau thông qua ẩn dụ. Mặt
khác, nó đem lại cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy, học tập ngoại ngữ một cách nhìn mới về ẩn dụ, giúp
họ xem xét các hiện tượng ẩn dụ ý niệm được cụ thể hoá trong các ngôn ngữ khác nhau. Nếu như một số ẩn
dụ ý niệm có tính phổ quát xuyên ngôn ngữ và tạo điều kiện thuận lợi cho người học ngoại ngữ, thì cũng có
rất nhiều các
h ẩn dụ hoá ý niệm khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau có thể dẫn đến những chuyển di
tiêu cực trong quá trình học ngoại ngữ.
2. L
ỊCH SỬ
NGHIÊN CỨUTrong ngôn ngữ kinh tế chúng ta có thể nhận ra rất nhiều ẩn dụ, chẳng hạn ‘dòng vốn’, ‘đầu tư chất
xám’ vv. Đây cũng là một lónh vực rất hứa hẹn đối với các nhà nghiên cứu về ẩn dụ. Chẳng hạn, Herrera và
White (2003) khi xem xét các ẩn dụ sử dụng trong báo chí kinh tế đã phát hiện một số lượng lớn các biểu
thức ẩn dụ. Smith (2005) lại nghiên cứu ẩn dụ sử dụng trong đàm phán kinh tế và ông nhận thấy rằng qua
cách dùng ẩn dụ thì người nghe có thể phát hiện ra ý đònh của đối tác. Trước đó thì các tác giả Hodgson

2
(1993)
; McCloskey (1995); Kubon-Gilke (1996) cũng đã nghiên cứu vai trò của ẩn dụ trong kinh tế học.

dụng vì mục đích phong cách, thể hiện sự đánh giá của tác giả bản tin, nó phản ánh quá trình chọn lọc ngôn
ngữ trong từng ngữ huống cụ thể và phù hợp từng ý đònh cụ thể của người viết.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận án đề ra mục tiêu nghiên cứu việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn kinh tế Anh –Việt.
Các câu hỏi mà luận án đặt ra là:
i. Những loại ẩn dụ ý niệm nào được sử dụng trong các bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt? Các ẩn dụ ý
niệm này có tần suất sử dụng như thế nào?
ii
. Vai trò của các ẩn dụ ý niệm là gì khi chúng được sử dụng trong các bản tin giải thích hoặc bình luận các
hiện tượng kinh tế?
iii
. Các bản tin kinh tế tiếng Anh và các bản tin kinh tế tiếng Việt có những điểm giống nhau và khác nhau
như thế nào trong việc sử dụng các
ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ẩn dụ cụ thể tương ứng?
iv. Những đặc điểm tương đồng và dò biệt nếu có sẽ được giải thích như thế nào dựa trên mối quan hệ giữa
ngôn ngữ, văn hóa và tư duy?
v. Liệu người học và sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ có thể gặp khó khăn hay không trong khi đọc và
dòch các ẩn dụ ý niệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc ngược lại?

4
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN
NGỮ LIỆU
Trên bình diện tổng quan, luận án kết hợp hai xu hướng tiếp cận chính: nghiên cứu đònh lượng và
nghiên cứu đònh tính. Nghiên cứu đònh lượng cho phép luận án thiết lập sự so sánh trực tiếp giữa hai khối
ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Còn phân tích đònh tính giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn và chi tiết hơn
các phép đồ họa ẩn dụ có mặt trong hai khối ngữ liệu, góp phần làm sáng tỏ các nét tương đồng và dò biệt
giữa hai ngôn ngôn ngữ Anh và Việt trên cùng một thể loại văn bản tin kinh tế.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án là phương pháp miêu tả và phương
pháp so sánh-đối chiếu. Chúng tôi thu thập các bài báo tiếng Anh và tiếng Việt, miêu tả và phân tích việc
sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các bài báo này. Các ẩn dụ sau khi được chọn ra sẽ được phân loại theo lónh vực

ân thế giới nhưng lại còn mới mẻ tại Việt Nam.
Luận án khẳng đònh việc nghiên cứu và phân tích các ẩn dụ không thể tách khỏi các bình diện ngữ
nghóa và ngữ dụng liên quan đến các ẩn dụ đó.
Đây là một công trình giúp khẳng đònh lại quan điểm của các nhà ngữ nghóa học tri nhận khi cho r

ng ẩn dụ
mang đến cho nhà ngôn ngữ học một cánh cửa để nhìn vào trí não của con người. Theo quan điểm này thì

6
ngôn ngữ ẩn dụ phản ánh sản phẩm đầu ra của quá
trình tri nhận mà thông qua nó chúng ta hiểu được
một lónh vực với các mẫu tri nhận từ một lónh vực khác và hiểu rằng các lónh vực khác nhau có chung nhiều
từ ngữ và ý niệm, chẳng hạn như các lónh vực tư tưởng – thức ăn, tình yêu – hành trình, thời gian – chuyển
động.
6.2. Về ứng dụng
Những kết quả thu được từ luận án sẽ đóng góp cho các nhà giảng dạy ngoại ngữ đặc biệt là trong
lónh vực tiếng Anh chuyên ngành nói chung và lónh vực tiếng Anh cho ngành báo chí nói riêng
Trong giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành báo chí kỹ năng viết tin bằng tiếng Anh hoặc kỹ năng dòch từ
bản tin tiếng Việt sang bản tin tiếng Anh hoặc ngược lại, người dạy cần thấy được tầm quan trọng của lý thuyết ẩn
dụ ý niệm có mặt rất thường xuyên trong các bản tin kinh tế.
Ngoài ra luận án cũng góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm ngôn ngữ báo chí của cả hai ngôn ngữ,
và điều này thực sự hữu ích cho các nhà báo viết tin hay dòch tin về kinh tế trong thời hội nhập của nước ta.
7. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Luận án bao gồm phần mở đầu, bốn chương chính và phần kết luận. Phần mở đầu trình bày lý do chọn
đề tài, lòch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu, những đóng góp mới và bố cục của luận án. Chương 1 trình bày các vấn đề lý thuyết làm cơ sở
cho việc phân loại và miêu tả ở các chương sau. Chương 2 và 3 phân tích các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức
ẩn dụ cụ thể trong các bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt. Chương 4 đối chiếu các ẩn dụ ý niệm có mặt
trong các văn bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên các lónh vực nguồn và đề xuất ứng dụng trong
giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành kinh tế.

Từ ba khuynh hướng tri nhận, ngữ dụng học và ngữ nghóa học, luận án đề xuất một đònh nghóa về ẩn
dụ để phục vụ việc phân tích phương thức ẩn dụ và các đặc điểm của nó như sau:
n dụ là sự đồ họa xuyên lónh vực các ý niệm thể hiện bằng một sự chuyển dòch trong cách sử dụng các đặc
điểm hoặc thuộc tính của một sự vật, hiện tượng sang một sự vật, hiện tượng khác loại để người sử dụng trình
bày quan điểm đánh giá của mình hay thuyết phục người khác.
Trong luận án, chúng tôi chọn cách phân loại các ẩn dụ ý niệm dựa trên các lónh vực nguồn của
chúng nhằm có một bức tranh toàn diện hơn về các ẩn dụ ý niệm và nhằm bộc lộ những điểm tương đồng và
dò biệt nếu có giữa các ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong hai khối bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt.
CHƯƠNG HAI: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG BẢN TIN KINH TẾ
TIẾNG ANH
Trong chương này chúng tôi đã tập trung miêu tả các loại ẩn dụ ý niệm được sử dụng để bàn về các hiện
tượng kinh tế trong các bản tin tiếng Anh. Chức năng tri nhận của các ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn báo
chí là rõ ràng ; các ẩn dụ được sử dụng với chức năng giúp người viết và người đọc có thể thuyết giải và tư
duy về các hiện tượng kinh tế trừu tượng. Các ẩn dụ ý niệm trong các văn bản tin kinh tế tiếng Anh còn
đóng góp vai trò dụng học, xây dựng khả năng thuyết phục người đọc bản tin về quan điểm cá nhân của
người viết, chứ không chỉ đơn thuần thực hiện chức năng làm đẹp cho văn bản. Việc phân tích các ẩn dụ ý
niệm và các biểu thức ẩn dụ ngôn từ trong các bản tin tiếng Anh cũng cho thấy một số lượng lớn các biểu

9
thức ngôn ngữ mang nghóa bóng có thể được truy xuất từ một số lượng hạn chế các ẩn dụ ý niệm. Phần
lớn các biểu thức ẩn dụ mới hay phi thường qui không phải là kết quả của các ẩn dụ ý niệm phi thường qui ;
chúng chỉ là các bước hiện thực hóa mới của các ẩn dụ ý niệm thường qui, sẵn có trong tư duy của người sử
dụng.
Thống kê của chúng tôi cho thấy có 3709 lượt xuất hiện của các biểu thức ẩn dụ, thuộc 21 tiểu loại
ẩn dụ ý niệm trong các bản tin kinh tế tiếng Anh. Chúng tôi đã tiến hành sắp xếp các tiểu loại ẩn dụ này
thành 4 nhóm chính.
2.1. ẨN DỤ KHÔNG GIAN
n dụ không gian hay ẩn dụ đònh hướng có nền tảng là các kinh nghiệm của con người về quan hệ
không gian; thông qua các biểu thức ẩn dụ mà các ý niệm sẽ được tổ chức hoặc cấu trúc dựa trên sự đònh
hướng về không gian, ví dụ như các ẩn dụ ý niệm PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀ HƯỚNG LÊN và SUY

tác dụng đem đến cho người đọc bản tin với tư cách một nhà đầu tư một cảm giác an toàn hơn vì các hoạt
động tích cực hay tiêu cực của nền kinh tế đều không có sự can thiệp chủ quan của con người.
Ẩn dụ ý niệm CỖ MÁY với các tiểu loại ở tầng bậc thấp của nó chiếm 19.8% tổng số lượt xuất hiện
của nhóm các ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN có trong các bản tin tiếng Anh. Chúng tôi đã phân loại

11
được các tiểu loại tầng bậc thấp của ẩn dụ này, đó là các ẩn dụ ĐỘNG CƠ, TÀU THỦY, MÁY BAY,
TÀU LỬA. Khi ý niệm hóa nền kinh tế hay các tổ chức kinh tế thông qua ý niệm nguồn CỖ MÁY, tác giả
các bản tin có thể muốn làm nổi bật hay che dấu một bình diện nào đó của ý niệm đích. Các hoạt động xuất
khẩu được ý niệm như một động cơ và vì thế, sau khi được nạp năng lượng, chúng sẽ vận hành hoàn hảo và
không phụ thuộc vào các yếu tố cảm xúc thường thấy.
n dụ NỀN KINH TẾ LÀ BONG BÓNG đề cập đến tình hình kinh tế trong đó giá trò của các sản
phẩm và dòch vụ trở nên cao hơn nhiều so với giá trò thực của chúng. Sự xuất hiện thường xuyên của ẩn dụ
BONG BÓNG trong các bài báo kinh tế thương mại tiếng Anh đã khiến nó được xem như một ẩn dụ thường
qui; trong các từ điển tiếng Anh hiện đại.
Ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG xuất hiện với mật độ khá cao (73 lượt) trong
khối ngữ liệu tiếng Anh của luận án, chiếm 11% trong tổng số các ẩn dụ thuộc nhóm MÔI TRƯỜNG TỰ
NHIÊN. Chúng thường được thể hiện qua các biểu thức ngôn ngữ như build[xây], collapse[sụp],
construct[xây dựng], crack[nứt], design[thiết kế], door[cửa], foundation[nền], roo
f[mái], ruin[đổ nát],
shaky[rung], solid[chắc], structure[cấu trúc], walls[tường].

ĐỘNG THỰC VẬT cũng là một dạng lónh vực nguồn rất tiềm tàng trong việc cấu thành các ẩn dụ ý
niệm. Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng
động vật một mặt gần gũi với con người và hiện diện thường
xuyên trong đời sống, mặt khác chia sẻ với con người rất nhiều điểm tương đồng như cách thức tổ chức xã
hội, tầng bậc vv.
Tuy nhiên, ẩn dụ động thực vật tồn tại không nhiều như dự đoán trong khối ngữ liệu tiếng Anh. Tuy
vậy, sự có mặt của các hình ảnh động thực vật trong các bản tin dù sao cũng giúp người đọc nhận hiểu một


Chúng tôi cho rằng ẩn dụ này là ẩn dụ tầng thấp của ẩn dụ thượng danh HOẠT ĐỘNG CÓ MỤC ĐÍCH LÀ
MỘT HÀNH TRÌNH. Ý niệm của con người về một hành trình lại được dựa trên sự phóng chiếu của lược đồ
hình ảnh mang tính trừu tượng về đường đi, ở đó có điểm khởi đầu, điểm giữa và điểm cuối.
Nếu ẩn dụ CHIẾN TRANH đem lại cho người đọc sự hiểu biết về tính chất dữ dội tàn khốc của các
hoạt động kinh tế thì ngược lại ẩn dụ SÂN KHẤU tạo dựng và nhấn mạnh trong nhận thức của người đọc
một bình diện hoàn toàn khác của các hoạt động này, đó là tính chất uyển chuyển, linh hoạt, hài hòa hoặc
trầm bổng có mặt trong lónh vực nguồn.
Việc ý niệm hóa các hoạt động kinh tế theo các hoạt động sân khấu
sẽ dẫn đến một quan hệ suy luận kéo theo là tính đột biến, bất thường của các hoạt động kinh tế sẽ không
được làm nổi bật trong ngữ cảnh nữa. Thay vào đó, trong nhận thức của người đọc thì các hoạt động này sẽ
được diễn ra theo một
kòch bản chuẩn bò sẵn. Một số các trường hợp ẩn dụ SÂN KHẤU được sử dụng kết
hợp với ẩn dụ lược đồ LÊN-XUỐNG trong các biểu thức ngôn ngữ như ‘upbeat’ [nhòp lên], downbeat [nhòp
xuống]. Quan hệ đồ họa trong các ẩn dụ ý niệm này là HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TỐT LÀ NHỊP LÊN và
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XẤU LÀ NHỊP XUỐNG, một loại ẩn dụ với lónh vực nguồn ÂM NHẠC có tần
suất sử dụng tương đối khá cao trong các bản tin tiếng Anh.

14

Với ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO, chúng ta sẽ hiểu
rằng trong kinh tế, chúng ta sẽ có sân chơi, có trọng tài, có sự ganh đua. Còn ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
LÀ HOẠT ĐỘNG SĂN BẮN sẽ ý niệm hóa các lợi ích kinh tế thành những thành quả thu được từ săn bắn.
Trong ngữ liệu của chúng tôi, hai loại ẩn dụ này chỉ chiếm tỉ lệ 9.9% với 69 lượt xuất hiện. Một trong các
lónh vực ý niệm nguồn đặc trưng nhất của ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN có liên quan đến CHẠY ĐUA, qua
đó các hoạt động kinh tế được xem như các cuộc chạy đua. Các ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN cho thấy bình
diện tốc độ và thời gian đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế. Muốn đạt được các mục tiêu kinh
tế thì các các nhân hay tổ chức phải đạt được tốc độ cần thiết để đến được đích trong khoảng thời gian tối
thiểu. Các ẩn dụ ý niệm THỂ THAO-SĂN BẮN cũng cho thấy cuộc đua kinh tế đòi hỏi các kỹ năng cạnh
tranh nhất đònh.
n dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG CỜ BẠC ý niệm hóa hoạt động kinh

Trên bình diện dụng học, các ẩn dụ ý niệm xuất hiện với mật độ ít hơn trong các bản tin nhưng có
các hình thức hiện thực hóa đa dạng hơn thông qua các biểu thức ngôn ngữ. Trong vai trò này, các ẩn dụ ý
niệm đã giúp người viết đạt được mục đích thuyết phục người đọc có các thay đổi về nhận thức và hành
động đối với các sự kiện kinh tế.

16

Xét trên bình diện văn hóa, việc tác giả các bản tin chọn lựa các lónh vực nguồn để tạo ẩn dụ
trong diễn ngôn kinh tế tiếng Việt cho thấy các ẩn dụ ý niệm tầng bậc thấp cùng với các biểu thức ngôn
ngữ cụ thể hóa chúng mang đặc trưng của môi trường sống, thói quen và hoạt động sống của người Việt.
3.1. n dụ KHÔNG GIAN
Nhóm ẩn dụ KHÔNG GIAN trong các bản tin kinh tế tiếng Việt cũng chiếm một tỉ lệ xuất hiện khá
lớn (44.43%) trong tổng số các ẩn dụ ý niệm. Các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong các bản tin kinh tế
tiếng Việt đã thực hiện các chức năng tri nhận là chức năng đánh giá tích cực hay tiêu cực các hiện tượng
kinh tế dựa trên quan hệ tương liên với các chuyển động LÊN- XUỐNG hay các vò trí CAO-THẤP tương
ứng.
Đ
áng chú ý trong nhóm ẩn dụ đònh hướng trong khối ngữ liệu tiếng Việt, HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ
CHUYỂN ĐỘNG VÀO RA. Loại ẩn dụ này cho thấy một sự khác biệt trong bức tranh tri nhận về không
gian giữa các nền văn hoá-ngôn ngữ khác nhau. Mặc dù ý niệm không gian cơ bản VÀO-RA mang tính phổ
quát cao và có mặt ở trong nhiều nền văn hoá, nhưng những ẩn dụ ý niệm ở tầng bậc cụ thể lại khác nhau
trong những môi trường văn hoá-ngôn ngữ khác nhau. Để thể hiện ý niệm MUA và BÁN, văn hoá Anh-Mỹ
chỉ dùng hình thức phi ẩn dụ buy (mua) và sell (bán), trong khi đó khối ngữ liệu mà chúng tôi thu thập cho
thấy rằng người Việt lại dùng ý niệm VÀO-RA để kết hợp với ý niệm MUA-BÁN, từ đó xuất hiện một tiểu
loại ẩn dụ ý niệm MUA HÀNG HÓA LÀ HƯỚNG VÀO, BÁN HÀNG HÓA LÀ HƯỚNG RA. Nhìn từ quan
điểm tri nhận thì nhận thức của người Việt về hoạt động mua-bán sẽ xuất phát từ sự phát triển nhận thức
không gian. Lónh vực không gian nguồn của các ý niệm vào/ra vốn được dùng để đònh hướng cho chuyển
động sang một không gian rộng/hẹp hơn thì trong các bản tin đã được đồ họa sang lónh vực mới, thể hiện
quan hệ hướng tâm/li tâm so với chủ thể là người thực hiện hoạt động mua/bán.


chơi, lấn sân, sân nhà, đá bóng”.
Thống kê các bản tin kinh tế tiếng Việt cho thấy ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT
ĐỘNG CỜ BẠC có tần suất sử dụng rất thấp. Các biểu thức ẩn dụ thống kê được chỉ bao gồm các đơn vò từ
vựng liên quan đến lónh vực ĐÁNH CỜ chứ không phải lónh vực ĐÁNH BẠC như được thấy trong khối ngữ
liệu tiếng Anh. Việc các bản tin tiếng Việt không thể hiện các ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT
ĐỘNG ĐÁNH BẠC có thể xuất phát từ một thực tế là cờ bạc không mang tính hợp pháp tại Việt Nam,
không được miêu tả như một hoạt động giải trí bình thường. Tuy nhiên, trong các bản tin kinh tế tiếng Việt,
chúng tôi cũng đã phát hiện hiện tượng vay mượn từ vựng từ tiếng Anh. Hiện tượng này xảy ra trong lónh
vực chứng khoán. Các từ blue chip [phỉnh xanh] và penny chip [phỉnh xu] đã du nhập vào trong ngôn ngữ
kinh tế tiếng Việt với số lượt xuất hiện khá nhiều.
n dụ GIẢI TOÁN thể hiện sự khác biệt một cách rõ ràng nhất giữa hai khối ngữ liệu tiếng Anh và
tiếng Việt. Trong khi chúng tôi không tìm thấy các biểu thức ẩn dụ thể hiện ẩn dụ ý niệm GIẢI QUYẾT
CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ LÀ GIẢI TOÁN trong các bản tin tiếng Anh, thì trong các bản tin tiếng Việt, các
biểu thức ẩn dụ thuộc nhóm này được sử dụng 28 lượt, với các biểu thức ngôn từ rất quen thuộc với người
Việt như “ẩn số”, “bài toán”, “nan giải””.

19
3.4. ẨN DỤ CƠ THỂ SỐNG
Việc khảo sát các ẩn dụ có lónh vực nguồn SỨC KHỎE trong khối dữ liệu cho thấy rằng các mẫu dữ
liệu tiếng Việt thể hiện mưc độ biến thiên đa dạng hơn về mặt từ vựng nhưng lại thấp hơn về tần số xuất
hiện. Trong các bản tin tiếng Việt các tác giả chọn lọc các biểu thức ngôn từ như
Bảng 3.21: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SỨC KHỎE
Nét nổi bật của việc sử dụng ẩn dụ SỨC KHỎE trong các bản tin tiếng Việt là các dạng bệnh cụ thể
thường được sử dụng làm lónh vực nguồn, từ đó đồ họa sang lónh vực đích. Chẳng hạn trong bản tin

Thống kê của luận án cho các bản tin tiếng Anh sử dụng các biểu thức ẩn dụ với mật độ cao hơn nhiều
so với các bản tin tiếng Việt. Tần suất sử dụng các biểu thức ẩn dụ lần lượt là 30.7 lượt/1000 từ và 18.3
lượt/1000 từ trong các bản tin tiếng Anh và tiếng Việt. Nếu tính trên số ẩn dụ/bản tin thì các bản tin tiếng
Anh cũng nổi trội hơn với tỉ lệ 18.5 ẩn dụ/bản tin trong khi tỉ lệ này là 13.6 ẩn dụ/bản tin trong khối ngữ liệu
tiếng Việt.
Sự khác nhau về số lượng cũng như mật độ sử dụng các ẩn dụ ý niệm giữa hai khối bản tin kinh tế
tiếng Anh và tiếng Việt có thể xuất phát từ sự khác biệt về đặc trưng thể loại tin kinh tế tiếng Anh và tiếng
Việt và thói quen sử dụng ẩn dụ của người viết bản tin. Theo chúng tôi, có thể đặc trưng trang trọng của thể
biện pháp giảm nhiệt, bắt mạch giá cả, chẩn bệnh, biết mà không chữa , thuốc hạ
sốt, chẩn đúng bệnh, kê đúng thuốc, cắt sốt, dùng không đúng thuốc, đònh bệnh, tự
chữa trò, cắt cơn nóng sốt, cuộc phẫu thuật, hạ nhiệt, có bà đỡ, cần cắt bỏ
21
loại văn bản tin tiếng Việt có thể phần nào đã hạn chế việc sử dụng ẩn dụ của các tác giả bản tin. Bên
cạnh đó, còn có thể có ảnh hưởng của quan niệm truyền thống coi việc sử dụng ẩn dụ chỉ như một công cụ tu
từ dùng để làm đẹp ngôn ngữ, mang dấu ấn cá nhân người viết và như vậy chỉ phù hợp với thể loại văn
chương.
Hai khối ngữ liệu bản tin tiếng Anh và tiếng Việt cũng thể hiện những điểm tương đồng và dò biệt khá
thú vò trên cơ sở đònh tính. Điểm tương đồng lớn nhất giữa hai khối ngữ liệu thể hiện ở việc nền kinh tế nói
chung và các hoạt động kinh tế nói riêng được ý niệm hóa thành các lónh vực giống nhau trong cả hai ngôn
ngữ như MÔI TRƯỜNG, HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, CƠ THỂ SỐNG hay các lược đồ không gian. Nói
cách khác, giữa hai khối bản tin tiếng Anh và tiếng Việt tồn tại sự tương đồng cơ bản ở tầng bậc các ý niệm
ẩn dụ, phần lớn các điểm dò biệt xảy ra ở tầng bậc ngôn ngữ. Các dữ liệu mà luận án xử lí có thể trả lời các
giả thuyết mà chúng tôi đã nêu ở phần Dẫn nhập như sau.
a. Cả hai ngôn ngữ chứa cùng ẩn dụ ý niệm được hiện thực hóa bằng biểu thức ngôn ngữ như nhau.

Hệ thống các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN với các ẩn dụ tầng bậc thấp của nó và các biểu thức
ngôn ngữ tương ứng trong hai khối bản tin khẳng đònh giả thuyết này. Trong các bản tin kinh tế thuộc cả hai


23
NHIÊN và HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI cũng cho thấy một số ẩn dụ ý niệm có thể tương đương trong
hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, nhưng các biểu thức ẩn dụ cụ thể về mặt ngôn ngữ lại khác nhau.
c. Cả hai ngôn ngữ chứa các ẩn dụ ý niệm khác nhau:
Hai khối bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt thể hiện sự khác biệt rất rõ ràng ở một số các ẩn dụ
ý niệm tầng bậc thấp. Các bản tin tiếng Việt có các ẩn dụ ý niệm sau đây được sử dụng để thuyết giải các
hiện tượng kinh tế nhưng chúng không xuất hiện trong các bản tin tiếng Anh:
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ KINH TẾ LÀ GIẢI TOÁN
MUA LÀ HƯỚNG VÀO, BÁN LÀ HƯỚNG RA
TĂNG THÊM SỐ LƯNG CỔ PHIẾU PHÁT HÀNH LÀ PHA LOÃNG CHẤT LỎNG
Trong khi đó, khối ngữ liệu tiếng Anh cũng cho thấy các tác giả bản tin đã sử dụng các phép đồ họa
khác hoàn toàn so với các phép đồ họa trong tiếng Việt; các lónh vực nguồn sử dụng trong quá trình tri nhận
thể hiện các đặc tính văn hóa xã hội và môi trường đặc trưng của người Anh-Mỹ:
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TĂNG ĐIỂM LÀ THỊ TRƯỜNG BÒ
(‘bull market’)
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN GIẢM ĐIỂM LÀ THỊ TRƯỜNG GẤU (‘bearish market’)
CÁC DOANH NGHIỆP
KIÊN TRÌ BÁM THỊ TRƯỜNG LÀ CHÓ (‘dogged franchisers’)
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẠC
(‘punters’, ‘routlette’)
SỰ PHÁT TRIỂN TÍCH CỰC VỀ SỐ LƯNG HOẶC CHẤT LƯNG LÀ TẦNG BÌNH LƯU/TINH TÚ/SAO BĂNG (‘meteoric’,
‘stratopheric’)
LI NHUẬN KINH TẾ BẤT NGỜ LÀ GIÓ LÀM RƠI (‘windfall’) 24
4.2. Đề xuất ứng dụng trong giảng dạy
và dòch thuật
Một trong những lý do tại sao người học ngoại ngữ cần phải

PHẦN KẾT LUẬN
1. n dụ ý niệm và các dạng thức ngôn từ của chúng xuất hiện nhiều trong diễn ngôn tin kinh tế,
chứ không phải chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ văn học như các nhà ngôn ngữ học truyền thống quan niệm.
Việc các bản tin kinh tế tài chính chứa rất nhiều ngôn ngữ ẩn dụ cũng có thể nói lên tầm quan trọng của ẩn
dụ đối với thể loại.
2.
n dụ xuất hiện không chỉ đơn thuần mang tính chất tu từ, làm đẹp cho ngôn ngữ. Các ẩn dụ ý niệm rõ
ràng mang chức năng tri nhận rất lớn.
Mặc dù một phần lý do giải thích cho số lượng lớn các ẩn dụ có mặt
trong hai khối ngữ liệu có thể do bản chất của các bản tin kinh tế tài chính: n dụ giúp cho người sử dụng
ngôn ngữ, cả người viết lẫn người đọc, hiểu được các ý niệm trừu tượng thông qua các ý niệm cụ thể hơn.
Ngoài chức năng tri nhận, các ẩn dụ ý niệm sử dụng còn có chức năng thuyết phục.

26
3.
Khối ngữ liệu ở trong luận án chứng minh các ẩn dụ ý niệm thể hiện tính hệ thống và tính tầng bậc
của chúng trong cả hai ngôn ngữ. Một số ẩn dụ tỏ ra nổi trội hơn trong tiếng Anh so với trong tiếng Việt.
Một số khác chỉ tồn tại ở một trong hai ngôn ngữ mà không tồn tại trong ngôn ngữ kia, tuy nhiên số lượng
những ẩn dụ này không lớn. Ngoài ra, khối ngữ liệu mà chúng tôi phân tích còn thể hiện một khả năng
chuyển di các ẩn dụ ý niệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt mà các tác giả đã dùng để giải thích các hiện
tượng kinh tế mới.
4. Về tổng quan, số lượng các biểu thức ẩn dụ và tần suất sử dụng của chúng trong các bản tin tiếng Anh lớn
hơn so với trong các bản tin tiếng Việt. Luận án không tìm ra được sự khác biệt về số lượng các ẩn dụ ý
niệm bậc thượng danh giữa hai khối bản tin; điều này có nghóa là loại ẩn dụ ý niệm bậc thượng danh nào có
mặt trong ngôn ngữ nào thì cũng có thể cũng được sử dụng trong ngôn ngữ kia. Sự khác biệt xảy ra thường ở
các loại ẩn dụ hạ danh hay tầng bậc thấp.
5. Các ẩn dụ dùng trong các văn bản tin kinh tế có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Các ẩn dụ này có
thể làm nổi bật một số bình diện của ý niệm đích trong khi không làm nổi bật các bình diện khác.
6. Một số tiểu loại ẩn dụ ý niệm thể hiện những khác biệt mang màu sắc văn hoá và môi trường. Những
khác biệt này có thể mang lại một số khó khăn cho người làm công tác biên-phiên dòch Anh-Việt hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status