Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
*
LÊ THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU HỆ NẤM
CỘNG SINH ARBUSCULAR MYCORRHIZA,
TRONG ĐẤT VÀ RỄ CAM TẠI QUỲ HỢP - NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
mới chỉ dừng lại ở mức phân lập, lƣu giữ bào tử nấm cộng sinh và nghiên cứu
xƣ̉ lý đấ t ô nhiễ m chì có sƣ̉ dụ ng nấ m Mycorrhiza. Tuy nhiên vẫn chƣa có
nghiên cứu về khả năng cộng sinh của nấm cộng sinh trên cây cam nhằ m tạ o
ra chế phẩ m là m tăng năng suấ t và chấ t lƣợ ng.
Trong các loại cây ăn quả, Cam Vinh là một loại cây ăn quả đặc sản
truyền thống có giá trị dinh dƣỡng cao, đồng thời cũng rất có giá trị về kinh
tế. Tuy nhiên, diện tích trồng cam ở đây đang dần bị thu hẹp và chất lƣợng
của cam đang ngày càng bị mai một. Với mong muốn có thể góp phần nào đó
vào việc cải thiện năng suất, chất lƣợng cam, nhóm nghiên cứu tiến hành
nghiên cứu đề tài: “NGHIÊN CỨU HỆ NẤM CỘNG SINH ARBUSCULAR
MYCORRHIZA, TRONG ĐẤT VÀ RỄ CAM TẠI QUỲ HỢP - NGHỆ AN‟‟. Với mục tiêu
và nội dung nghiên cứu sau:
Mục tiêu nghiên cứu :
Nghiên cứu hệ nấm nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhiza Fungi) trên
đất trồng cam ở Xã Minh Tân - Phủ Qùy – Nghệ An. Trên cơ sở đó, góp phần
đề xuất các giải pháp về phân bón, canh tác nhằm làm tăng năng suất, chất
lƣợng chè, ổn định độ phì nhiêu, cải thiện môi trƣờng đất vùng trồng cam.
Nội dung nghiên cứu:
Xác định thành phần loài AMF tại vùng nghiên cứu.
Xác định đặc điểm phân bố AMF trong đất trồng cam tại Phủ Qùy –
Nghệ An.
Xác định loài AMF trong đất trồng cam bằng kỹ thuật sinh học phân
tử. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
cộng sinh này có thể đƣợc đổi tên là “Arbuscular Mycorrhiza”. Nói chung,
tên gọi của nó vẫn chƣa hoàn toàn thống nhất.
Năm 2005, Hội nghị Quốc tế về Mycorrhiza lần thứ 17 đƣợc tổ chức tại
Lisboa – Bồ Đào Nha đã quyết định lấy tên “Arbuscular Mycorrhiza Fungi”
(AMF) để chỉ loại hình cộng sinh này. Do vậy, trong các tài liệu mới đƣợc
công bố, thuật ngữ “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (viết tắt là AMF) đã đƣợc
thống nhất sử dụng thay cho thuật ngữ “Vesicular – Arbuscular Mycorrhiza”
vào năm 2008 [28].
Hình 1.1. Sƣ̣ cộng sinh của AMF trong rễ cây trồng.
1.2. PHÂN LOẠI MYCORRHIZA
Đặc điểm nhận dạng của một số loài bào tử AMF (dựa theo phân loại
của Gerdemann, 1963) [32] bảng 1.1.
5
Bảng 1.1. Đặc điểm nhận dạng của một số loại bào tử AMF
Tên chi
Tên loài
Hình dạng
Mầu sắc
Kích
thước
(µm)
Đặc điểm
Glomus
Aggregatum
Hình cầu, hình trứng, có cuống nhỏ
Có mầu nâu, mầu nâu đỏ, một số có
Thành bào tử dày,có nhiều lớp.
Myriocarpa,
Có quả bào tử, hình cầu hoặc gần
hình cầu.
Có mầu nâu hoặc nâu nhạt
120-175
Thành bào tử dày, có vách ngăn.
Bireticulata
Hình cầu, dạng quả lê
Có mầu nâu nhạt hoặc vàng nhạt
150-200
Thành bào tử dày, có 3-4 lớp.
Lacunose.
Hình cầu
Có mầu nâu hoặc nâu nhạt
120-175
Thành bào tử mỏng,1-2 lớp
Entrophora
colombiana
Hình cầu hoặc hình trứng
Có mầu nâu nhạt hoặc mầu vàng nhạt
120-200
Thành bào tử có 3 lớp chia làm 2
nhóm
schenckii.
Hình cầu ,hình tròn
Có mầu nâu nhạt hoặc mầu vàng
120–160
Thành bào tử có 3 lớp chia làm 2
nhóm
Albida
Bào tử có dạng hình cầu, hoặc elip
Có mầu vàng nhạt
120-150
Thành bào tử có cấu trúc nối tiếp,
gồm 3 – 5 lớp.
6
Căn cứ về mặt hình thái có thể chia nấm rễ thành 3 loại chủ yếu: Nấm rễ
ngoại cộng sinh, nấm rễ nội cộng sinh và nấm rễ nội ngoại cộng sinh.
* Nấm rễ ngoại cộng sinh (Ectomycorrhiza): Đây là một loại nấm
hình thành mạng lƣới Hartig trong gian bào tầng vỏ rễ và mô sợi nấm dày
đặc trên bề mặt rễ của cây, không có mũ rễ, không có lông hút. Nấ m r ễ
ngoại cộng sinh thƣờng có màu sắc và hình dạng nhất định (có thể nhận
thấy bằng mắt thƣờng).
* Nấm rễ nội cộng sinh (Endomycorrhiza): Đặc trƣng là không có sự
biến đổi màu sắc và hình thái của rễ, có lông hút, không có thể sợi nấm và
không có mạng lƣới Hartig. Nấm rễ nội cộng sinh gồm 2 loại là: nấm rễ nội
cộng sinh không có màng ngăn (AEM) và sợi nấm nội cộng sinh có màng
ngăn (SEM). Với loại SEM, khi giải phẫu sẽ thấy bên trong tế bào biểu bì rễ
có các túi bọt (Vesicular) và chùm (Arbuscular).
* Nấm rễ nội – ngoại cộng sinh (Ectendomycorrhiza): Mang đặc trƣng
của 2 loại nội cộng sinh và ngoại cộng sinh về hình thái cũng nhƣ sinh lý.
Hiện nay, ngƣời ta nhận thấy có 7 hình thức cộng sinh:
* Arbuscular Mycorrhiza Fungi (AMF): Cộng sinh kiểu tạo bụi (chùm).
* Ectomycorrhizas (ECM): Nấm rễ ngoại cộng sinh.
* Orchid Mycorrhizas: Nấm rễ cộng sinh với các cây họ Lan
Tulasne mô tả năm 1844. Đến năm 1849, tác giả Fries xây dựng nên họ
Endogonaceae, sau đó họ này bị thay đổi do loài mới phát hiện có rất ít đặc
điểm chung. Đây là thời điểm để hoàn thiện sự phân loại và phƣơng pháp
nhận biết tất cả các loại bào tử của AMF.
Năm 1959, Moss (nhà Giải phẫu thực vật) và Bowen (nhà Sinh thái học)
đã đƣa ra hệ thống mô tả dựa trên cấu trúc vách tế bào, màu sắc và đặc điểm
tế bào chất [40]. Tuy nhiên, khi áp dụng phƣơng pháp này thì Gerdermann đã
phát hiện ra rằng Endogone có số lƣợng loài rất lớn, cần phải xem xét lại và
tác giả đã chia Endogone thành 7 chi với 3 chi không cộng sinh: Endogone,
Modicella, Glaziella và 4 chi cộng sinh: Glomus, Sclerocystics, Gigaspora,
Acaulospora (trong đó Gigaspora và Acaulospora là 2 chi mới) [31].
Với hệ thống phân loại của Gerdermann, Viện Nghiên cứu sinh học –
Viện Hàn lâm khoa học Ấn Độ đã phân lập từ đất vƣờn ƣơm 4 chi AMF:
Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora và 1 chi không cộng sinh
(Endogone).
9
Năm 1982, Trappe và Schenck đã đề xuất đƣa 5 loài AMF ra khỏi chi
Sclerocystics để hình thành chi mới Scutellospora [58], đến năm 1987 Walker
cũng đề xuất nhƣ trên [60]. Năm 1990, tác giả Morton và Benny đặt 5 chi của
Walker vào 3 họ: Glomaceae, Gigasporaneae, Acaulosporaceae và 2 bộ phụ:
Glomineae, Gigasporineae, trong đó 2 bộ phụ này đƣợc đặt trong bộ mới
Glomales [39].
Năm 1998,Trung tâm Nghiên cứu AMF của Đài Loan (Arbuscular
mycorrhizal fungal Collection center in Taiwan – ACT) đề nghị công nhận 2
chi mới là Glomites và Jimtrappea. Hiện nay, hệ thống phân loại của ACT
thƣờng đƣợc sử dụng ở các nƣớc châu Á.
Năm 2008, Shipra Singh và đtg tiếp tục công bố thêm 2 họ AMF là:
Archacosporaceae và Paraglomaceae với 2 chi mới là: Archacospora và
Paraglomus [49].
quan sát một cách rõ ràng những giai đoạn của AMF trong rễ cây chủ [24].
Tuy nhiên, tất cả các phƣơng pháp trên đều có chung một nhƣợc điểm là
tốn thời gian và gây phá hủy mẫu. Mặt khác, quá trình và mức độ biến đổi
màu là khác nhau với từng mẫu rễ. Đa số các loài thuộc chi Gigaspora và
Scutellospora biến đổi màu rất mạnh với Tryphan blue mà không phụ thuộc
vào loài cây chủ theo Morton (1988) [38]. Nhƣng có loài chỉ biến màu trung
gian với Tryphan blue nhƣ Acaulospora trapei [18]. Thậm chí, một số loài
của chi Glomus (G.leptoticum, G.maculosum…) hoặc loài Acaulospora
myriocarpa lại không biến màu với Tryphan blue [38].
Mức độ chặt chẽ của mối quan hệ giữa thực vật và AMF đƣợc thể hiện
thông qua số lƣợng bào tử có trong đất. Tuy nhiên, việc xác định số lƣợng bào
tử đôi khi gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết vấn đề đó, ngƣời ta thƣờng dùng
một chỉ số trung gian là “hệ số xâm nhiễm”. Phƣơng pháp đơn giản là cắt hệ
thống rễ thành những mẩu nhỏ và xác định tỷ lệ Mycorrhiza. Tuy nhiên,
phƣơng pháp này không hiệu quả khi tỷ lệ Mycorrhiza lớn. Năm 1975, dựa
trên cơ sở phƣơng pháp đƣờng chéo của nhóm tác giả Newman, Sparling và
Tinker lần đầu tiên áp dụng với AMF, sau đó đƣợc dùng để so sánh với các
phƣơng pháp xác định khác. Hiện nay, phƣơng pháp này rất thông dụng [52].
11
1.5. SỰ PHÁT TÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA AMF ĐỐI VỚI THỰC
VẬT CHỦ
Năm 1991, tác giả Friese và Koske cho rằng tất cả bào tử của AMF đều
phán tán một cách thụ động với những nhân tố tích cực là gió và động vật
[29]. Nhƣng theo MacMahon và Warner thì những vùng khô hạn, gió là nhân
tố quan trọng nhất tạo ra sự lây nhiễm tự nhiên của AMF [36]. Ngƣợc lại, với
những nơi ẩm ƣớt, động vật lại là nhân tố đóng vai trò chủ yếu [29].
Năm 1983, Hayman cho rằng số lƣợng bào tử AMF trong đất là chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá mức độ ƣu thế của loài. Trong đất canh tác, số lƣợng
loài và số lƣợng bào tử nhiều hơn trong đất tự nhiên [34]. Mặt khác theo tác
(giảm 30 – 45% các tác nhân gây bệnh) [54].
Năm 2002, bằng thực nghiệm, Bali và đtg, đã chứng minh hiệu quả của
AMF đối với bệnh héo cây bông do nấm Fusarium gây ra. Đối với bệnh ở rễ
gây ra bởi tuyến trùng, AMF có thể cải thiện sức sống của cây chủ, từ đó hạn
chế những thiệt hại về sản lƣợng, đặc biệt với những vùng đất có hàm lƣợng
P
2
O
5
thấp và cây đƣợc nhiễm AMF trƣớc khi bị nhiễm tuyến trùng. Nhƣ vậy,
AMF có thể làm giảm nguồn bệnh hoặc giảm ảnh hƣởng của bệnh ở rễ có
nguyên nhân do nấm và tuyến trùng gây ra. Tuy nhiên, tác dụng của AMF
không thể hiện rõ đối với bệnh ở lá và bệnh do virus [20].
Khi nghiên cứu số lƣợng AMF trong đất, Schuybert và đtg đã nhận thấy
rằng: Ở các loại đất khác nhau, số lƣợng bào tử AMF là khác nhau [50].
Năm 1989 tác giả Schonbeck đã phân lập đƣợc 15 loài thuộc 3 chi khác
nhau là: Glomus, Sclerocystis, Acaulospora trong đất vùng rễ của cây nho và 7
loài thuộc chi Glomus trong đất vùng rễ của cây táo [48]. Trong đất trồng trọt
thƣờng xuyên (đất trồng lúa nƣớc, đậu, lúa mỳ và nhiều loại cây trồng khác)
luôn có số lƣợng bào tử AMF cao hơn nhƣng thành phần loài của AMF lại thấp
hơn so với trong đất tự nhiên. Năm 1989 Schonbeck và Dehne nghiên cứu về
13
mối quan hệ giữa AMF với các vi sinh vật vùng rễ, cho thấy sự có mặt AMF đã
làm tăng đáng kể lƣợng vi khuẩn tổng số (đặc biệt là nhóm Pseudomonas) [48].
Khi nhiễm 3 loài Gigaspora margarita, Glomus macrocarpum và
Glomus caledonium cho cây dâu tây, đã làm tăng đáng kể sinh khối và hàm
lƣợng phốtpho trong cây, trong đó, Gigaspora margarita có hiệu quả kích
thích mạnh hơn 2 loài còn lại. Năm 1982, Dehne cũng phát hiện tác dụng kích
thích sinh trƣởng của AMF trên cây hành và cây ngô [26]. Đến năm 1989,
hơn so với lông hút của rễ, sợi nấm có thể len lỏi khắp nơi trong đất, kể cả các
lỗ hổng rất nhỏ mà rễ không qua đƣợc để hút dinh dƣỡng cung cấp cho cây.
Đối với phốtpho bị cố định chặt, sợi nấm cộng sinh sẽ tiếp cận và tiết ra các
axít hữu cơ qua phản ứng của anion hữu cơ phân tử nhỏ (nhƣ oxalate…) để
sau đó có thể đổi chỗ cho phốtpho (bị hút chặt bề mặt bởi hydroxide kim loại)
bằng phản ứng trao đổi, hoà tan oxide kim loại, tạo phức kim loại trong dung
dịch, do vậy ngăn chặn đƣợc sự kết tủa của phốtphát kim loại. Nấm cộng sinh
Mycorrhiza còn giải phóng phốtpho vô cơ thông qua khoáng hoá chất hữu cơ
(thuỷ phân hợp chất ester phốtphát hữu cơ). Các hình thức cộng sinh Ericoid
Mycorrizha và Ectomycorrizha còn có vai trò quan trọng trong việc khoáng
hoá nitơ. Chỉ cần một lƣợng nhỏ AMF có thể huy động dinh dƣỡng từ khối
lƣợng lớn xác thực vật có tỷ lệ C/N cao (hàm lƣợng lignin và tannin cao).
* Dòng chảy cacbon trong cây cộng sinh Mycorrhiza: Dòng cacbon có
thể chỉ theo một chiều cƣỡng bức từ cây xuống AMF hoặc cũng có thể theo
chiều thoả thuận do AMF tự phân giải hợp chất giàu cacbon ở đất. Dòng chảy
cacbon từ cây xuống đất không làm cây trồng thiếu hụt cacbon vì khi AMF
xâm nhiễm vào rễ cây sẽ kích thích quá trình quang hợp mạnh hơn gấp bội
(trừ trƣờng hợp ánh sáng quá yếu). Trong hệ sinh thái, dòng chảy cacbon
xuống nấm và đất có một số vai trò quan trọng sau:
- Sợi AMF sản sinh ra các enzyme thủy phân (nhƣ protease,
phosphatase…) có vai trò quan trọng trong quá trình khoáng hoá chất hữu cơ
và huy động chất dinh dƣỡng cho cây trồng.
15
- Sợi nấm kéo dài làm tăng liên kết với các hạt đất, cải thiện cấu tƣợng
đất, thông thƣờng có đến 1 – 20 m sợi nấm/gam đất.
- Tạo nên cộng đồng vi sinh vật vùng rễ. Đây là chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá độ phì nhiêu của đất.
* Tăng khả năng chống chịu hạn: trong môi trƣờng đất khô nấm rễ giúp
cây hấp thu nƣớc bằng cách tăng cƣờng tốc độ thoát hơi nƣớc so với những
tham khảo
SSU
rDNA
Genomic
DNA
PCR PCR–
RADP
VANS1
OPA-02 và OPA-04
OPA-18 và P124
OPA-18 và P124
Glomales
Glomusversiforme
Gl. mosseae . Gl. Caledoniu
Acaulosporalaevis
Gigasporamargarita
Scutellospora gregaria
109
39
SSU
rDNA
PCR
VANS1 và NS21
G. intraradices
83
Genomic
DNA
ITS1 và ITS2
G. margarita
32
ITS
PCR
ITS1 và ITS4
G.mosseae và Gigaspora
margarita
29
SSU
rDNA
PCR-RFLP
PCRnested
LR1 và FLR2
FLR2-5.23 và
FLR2-8.23
LR1-23.46
Dƣới nhóm của Glomales
G. mosseae, G. intraradices
G. roseae
45
28S
rDNA
PCR–SSCPs
LSU-Primers
Glomus sp.
82
SSU
rDNA
PCR
Glomeromycota (except
Archaeosporaceae)
44
ITS
PCR
SSU-Glom/LSU-
Glom 1
ITS5 và ITS4
Các nhóm chính với
Glomeromycota
44
1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, Mycorrhiza đƣợc nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ
XX nhƣng đến nay mới đạt đƣợc một số kết quả nghiên cứu về nấm ngoại
cộng sinh, hầu nhƣ chƣa có thành tựu trên nấm nội cộng sinh, đặc biệt là với
cây cam.
Nghiên cứu đầu tiên về nấm cộng sinh trong lâm nghiệp là việc sử dụng
lớp đất tầng mặt của rừng thông để gieo ƣơm cây con - đây có thể đƣợc coi
nhƣ một hình thức nhiễm nấm tự nhiên của Lâm Công Định và đã đƣợc sử
dụng nhƣ một biệp pháp lâm sinh trong một thời gian khá dài [2].
Sau đó là các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Sỹ Giao (1976) về sự có
mặt của nấm ngoại cộng sinh ở rễ cây thông. Nghiên cứu sử dụng nấm cộng
sinh thuần chủng để tạo rễ nấm cho cây thông con, kết quả cho thấy sự vƣợt
trội về chiều cao và đƣờng kính của những cây đƣợc nhiễm nấm so với công
thức đối chứng là 20 – 30% [1]. Bên cạnh đó, Nguyễn Sỹ Giao và Nguyễn
Thị Nhâm (1980) còn nghiên cứu sử dụng nấm nội cộng sinh để phòng bệnh
vàng còi ở thông con và cũng đã đạt đƣợc những kết quả nhất định [3].
Từ năm 1970 – 1980, Viện Nghiên cứu lâm nghiệp (nay là Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam) đã tiến hành phân lập và nuôi cấy thuần chủng
19
Năm 2005, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Văn Sức và đtg [12], khi tiến
hành nghiên cứu “Nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhiza Fungi) và
quần thể vi sinh vật trong đất trồng bƣởi đặc sản Đoan Hùng, Phú Thọ” đã
phát hiện sự có mặt của AMF trong tất cả các mẫu thu thập đƣợc nhƣng tỷ lệ
xâm nhiễm thấp chỉ đạt mức 3/5 [33], khả năng nảy mầm của các bào tử nấm
rễ bƣởi thấp (chỉ đạt 16%). Trong một nghiên cứu khác, các tác giả đã sử
dụng 3 loại cây ký chủ (ngô, cao lƣơng, lúa mạch) và 3 chủng AMF để nhân
bào tử rồi đƣa ra kết luận: Khi nhân bào tử nhờ cây ký chủ, mỗi loài cây ký
chủ thích hợp cho một chủng nấm, riêng cao lƣơng không thích hợp dùng làm
cây ký chủ để nhân nhanh bào tử AMF, thời gian thu bào tử tốt nhất là 25 –
40 ngày sau khi cây ký chủ mọc [13].
Các kết quả nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Minh (2005, 2007)
trên cây họ đậu cũng cho một số kết quả khả quan ban đầu [8, 9]. Cùng năm
2007, Nguyễn Hoàng Yến công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về phân bố
của AMF trong cây họ Sao dầu ở Đồng Nai [17].
Tuy có nhiều tài liệu đề cập đến vai trò của nấm cộng sinh AMF nhƣng
chƣa có nghiên cứu về vai trò của nấm cộng sinh đối với cây cam cũng nhƣ
ảnh hƣởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác, dinh dƣỡng đất đến nấm cộng
sinh trên cây cam.Các nghiên cứu sâu rộng về AMF ở mức độ sinh học phân
tử, bằng các phƣơng pháp nhƣ RFLP, RAPD chƣa đƣợc tiến hành hoặc chƣa
đƣợc công bố.
Tóm lại, mối quan hệ cộng sinh nấm rễ – thực vật ít đƣợc quan tâm
nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam, đặc biệt chƣa có công trình khoa học
nào nghiên cứu về AMF ở cây cam. Bởi vậy đề tài: “Nghiên cứu hệ nấm cộng
sinh (Arbuscular Mycorrhiza) trong đất trồng cam ở Quỳ Hợp – Nghệ An”
đƣợc thực hiện nhằm góp phần thiết thực vào hƣớng nghiên cứu mới: Ứng
dụng AMF để nâng cao năng suất cây cam nói riêng và cây trồng nông – lâm
nghiệp nói chung trên cơ sở bảo vệ môi trƣờng sinh thái theo hƣớng phát triển
bền vững trong thế kỉ XXI.
Thiết bị chủ yếu:
- Bộ rây với các kích cỡ: 10.000 m; 70.000 m; 5.000 m; 2.500 m;
1.000 m; 750 m; 500 m; 250 m; 90 m và 40 m.
- Kính hiển vi quang học Olympus BH với hệ thống chụp ảnh chống
rung.
- Bộ vi gắp và bộ hút chân không áp suất thấp.
- Phễu hút kèm giấy lọc Whatman số 1 – 4.
21
- Tủ lạnh -20
0
C Vestfrost (Đan Mạch), Máy li tâm BioFuge fresco
(Đức), Lò vi sóng Sharp (Nhật Bản), Cân điện tử Precisa (Thụy Sỹ),
Máy chu trình nhiệt GenAmp PCR System 9700 (Mỹ), Máy chụp gel
BioRad (Đức), Tủ lạnh Toshiba (Nhật Bản), Máy điện di Mupid –
2plus (Nhật Bản), Máy li tâm nhanh Picofuge (Mỹ), Máy giải trình tự
ABI 3100 Bio System (Mỹ), Pipette Gilson (Pháp), Bể ổn nhiệt
Memmert (Hàn Quốc), Bộ dụng cụ điện di (Đài Loan), Máy đo quang
phổ (Đức).
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp tách bào tử
- Lấy mẫu, bảo quản mẫu: Theo phƣơng pháp của Hayman 1983, mẫu
lấy ở ba tầng phẫu diện khác nhau: Tầng 0 - 20 cm, tầng 20 – 40 cm và tầng
40 – 60 cm. Mẫu sau khi lấy đƣợc bảo quản ở 4
o
C cho đến khi phân tích [34].
- Tách bào tử từ đất: Sử dụng kỹ thuật sàng ƣớt (wet siewing) qua rây
kết hợp với ly tâm trong thang nồng độ của sucrose (dịch 50%) theo Daniel&
Skipper (1982) [26], Tommerup (1992) [56].
Bƣớc 1:
lƣợng bào tử đƣợc xác định bằng phƣơng pháp đếm trực tiếp trên màng lọc có
chia ô của hãng Satorri.
- Xác định hình dạng và kích thƣớc của bào tử: Bảng so sánh của
Morton [38].
- Xác định các dạng xâm nhiễm AMF: Nhuộm Tryphan blue có cải tiến
của Brundrett Mark và cộng sự [25].
- Xác định tên chi và loài: Theo Schenck và cộng sự [47].
23
- Giữ giống các bào tử AMF: Lây nhiễm chủ động vào chậu chứa đất cát
khử trùng trƣớc khi trồng cây ký chủ ngô [18].
- Màu sắc của bào tử: Xác định bằng bảng màu chuẩn 4 nhân tố.
24