TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
--------------
VAI TRÒ CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM
2010 TRÊN ĐỊA BÀN XÃ QUỲNH LIÊN, HUYỆN QUỲNH
LƯU, TỈNH NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người thực hiện: Lê Hữu Sơn
Lớp:
48 KN&PTNT
Người hướng dẫn: KS Nguyễn Thị Hương
Giang
Vinh, tháng 7/2011
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
giảng viên K.S Nguyễn Thị Hương Giang, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng trong nghiên cứu và bảo vệ trong một
công trình khoa học nào, các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn
gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Vinh, tháng 7 năm 2011
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN..........................i
2.1.1. Đối tượng........................................................................................................xxxi
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................xxxi
* Phạm vi không gian................................................................................................xxxi
*Phạm vi thời gian....................................................................................................xxxi
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- ATVSTP
An toàn vệ sinh thực phẩm
- BVTV
Bảo Vệ Thực Vật
- CCCT
Cơ cấu cây trồng
- CNH – HDH
Công nghiệp hóa hiện đại hóa
- HTCT
Hệ thống cây trồng
Sản xuất nông nghiệp
- TTCN
Thị trường công nghiệp
- VAC
Vườn ao chuồng
- WTO
Tổ chức thương mại quốc tế
- XDCB
Xây dựng cục bộ
v
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH...................................................................................................i
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP.................................................................................................i
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN..........................i
2.1.1. Đối tượng........................................................................................................xxxi
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................xxxi
* Phạm vi không gian................................................................................................xxxi
*Phạm vi thời gian....................................................................................................xxxi
vẫn là từ nông nghiệp. Trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thế kỷ qua, nông
nghiệp luôn giữ vị trí quan trọng. Với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật như
hiện nay, nhất là trong nông nghiệp thì chưa có một ngành nào có thể thay thế vị trí
này được. Bên cạnh việc góp phần làm tăng truởng kinh tế và giải quyết được rất
nhiều vấn đề của cuộc sống thì nông nghiệp ở Việt Nam còn thể hiện một nền văn
hoá lâu đời của dân tộc ta – nền văn minh lúa nước.
vii
Nói đến sản xuất nông nghiệp là nói đến đất đai, cây trồng, vật nuôi và các
điều kiện nguồn lực khác… Trong đó đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
không thể thay thế được. Nó có vai trò quyết định đến sự sinh tồn của con người và
mọi sinh vật sống trên Trái đất [7]. Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của KHKT
đã cho ra đời nhiều loại giống mới cho năng xuất cao và phẩm chất tốt. Tuy nhiên,
thiên nhiên luôn vận hành và biến đổi không ngừng tạo ra những đặc diểm khác
nhau giữa các vùng miền, giữa các thời điểm khác nhau; cùng với sự gia tăng dân số
và các tác động của thời tiết như sự nóng dần lên của Trái đất,… làm cho các nguồn
lực để phát triển sản xuất ngày càng bị hạn chế. Do vậy để sản xuất có hiệu quả thì
việc xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý, có khả năng tận dụng hết lợi thế so sánh của
từng vùng miền mang ý nghĩa hết sức to lớn và giữ vai trò quyết định trong sản
xuất.
Xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý thì phải lựa chọn và bố trí cây trồng một
cách hợp lý nhất, các loại cây trồng sẽ hỗ trợ nhau cùng phát triển (cây trồng trước
là tiền đề để phát triển cây trồng sau). Ví dụ: Các loại cây trồng họ đậu (đậu tương,
đậu xanh, lạc,…) có tác dụng cải tạo hỗ trợ đất cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất,
vì vậy có thể trồng xen ngô, cây hòa thảo góp phần giảm quá trình xói mòn và thoái
hóa đất. Việc bố trí cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng địa phương
như địa hình, khí hậu, đất đai và các yếu tố kinh tế - xã hội,… sẽ tạo điều kiện cho
đối tượng gieo trồng phát triển tốt và cho năng suất sản xuất cao hơn, ổn định mức
Như vậy, qua phân tích tính cấp thiết của vấn đề ở trên cho thấy mỗi điều
kiện sản xuất ở mỗi vùng khác nhau là khác nhau, cần có những cơ cấu cây trồng cụ
thể hợp lý khác nhau thì mới mang lại hiệu quả cao trong sản xuất. Hầu hết các mô
hình được triển khai và mang lại hiệu quả song chúng ta chưa tiến hành đánh giá
hiệu quả so sánh trước và sau khi thực hiện tạo cơ sở cho nhân dân tin tưởng tiếp
thu học hỏi và tổ chức nhân rộng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, được sự nhất trí của trường Đại học Vinh,
cùng với sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Hương Giang, tôi đã liên hệ và
được nhận về thực tập tại Phòng NN & PTNT huyện Quỳnh Lưu và tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Vai trò của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất
nông nghiệp vụ đông xuân năm 2010 trên địa bàn xã Quỳnh Liên, huyện Quỳnh
Lưu, tỉnh Nghệ An”
Trong cuốn KLTN này, tuy đã hết sức cố gắng song do trình độ và kinh
nghiệm còn hạn hẹp, bước đầu tham gia nghiên cứu còn có nhiều bỡ ngỡ cùng với
những hạn chế của đối tượng nghiên cứu nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Do
ix
vậy, tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý Thầy cô và
bạn đọc để nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn nữa. Đây chính là những bài học
kinh nghiệm quý báu cho quá trình công tác của tôi sau này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của đề tài này là nghiên cứu vai trò của việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng trong sản xuất nông nghiệp vụ đông xuân năm 2010 trên địa bàn xã Quỳnh
Liên, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trên cơ sơ đó để đề xuất một số giải pháp
nhằm quy hoạch, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để góp phần tăng năng suất và hiệu
quả trong sản xuất nông nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người
dân vùng nghiên cứu.
cây trồng trong sản xuất nông nghiệp vụ đông xuân năm 2010 tại địa bàn cũng như
những hạn chế.
- Làm tiền đề xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền vững, đa dạng
hóa sản phẩm nói chung và nông sản vụ đông xuân nói riêng
- Tăng cường phát huy những tiềm năng sẵn có về diều kiện tự nhiên, kinh
tế- xã hội, tập quán sản xuất, nguồn lao động dồi dào của địa phương kết hợp với
việc áp dụng triệt để tiến bộ KHKT sản xuất, từng bước hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn. Tạo ra sức cạnh tranh trong quá trình mở cửa hội nhập vào nền kinh tế
thị trường khu vực và trên thế giới giai đoạn hiện nay.
xi
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây trồng có trong một
vùng ở một thời điểm nhất định, nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp, nó
phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp, phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp được nhiều nhất
những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (Đào Thế Tuấn,1984) [13];
(Cao Liêm, Trần Đức Viên, 1990) [23].
Cơ cấu cây trồng là một trong những nội dung quan trọng của một hệ thống
biện pháp kỹ thuật gọi là chế độ canh tác. Ngoài cơ cấu cây trồng, chế độ canh tác
bao gồm chế độ luân canh, làm đất, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và cỏ
dại. Cơ cấu cây trồng là yếu tố cơ bản nhất của chế độ canh tác, vì chính nó quyết
định nội dung của các biện pháp khác.
Cơ cấu cây trồng còn là thành phần của một nội dung rộng hơn gọi là cơ cấu
sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp như trên bao gồm nhiều ngành sản
xuất như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản (Đào Thế Tuấn, 1978) [10].
cấu cây trồng hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm
thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất. Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng hợp lý
cần thỏa mãn yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo đảm việc
hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng nguồn lợi tự
nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu
quả kinh tế cao.
Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây
trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất
của vùng. Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây
trồng lại là cơ sở hợp lý cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng
sản xuất (Phạm Chí Thành và ctv, 1996), (Đào Thế Tuấn,1984) [13].
1.1.3. Khái niệm về chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Như chúng ta đã biết, các điều kiện tự nhiên trên Trái đất là có hạn và ngày
càng bị khai thác triệt để trong khi dân số vẫn ngày càng tăng. Mặt khác, sự nóng
lên của Trái đất trong mấy năm trở lại đây đang diễn ra mạnh mẽ đã ảnh hưởng rất
lớn đến tình hình diễn biến thời tiết khí hậu của nhân loại, điều này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến sự phát triển kinh tế nhất là kinh tế nông nghiệp của mọi quốc gia trên
thế giới. Bởi điều này tác động mạnh đến đất đai và các yếu tố nguồn lực phục vụ
xiii
cho sản xuất nông nghiệp. Do vậy việc bố trí CCCT, mùa vụ cũng sẽ gặp phải
những khó khăn nhất định. Đây là vấn đề hết sức quan trọng nên cần có hướng giải
quyết tốt nhất để không làm suy giảm sự phát triển của nền kinh tế.
Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn là một phạm trù mang tính khoa
học và thực tiễn, biểu thị khả năng quản lý và kiểm soát nền kinh tế trên từng địa
bàn lãnh thổ và trên phạm vi cả nước. Trong chiến lược phát triển kinh tế xóa đói
giảm nghèo của Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn 2001-2010 thì sự
chuyển dịch cơ cấu sản xuất là một trong những mũi nhọn đưa kinh tế đất nước
đầu bằng việc phân tích hệ thống canh tác truyền thống. Chính từ kết quả đánh giá
phân tích đặc điểm của cây trồng tại khu vực nghiên cứu mới tìm ra các hạn chế và
lợi thế, so sánh để đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lý. Khi thực hiện chuyển đổi cơ cấu
cây trồng cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải căn cứ vào yêu cầu thị trường.
- Phải khai thác hiệu quả các tiềm năng về điều kiện tự nhiên và điều kiện
kinh tế - xã hội của mỗi vùng.
- Bố trí cơ cấu cây trồng phải biết lợi dụng triệt để những đặc tính sinh học
của mỗi loại cây trồng, để bố trí cây trồng phù hợp với các điều kiện ngoại cảnh,
nhằm giảm tối đa sự phá hoại của dịch bệnh và các điều kiện thiên tai khắc nghiệt
gây ra.
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ
thuật và việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
- Về mặt kinh tế, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo có hiệu quả
kinh tế, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao.
Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống
cây trồng hiện tại hoặc đưa ra những hệ thống cây trồng mới. Hướng vào các hợp
phần tự nhiên, sinh học, kỹ thuật, lao động, quản lý, thị trường, để phát triển cơ cấu
cây trồng trong những điều kiện mới nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất (Lê
Minh Toán, 1998) [26].
Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cơ cấu cây trồng phải đánh giá thực trạng, xác định
cơ cấu cây trồng phù hợp với thực tế phát triển cả về định lượng và định tính, dự báo
được mô hình sản xuất trong tương lai; phải kế thừa những cơ cấu cây trồng truyền
thống và xuất phát từ yêu cầu thực tế, hướng tới tương lai để kết hợp các yếu tố tự
nhiên, kinh tế - xã hội (Lê Trọng Cúc và ctv, 1995) [28], (Trương Đích, 1995) [27].
xv
lượng, giá cả
C«ng thøc
lu©n canh
(Nguån: Zandstras, 1981)
Sơ đồ 1: Các thành phần của hệ thống nông nghiệp
(Nguồn: Zandstras, 1981)
Theo Đào Thế Tuấn, (1984)[13], HTCT là thành phần các giống và loài cây
được bố trí trong không gian và thời gian của hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận
dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế, xã hội. Theo tác giả, cơ cấu cây
trồng (CCCT) là nội dung chính của hệ thống cây trồng. Bố trí cây trồng hợp lý là
biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái. Một
CCCT hợp lý chỉ khi nó lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và né tránh thiên tai,
lợi dụng các đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh, cỏ dại, đảm bảo sản
xvi
lượng cao và tỷ lệ hàng hoá lớn, đảm bảo phát triển tốt chăn nuôi và các ngành kinh
tế hỗ trợ, sử dụng hợp lý lao động, vật tư, phương tiện.
Theo Zandstra và ctv, (1981)[12], HTCT là các hình thức đa canh bao gồm:
trồng xen, trồng gối, trồng luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn
hỗn hợp, Công thức luân canh là tổ hợp trong không gian và thời gian của các cây
trồng trên một mảnh đất và các biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng.
Theo Nguyễn Duy Tính, (1995)[14], HTCT là một thể thống nhất trong mối quan
hệ tương tác giữa các loài cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không
gian và thời gian.
Do đặc tính sinh học của cây trồng và môi trường luôn biến đổi nên HTCT
mang đặc tính động. Vì vậy nghiên cứu HTCT không thể dừng lại ở một không gian
đồng bằng châu thổ sông Hồng và đã đưa ra nhận định về những yêu cầu cần đạt
được của một cơ cấu cây trồng thích hợp là phải:
Khai thác tốt nhất các điều kiện khí hậu và tránh hoặc giảm được những tác
hại của thiên tai đối với cây trồng.
Khai thác tốt nhất các điều kiện đất đai, bảo vệ và bồi dưỡng độ phì của đất.
Khai thác tốt nhất các đặc tính sinh học của cây trồng (khả năng cho năng
suất cao, phẩm chất tốt, ngắn ngày, thích ứng rộng, khả năng chống chịu cao) nhằm
đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất.
Tránh đơược tác hại của sâu bệnh, cỏ dại và các tác nhân sinh học khác với
phương pháp sử dụng ít nhất các biện pháp hoá học.
Đảm bảo tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao.
Đảm bảo hỗ trợ cho các ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận
dụng các nguồn lợi thiên nhiên (Đào Thế Tuấn, 1989) [11].
Cơ cấu cây trồng hợp lý có vai trò quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng giá trị hàng hoá, tăng thu
nhập của người dân bản địa. Do vậy, xác định cơ cấu cây trồng phải dựa trên cơ sở:
- Các yếu tố khí hậu như chế độ nhiệt, chế độ mưa, bão ...
- Các yếu tố đất đai nhươ thành phần cơ giới, thành phần hóa học và đặc
điểm địa hình của đất
- Yếu tố cây trồng, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn loại cây trồng tận
dụng được tốt nhất các điều kiện khí hậu, đất đai và tài nguyên khác.
- Bố trí cơ cấu cây trồng là xây dựng một hệ sinh thái nhân tạo. Mối quan hệ
giữa các sinh vật và cây trồng trong cộng sinh, ký sinh. Vì vậy, cải tiến cơ cấu cây
xviii
trồng tạo nên những quan hệ tỷ lệ mới phù hợp nhất, có hiệu quả, phát triển bền
vững hệ sinh thái (Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, 2000) [18].
Như vậy, nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng
bố trí cơ cấu cây trồng. Tuy nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý cần nắm được
tình hình diễn biến ẩm độ trong năm, vì ẩm độ không khí có ảnh hưởng đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất cây trồng.
- Ánh sáng và cơ cấu cây trồng: ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình
tổng hợp chất hữu cơ của cây, ánh sáng là yếu tố biến động ảnh hưởng đến năng
suất. Cần phân biệt cây trồng theo yêu cầu về cường độ chiếu sáng và khả năng
cung cấp ánh sáng từng thời gian trong năm để bố trí cơ cấu cây trồng cho phù hợp.
Căn cứ vào diễn biến của các yếu tố khí hậu trong năm hoặc trong một thời
kỳ, đồng thời căn cứ vào yêu cầu về nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, ánh sáng của từng
loại cây trồng để bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng thích hợp nhằm né tránh
được các điều kiện bất thuận, phát huy được tiềm năng năng suất của cây (Trần Đức
Hạnh và ctv, 1997) [19]
*Đất đai và cơ cấu cây trồng
Đất đai là nguồn lợi tự nhiên cung cấp năng lượng và vật chất cho cây trồng
và con người, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Đất và
khí hậu hợp thành phức hệ tác động vào cây trồng. Do vậy cần phải nắm được đặc
điểm mối quan hệ giữa cây trồng với đất thì mới xác định được cơ cấu cây trồng
hợp lý.
Về mặt cơ cấu cây trồng người ta đề cập đến tính thích ứng và tính biến động
năng suất của cây trồng. Các tính thích ứng quyết định khả năng sống của cây trồng
đối với các mức (độ mặn, độ chua, ngập nước hay ẩm…). Khi cây đã có đủ điều
kiện thích ứng thì năng suất được quyết định bởi chế độ nước và hàm lượng chất
dinh dưỡng trong đất.
Tuỳ thuộc vào địa hình, thành phần cơ giới, chế độ nước, tính chất lý hoá tính của
đất để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý.
* Cây trồng và cơ cấu cây trồng
Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có đặc điểm kinh tế, sinh học và các
tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng sinh
điều khiển của con người.
- Sự phân bố không gian tương đối đồng đều vì do con người điều khiển.
- Độ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người.
Trong cơ cấu cây trồng cũng xảy ra sự cạnh tranh cùng loài hoặc khác loài.
Khi gieo trồng một loại cây trồng thì vấn đề cạnh tranh cùng loài rất quan trọng.
Cần xác định mật độ gieo trồng và các biện pháp điều chỉnh quần thể để giảm sự
cạnh tranh trong loài. Sự cạnh tranh khác loài cũng xảy ra khi ta trồng xen hoặc
xxi
giữa cây trồng với cỏ dại. Vì vậy khi xác định cơ cấu cây trồng cần chú ý các vấn đề
sau:
- Xác định thành phần cây trồng và giống cây trồng thích hợp với điều kiện
cụ thể của cơ sở sản xuất.
- Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt cũng tránh tác hại của cỏ dại, sâu, bệnh,
Dịch sâu bệnh hại phát triển theo lứa và theo mùa, tác hại của chúng xảy ra nghiêm
trọng trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển nhất định của cây trồng. Do vậy xác định
thời vụ tốt cũng có khả năng né tránh được tác hại của sâu bệnh.
* Hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng
Sau khi xác định cơ cấu cây trồng cần tính toán hiệu quả kinh tế. Cơ cấu cây
trồng mới cần phải đạt hiệu quả kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ. Để đạt hiệu
quả kinh tế cao thì các loại cây trồng trong cơ cấu cây trồng đều phải đạt năng suất
cao.
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồng
chủ yếu, cần bố trí cây trồng bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên - xã hội của
vùng và của cơ sở sản xuất. Về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần phải đạt được các
yêu cầu sau đây:
- Bảo đảm yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao.
- Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ
tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn. Trình độ này quyết định đến
quan hệ giữa nông hộ với thị trường.
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt
động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau, nên khó giới hạn được thế nào là một
hộ nông dân thuần tuý. Vì vậy, hộ nông dân tái sản xuất giản đơn nhờ vào ruộng đất
thông qua cải tiến cơ cấu cây trồng, nhờ đó mà tái sản xuất mở rộng trong nông
nghiệp, phục vụ lợi ích chung của xã hội nên cần thiết phải có chính sách x• hội đầu
tư thích hợp. Hộ nông dân không phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập
hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục đích và cơ chế hoạt động khác nhau. Căn
cứ vào mục đích và cơ chế hoạt động của nông hộ để phân biệt các kiểu hộ nông
dân khác nhau.
- Kiểu nông hộ hoàn toàn tự cấp: ở kiểu hộ này, người nông dân ít có phản
ứng với thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư.
xxiii
- Kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có trao đổi một phần nông sản lấy hàng tiêu
dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả (chủ yếu giá vật tư).
- Kiểu nông hộ bán phần lớn sản phẩm nông sản, có phản ứng nhiều với thị
trường.
- Kiểu nông hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá, có mục đích thu lợi nhuận.
Mục tiêu sản xuất của các hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh,
cơ cấu cây trồng, quyết định mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và
sản phẩm của thị trường.
Cũng theo Viện sĩ Đào Thế Tuấn, quá trình phát triển của các hộ nông dân
trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp đến thu nhập cao.
- Giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng một cây hay một vài cây
lương thực chủ yếu, ít đầu tư thâm canh, năng suất thấp, gặp nhiều rủi ro.
trường nông sản ngày càng tăng.
Quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết định
và còn tuỳ thuộc vào từng vùng, nhưng vấn đề khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất
là yếu tố quyết định cơ bản. Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu
lên mới tập trung vào một số ngành nghề nhất định. Như vậy, chuyên môn hoá chỉ
có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đã phát triển đến mức cao (Đào Thế
Tuấn, 1997) [21]
Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản
xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thiếu thị trường tiêu thụ nông sản. Do đó, để
tìm kiếm, mở rộng thị trường, Nhà nước cần có chính sách để tạo môi trường lành
mạnh, sòng phẳng trong phát triển thị trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như
đường giao thông, mạng lưới điện và thông tin…
Sự phân hoá của nông hộ và trình độ sản xuất chênh lệch của các kiểu nông
hộ ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến cơ cấu cây trồng. Các kiểu nông hộ khác nhau có
trình độ tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật ở mức độ khác nhau. Trình độ là
yếu tố quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các nông hộ trong giai
đoạn đầu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá, khi kỹ thuật áp dụng chưa phải cần
nhiều vốn thì việc đa dạng hoá sản xuất là một xu thế cần thiết cho sự phát triển.
* Thị trường và cơ cấu cây trồng
Theo Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubingeld (Kinh tế học vĩ mô, NXB
Thống kê, Hà Nội, 1999) (dẫn Hồ Gấm, 2003) [22] thì thị trường là tập hợp những
người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi. Thị
trường là trung tâm của các hoạt động kinh tế.
xxv