Nghiên cứu thực trạng công nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an luận văn tốt nghiệp đại học - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA ĐỊA LÝ

KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CNH – HĐH
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN NGHI LỘC,
TỈNH NGHỆ AN

Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp

VINH – 2011

: ThS. Nguyễn Thị Trang Thanh
: Phan Thị Vân
: 48A Địa lý


LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin chân thành cảm ơn cô giáo
hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Trang Thanh – người đã tận tình giúp đỡ em trong
suốt quá trình làm khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Địa lí, gia đình và
tất cả bạn bè đã giúp đỡ động viên em trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô, chú, anh, chị đang công
tác tại phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Công thương, phòng

Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá (CNH - HĐH) nông nghiệp là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với
công nghiệp chế biến và thị trường, ứng dụng các thành tựu khoa học công
nghệ vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường. Có thể nói thực
hiện CNH – HĐH nông nghiệp là một chiến lược phát triển kinh tế quan trọng là
và nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu ở Việt Nam hiện nay.
Nghi Lộc là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An có nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Hiện nay, kinh tế
huyện Nghi Lộc vẫn chủ yếu là nông nghiệp. Năm 2009 dân số sống trong khu
vực nông thôn của Nghi Lộc là 180476 người, chiếm gần 97,7% tổng dân số
toàn huyện, lao động trong nông nghiệp chiếm khoảng 70 % tổng số lao động và
tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp chiếm tới 33,2 % GDP của
huyện. Tuy nhiên, giá trị sản xuất nông nghiệp mang lại chưa cao, kỹ thuật sản
xuất còn lạc hậu, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của huyện. Vì vậy, phát
triển nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH là một trong những mục tiêu quan
trọng trong đường lối phát triển kinh tế của Nghi Lộc hiện nay.
Mặt khác, việc thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp ở huyện Nghi Lộc sẽ
thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển, đảm bảo an ninh lương
thực cho nhân dân và thúc đẩy công nghiệp, dịch vụ phát triển, từ đó thúc đẩy
kinh tế huyện phát triển.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng CNH – HĐH nông
nghiệp ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thông qua đánh giá tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình CNH –
HĐH nông nghiệp và phân tích thực trạng CNH – HĐH nông nghiệp ở huyện
Nghi Lộc, tôi đề xuất các giải pháp thực hiện thành công CNH – HĐH nông
nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc phát triển theo
hướng bền vững

nông nghiệp, dịch vụ, dân cư – lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ
tầng..v..v.. Do đó việc thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp và các nguồn lực
luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mọi hoạt động của nông nghiệp đều gắn
liền với yếu tố tự nhiên. Mọi hoạt động của sản xuất đều gắn liền với dân cư, lao
động và xã hội. Giữa nguồn lực và thực trạng CNH – HĐH nông nghiệp có mối
quan hệ tác động qua lại, mối quan hệ nhân quả. Nếu các nhân tố tự nhiên, kinh
6


tế - xã hội thuận lợi sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển, và ngược lại. Mặt khác
sự phát triển của nông nghiệp sẽ cho phép khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả
hơn các nguồn lực.
Bởi vậy, nghiên cứu thực trạng CNH – HĐH nông nghiệp ở huyện Nghi
Lộc là nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa tự nhiên, kinh tế - xã hội và các
mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố của một thể tổng hợp lãnh thổ cấp huyện
Bên cạnh đó, nông nghiệp huyện Nghi Lộc là một bộ phận của nông
nghiệp tỉnh Nghệ An và của cả nước do đó thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp
ở huyện Nghi Lộc là bộ phận trong chiến lược CNH – HĐH nông nghiệp, nông
thôn của Đảng và Nhà Nước đã đề ra
6.2 Quan điểm lãnh thổ
Mỗi một đơn vị lãnh thổ nhất định đều có sự phân hoá về mặt tự nhiên
cũng như kinh tế - xã hội, khác với khu vực khác. Trong quá trình nghiên cứu
tôi vận dụng quan điểm này một cách triệt để để nêu lên những đặc trưng về tài
nguyên thiên nhiên, về kinh tế xã hội, về thực trạng CNH – HĐH nông nghiệp
của huyện Nghi Lộc.
6.3 Quan điểm thực tiễn
Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu đề tài này giúp tôi biết phát hiện
và lựa chọn những vấn đề nổi bật nhất đang nảy sinh cần giải quyết trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Nghi Lộc để làm đề tài nghiên cứu
nhằm phù hợp với thực tiễn và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn huyện Nghi

Về phương diện môi trường, việc thực hiện CNH – HDH nông nghiệp với
việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh
học sẽ thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái
bền vững, góp phần bảo vệ môi trường.
Mặt khác, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực quan
trọng cho sự phát triển nông nghiệp. Đồng thời hoạt động sản xuất nông nghiệp
cũng tác động không nhỏ đến môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Ta
cần nắm rõ mối quan hệ này để thấy được tầm quan trọng của nguồn lực tự
nhiên đối với sự phát triển nông nghiệp của huyện, nhưng mặt khác phải có các
giải pháp hiệu quả để khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trường sinh thái.
Đề tài không nhìn nhận vấn đề bằng lôgic của mục đích cần hướng tới mà
tôn trọng quy luật phát triển của tự nhiên, chia sẻ quyền lợi và nghĩa vụ trong
vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiện tại và mai sau.
Các giải pháp của đề tài được xây dựng trên cơ sở tôn trọng sự phát triển
khách quan của tự nhiên và chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần
của Nhà nước.

8


7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Để có thông tin đầy đủ cho đề tài nghiên cứu tôi đó thu thập tài liệu ở các
cơ quan như: Cục Thống kê tỉnh Nghệ An, UBND huyện Nghi Lộc, Phòng
Thống kê, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và môi trường, Phòng Lao
động và xã hội, Phòng Tài chính tổng hợp, Trạm khuyến nông huyện Nghi Lộc.
Dựa trên những tài liệu thu thập được từ nhiều nguồn đó tôi sử dụng phương
pháp thống kê như một công cụ để thống kê, đánh giá những giá trị gần đúng,
xác thực nhất, cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.

Chương 4. Định hướng và giải pháp nhằm thực hiện thành công CNH – HĐH
nông nghiệp huyện Nghi Lộc
Trong đề tài có 9 biểu đồ, 1 bản đồ, 20 bảng số liệu, 6 ảnh minh hoạ. Tổng
cộng 92 trang giấy A4

10


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ
HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM VỀ CNH – HĐH NÔNG NGHIỆP
Có nhiều khái niện CNH – HĐH nông nghiệp được đưa ra và thường được
nhắc đến cùng với khái niệm CNH- HĐH nông thôn. Theo các tác giả cuốn
“Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn vùng
Đồng bằng sông Hồng” thì: “CNH- HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển biến
nền sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nền sản xuất nông nghiệp được đổi
mới một cách căn bản dưới tác động của công nghiệp… Hiện đại hoá nông
nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động có liên quan đến việc ứng dụng những
tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm
nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của
chúng, đồng thời thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội của thị trường về các sản
phẩm nông nghiệp”.
Các tác giả cuốn “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở
vùng Bắc Trung Bộ” cho rằng: “Công nghiệp hoá nông nghiệp là quá trình
chuyển nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hàng hoá
lớn gắn với thị trường, dưới tác động của công nghiệp. Công nghiệp hoá nông
nghiệp và công nghiêph hoá nông thôn có mối quan hệ với nhau, trong đó công
nghiệp hoá nông thôn bao hàm cả công nghiệp hoá nông nghiệp; còn công
nghiệp hoá nông nghiệp chỉ là một mặt của công nghiệp hoá nông thôn. Hiện

nói riêng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và những lợi thế phát triển của
Việt Nam hiện nay. Cụ thể, việc tiến hành CNH – HĐH nông nghiệp có ý nghĩa
quan trọng sau đây:
1.2.1. Thực hiện CNH- HĐH nông nghiệp nhằm đảm bảo an ninh lương
thực
Lương thực là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đối với cuộc sống con người ,
nhất là đối với một nước có truyền thống tiêu dùng lúa gạo như Việt Nam. Vì
vậy, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là nhân tố quan trọng hàng đầu
để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, nhờ đó thúc đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện phân công lại lao động xã hội hợp lí
hơn.
Quy mô dân số Việt Nam ngày càng tăng nên nhu cầu lương thực phẩm
cũng tăng lên rất nhanh, trong khi đó quỹ đất nông nghiệp của nước ta lại ít. Do
đó, để đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho hơn 80 triệu dân đòi hỏi nông nghiệp
phải được CNH – HĐH để tạo sự phát triển vượt bậc về năng suất và sản lượng
cây trồng vật nuôi. Mặt khác, nếu nông nghiệp không sản xuất đủ lương thực thì
12


việc dùng ngoại tệ để nhập khẩu lương thực sẽ đè nặng lên chi tiêu của chính
phủ, do đó sẽ ngăn cản việc nhập khẩu máy móc, nguyên nhiên liệu phục vụ cho
công nghiệp hoá đất nước. Thực tế đó nói lên rằng, nếu trong cơ cấu nền kinh tế
quốc dân mà không có một nền nông nghiệp phát triển để đảm bảo đầy đủ lương
thực cho con người thì toàn bộ nền kinh tế sẽ gặp không ít khó khăn trong việc
tạo ra tốc độ tăng trưởng cao. Do đó vấn đề an ninh lương thực là nhiệm vụ của
quốc gia cũng như của từng địa phương.
Trong hơn một thập kỉ qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc
giải quyết vấn đề lương thực (từ một nước thiếu lương thực triền miên trở thành
nước xuất khẩu gạo). Tuy vậy, hiện nay vấn đề an toàn lương thực vẫn phải
được quan tâm bởi lương thực bình quân đầu người hiện tại vẫn chưa đạt mức

nghiệp nhiều hơn, khi đó công nghiệp mới có cơ hội phát triển và đến lượt nó
công nghiệp sẽ thúc đẩy trở lại đối với sự phát triển nông nghiệp nông thôn và
các ngành khác.
Mặt khác, nông nghiệp là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp
từ tư liệu sản xuất, vật tư thiết bị đến các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu
dùng. Do đó khi nông nghiệp được CNH – HĐH, nông dân giàu có lên sẽ tiêu
thụ nhiều hàng hoá của công nghiệp sản xuất ra, đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ
lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp phát triển. Như vậy nông nghiệp phát
triển, nông thôn giàu có lên sẽ giúp cho công nghiệp phát triển và công nghiệp
lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển hơn nữa. Bởi vậy chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng nói “ Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy
nông nghiệp làm gốc”
Ngoài ra, dưới tác động của khoa học và công nghệ, quá trình CNH – HĐH
sẽ giải phóng một bộ phận lao động ra khỏi nông nghiệp để chuyển sang lĩnh
vực công nghiệp và dịch vụ, do đó công nghiệp và dịch vụ sẽ có cơ hội phát
triển nhanh.
1.2.3. Thực hiện CNH- HĐH nông nghiệp nhằm tích luỹ vốn cho nền kinh tế
Nền kinh tế thuần nông với đa phần dân số sinh sống ở nông thôn và có
nhiều tiềm năng để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với quy mô lớn. Bởi
vậy, thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp sẽ cho phép khai thác triệt để và có
hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông lâm ngư nghiệp nhằm tạo giá trị thu nhập
cao. Bởi việc phát triển công nghệ sinh học sẽ tạo ra nhiều giống cây, con mới
phù hợp với điều kiện sinh thái, rút ngắn thời gian canh tác, do đó sẽ tăng vụ và
tăng sản lương và giá trị trên một đơn vị diện tích. Việc áp dụng thành tựu khoa
học kỹ thuật hiện đại trong đánh bắt và chế biến hải sản sẽ làm tăng sản lượng
và giá trị của nguồn lợi từ biển, từ đó sẽ tạo nguồn thu nhập cao cho ngư dân.
Như vậy, CNH – HĐH nông nghiệp làm cho năng suất lao động nông
nghiệp và các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn nâng cao, thu nhập của nông
14


nay, Việt Nam vẫn là một nước nghèo và có sự chênh lệch rõ rệt giữa thành thị
và nông thôn. Điều này tiềm ẩn nguy cơ của sự bất ổn.
Hơn nữa, sự kém phát triển của nông nghiệp ở một nước dân số chủ yếu
làm nông nghiệp như ở nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm và thu
15


nhập cho người dân do đó đã làm tăng thêm làn sóng di cư tự do từ nông thôn ra
thành thị gây sức ép về vấn đề môi trường, việc làm, giao thông, nhà ở, nước
sạch, tệ nạn xã hội… Do vậy, tiến hành CNH – HĐH nông nghiệp để thúc đẩy
nông nghiệp, nông thôn phát triển đồng thời tạo công ăn việc làm tại chỗ cho
người dân là việc hết sức có ý nghĩa.
Mặt khác, sự nghèo đói cùng với ý thức thấp kém của người dân trong việc
bảo vệ môi trường đã làm cho tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách bừa
bãi, không chỉ làm cho nguồn tài nguyên chóng cạn kiệt mà còn gây ra hậu quả
nghiêm trọng về môi trường. Bởi dân đông, tăng nhanh trong khi đất canh tác
ngày càng giảm do đó người dân phải sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu
để thâm canh tăng vụ tăng sản lượng thì hệ quả tất yếu của quá trình đó là sự suy
thoái nặng nề của đất đai, là sự ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Những vấn đề đặt ra yêu cầu là phải trang bị cho nông nghiệp không chỉ các
phương tiện sản xuất hiện đại để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi mà còn phải
trang bị cho nông dân cả tư duy công nghiệp, phương pháp công nghiệp, tác
phong công nghiệp và ý thức tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường. Chỉ đạt
được những điều đó khi có một nền nông nghiệp phát triển hiện đại, một nông
thôn phát triển ngày càng văn mimh, giàu đẹp và những người nông dân ngày
càng được tri thức hoá.
Các học giả Đài Loan cho rằng: “ Vấn đề nông nghiệp và nông thôn bao gồm
các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục cho nên nó vô cùng quan
trọng và phức tạp. Trong tương lai, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân sẽ ngày càng thu nhỏ nhưng nó vẫn là lực lượng chủ yếu quyết định sự ổn

kinh tế đa dạng cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, du lịch,
thương mại và dịch vụ
Lực lượng lao động nước ta khá đông với trình độ học vấn tương đối cao
(96% người lớn biết chữ, 24% lao động được đào tạo trong đó trình độ cao đẳng
– đại học là 13% ). Đó là điều kiện quan trọng để người lao động tiếp thu và ứng
dụng những thành tựu mới của khoa học – công nghệ thế giới, đẩy nhanh CNH –
HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, việc thực hiện CNH – HĐH nông
nghiệp sẽ thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển sẽ lại thu hút và sử dụng
một cách hiệu quả nhất đối với lực lượng lao động tiềm tàng này.
Như vậy, việc xác định lựa chọn chiến lược CNH – HĐH ở Việt Nam bắt
đầu từ nông nghiệp hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn nước ta và cũng
phù hợp với quy luật phát triển từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn hiện
đại. Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nếu muốn công nghiệp hoá
gấp thì là chủ quan. Cho nên, trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp. Ta
cho nông nghiệp là quan trọng, ưu tiên, rồi đến thủ công nghiệp, sau mới đến

17


công nghiệp nặng”. Theo người đó là cách để “ đi bước nào vững vàng, chắc
chắn bước ấy”.
1.3. NỘI DUNG CỦA CNH - HĐH NÔNG NGHIỆP
CNH – HĐH nông nghiệp cần giải quyết các nội dung sau đây:
1.3.1. Phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá
Có thể nói, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là xu thế
phát triển tất yếu bởi chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hoá phát triển mới kích thích
và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ phát triển nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp thành nền nông
nghiệp hiện đại, hướng vào xuất khẩu. Nền nông nghiệp hàng hoá được đánh giá
qua một số tiêu chí sau đây:

hoá tập trung quy mô lớn để áp dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học
công nghệ, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạng tranh
của sản phẩm trên thị trường hướng vào xuất khẩu. Ví dụ như các vùng chuyên
canh cây công nghiệp, chuyên canh cây thực phẩm, chuyên canh nuôi trồng thuỷ
sản, các trang trại… Xây dựng vùng sản xuất hàng hoá lớn sẽ tạo được khối
lượng nông sản lớn, chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế
biến, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, từ đó nâng cao đời sống nhân dân.
1.3.1.2. Khối lượng sản xuất nông nghiệp
Nền nông nghiệp hàng hoá phải tạo ra khối lượng sản phẩm lớn không chỉ
đáp ứng đủ nhu cầu lương thực thực phẩm trong huyện mà còn có đủ lương thực
cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu.
1.3.1.3. Tốc độ phát triển nông nghiệp
Không chỉ tạo ra khối lượng nông sản lớn mà nền nông nghiệp sản xuất
hàng hoá với việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ phải không
ngừng nâng cao năng suất, sản lượng để tăng tốc độ phát triển nông nghiệp.
1.3.1.4. Cơ cấu nông sản
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là chuyên môn hoá
sản xuất các sản phẩm có thị trường tiêu thụ lớn để hướng vào xuất khẩu, đồng
thời đa dạng hoá các sản phẩm có khả năng sản xuất để đáp ứng nhu cầu nội tại.
Do đó cơ cấu nông sản đa dạng và phong phú.
1.3.1.5. Chất lượng nông sản
Với việc áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ từ khâu chọn giống,
gieo trồng, chăn nuôi đến khâu thu hoạch, bảo quản nông sản do đó chất lượng
nông sản được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu hàng sạch và an toàn cho người
tiêu dùng.

19


1.3.1.6. Giá trị nông sản

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng các công cụ cơ giới
ngày càng hiện đại là điền kiện trực tiếp để tăng năng suất lao động và do đó
20


tăng thặng dư nông nghiệp. Thực tế đã cho thấy muốn có một nền nông nghiệp
bền vững, năng suất lao động cao thì không thể dựa vào những nông cụ truyền
thống thô sơ với sức kéo của trâu bò là chủ yếu, mà phải thay thế về cơ bản lao
động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Chỉ có trang bị các công cụ cơ
giới cho nông nghiệp trong tất cả các khâu từ sản xuất đến thu hoạch, vận
chuyển và chế biến thì mới cải tạo được nền nông nghiệp thủ công lạc hậu, năng
suất thấp, tự cấp tự túc sang nần nông nghiệp cơ khí hiện đại, năng suất cao,
khối lượng nông sản hàng hoá lớn.
Việc sử dụng công cụ cơ giới trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ tăng
năng suất lao động mà còn tăng năng suất cây trồng. Bởi vì một khi năng suất
lao động tăng lên thì tính chất thời vụ sẽ được đảm bảo và do đó cây sinh trưởng
tốt hơn, khắc phục được những hiểm hoạ do khí hậu và thời tiết gây ra. Mặt
khác trong khâu làm đất nếu cày bừa bằng máy sẽ đảm bảo được độ sâu và độ
mịn cần thiết nên cây trồng có cơ hội hút được nhiều chất dinh dưỡng hơn do đó
sản lượng cao hơn. Trong khâu thu hoạch, vận chuyển và chế biến nến được cơ
giới hoá thì không chỉ làm tăng năng suất, đảm bảo tính thời vụ mà còn tăng
chất lượng sản phẩm, giảm được hư hao, thất thoát
Ngoài ra, đẩy mạnh cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp không chỉ làm tăng
năng suất lao động nông nghiệp mà còn có tác động đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn thông qua việc giải phóng một bộ phận lao động nông nghiệp
sang các hoạt động phi nông nghiệp. Đồng thời năng suất lao động tăng lên, đất
trồng sớm được giải phóng do đó có thể tăng thêm mùa vụ, tăng sản lượng và
giá trị thu nhập.
Với những tác động đó, cơ khí hoá nông nghiệp là nội dung quan trọng của
CNH – HĐH nông nghiệp hiện nay.

lượng vốn đầu tư rất lớn mà khả năng của Nhà nước và của nhân dân còn hạn
chế.
1.3.2.4. Sinh học hoá
Sự phát triển của công nghệ sinh học có tác động ngày càng lớn đến sự phát
triển của nông nghiệp. Nó không chỉ tác động đến việc cải tạo giống cây, giống
con hay tạo ra những loại giống mới có năng suất, chất lượng cao mà còn tác
động rất lớn đến khâu chế biến, bảo quản giá trị sử dụng của sản phẩm, đặc biệt
hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái bền vững. Vì vậy CNH –
HĐH nông nghiệp hiện nay cần phải thực hiện nội dung là áp dụng nhanh các
thành tựu của cách mạng sinh học để tạo và nhân nhanh giống cây trồng, vật
nuôi, đặc biệt là áp dụng nhanh các thành tựu về giống có ưu thế lai như kỹ thuật
cấy truyền hợp tử, kỹ thuật gen hoocmon sinh trưởng, áp dụng công nghệ sản
xuất các loại phân vi sinh cố định nitơ để thay thế dần phân đạm hoá học, sản
xuất các chế phẩm vi sinh để bảo vệ cây trồng thay thế dần các loại hoá chất độc
22


hại đối với người và gia súc, sản xuất các loại thuốc thú y và các loại văc xin thế
hệ mới… Điều đó sẽ vừa làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, vừa tạo được
nông phẩm sạch đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
Trong điều kiện hiện nay, nội dung cách mạng sinh học ở nước ta là phải
tập trung vào các khâu chính của quá trình sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp,
đặc biệt là trong khâu giống và khâu sau thu hoạch để nâng cao giá trị sản phẩm
tiêu dùng và xuất khẩu.
1.3.3. Phát triển nguồn nhân lực
Có thể nói trình độ của nông dân có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình CNH –
HĐH nông nghiệp. Tuy nhiên nông dân Việt Nam vẫn quen với cách làm ăn của
tư duy sản xuất nhỏ, kỹ thuật canh tác cổ truyền do đó năng suất lao động thấp.
Người nông dân trong thời đại CNH – HĐH, thời đại nông nghiệp sản xuất
hàng hoá không thể là người kém hiểu biết, với những kinh nghiệm sản xuất cổ

sau huyện Quỳnh Lưu và Yên Thành. Với dân số 223.675 người (đứng thứ 4
toàn tỉnh sau Quỳnh Lưu, Yên Thành và Diễn Châu).
Nghi Lộc là huyện cửa ngõ của thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò.
Về toạ độ địa lý: Điểm cực Bắc nằm ở 18054’B
Điểm cực Nam nằm ở 18041’B
Điểm cực Đông nằm ở 105048’ Đ
Điểm cực Tây nằm ở 108028’Đ
Về vị trí tiếp giáp : Phía Bắc giáp huyện Diễn Châu, Yên Thành
Phía Nam giáp huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên và TP Vinh
Phía Đông giáp Thị xã Cửa Lò và Biển Đông
Phía Tây giáp huyện Đô Lương
Với vị trí này rất thuận lợi để Nghi Lộc hợp tác trong sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp và phát triển tổng hợp kinh tế biển. Đặc biệt, huyện Nghi Lộc liền kề
với Thành phố Vinh - Trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ về
phía Nam, phía Bắc, phía đông, phía Tây (Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ); trung tâm kinh tế chính trị xã hội lớn của tỉnh Nghệ An.
Đây là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, tạo động lực phát triển
kinh tế của huyện. Đồng thời Thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò là thị trường tiêu
thụ nông sản quan trọng của huyện Nghi Lộc

24


Nghi Lộc có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ thuận
lợi, có nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua địa bàn huyện như: Quốc lộ
1A (dài 22km); Quốc lộ 46 (dài 19km); Đường sắt Bắc - Nam (dài 22km); sân
bay Vinh; tỉnh lộ 534 (dài 28km); tỉnh lộ 535 (dài 12km). Với chiều dài 14 km bờ
biển, có 2 con sông lớn chảy qua địa bàn là Sông Cấm (dài 15km) và Sông Lam
(dài 6km). Cùng với hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thôn cơ bản đã được
nhựa hoá, bê tông hoá tạo thành mạng lưới giao thông của huyện khá hoàn chỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status