TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA SINH HỌC
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
THỰC TRẠNG TRỒNG ĐẬU TƯƠNG TẠI
XÃ HƯNG XÃ, HUYỆN HƯNG NGUYÊN,
TỈNH NGHỆ AN
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
VINH – 2011
: ThS. Nguyễn Đình Châu
: Nguyễn Thị Giáng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, cán bộ Sở NN & PTNT, nhân dân và bạn
bè.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Thạc sĩ:
Nguyễn Đình Châu, người thầy kính mến luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ từ
những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của tôi.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, trong khoa Sinh học, phòng
thí nghiệm Di truyền-Vi sinh, phòng thí nghiệm Hóa sinh, Trường Đại học Vinh
cùng tất cả bạn bè và người thân luôn giúp đỡ động viên, tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
bình khoảng 38-40%, lipit từ 18-20%, giàu nguồn sinh tố và muối khoáng. Hạt
đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời
cả protit và lipit. Protein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số các
protein có nguồn gốc thực vật. Hàm lượng protein trong hạt đậu tương cao hơn
cả hàm lượng protein trong cá, thịt và cao gấp hai lần các loại đậu đỗ khác.
Trong công nghiệp người ta sử dụng đậu tương vào việc chế biến cao su
nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt lỏng bôi trơn
trong ngành hàng không ...
Cây đậu tương còn được đánh giá rất cao trong công nghiệp thức ăn gia
súc, chiếm 60% giá trị toàn bộ thức ăn có đạm. Đồng thời thân và lá cây đậu
tương còn được sử dụng làm phân xanh rất tốt.
Khả năng đặc biệt của cây đậu tương là có khả năng cố định đạm khí trời
để sử dụng, làm giàu đạm trong đất nhờ vi khuẩn nốt sần Rhizobium cộng sinh
với bộ rễ. Các vi khuẩn này có thể tích lũy lượng đạm từ 20-25 kg/ha. Do vậy
trồng đậu tương góp phần cải tạo đất và tạo sự cân bằng sinh thái nông nghiệp.
Đậu tương là cây trồng có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái
khác nhau. Vì vậy có thể trồng với nhiều vụ khác nhau trong năm trên nhiều loại
đất, xen canh gối vụ với những những cây công nghiệp khác, góp phần vào việc
chuyển đổi cơ cấu mùa vụ mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông
nghiệp.
Đặc biệt những năm gần đây với việc chuyển đổi cơ chế quản lí sản xuất
nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Lương thực một vấn đề cơ bản
của người dân Việt Nam đã được giải quyết, từ đó người nông dân có nhiều điều
kiện sản xuất những ngành, những cây có giá trị kinh tế cao, mà trong đó cây
đậu tương là một trong những mũi nhọn chiến lược kinh tế trong việc bố trí sản
xuất và khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới.
Tuy nhiên, muốn trồng và sản xuất đậu tương có hiệu quả kinh tế cao
chúng ta cần nắm được những đặc trưng nông học, sinh lí, sinh thái… của cây
trước công nguyên. Cây đậu tương được xem là cây quan trọng được xếp vào
cây lấy hạt quan trọng là: lúa nước, đậu tương, lúa mì, đại mạch, cao lương (kê),
quyết định sự tồn tại của nền văn minh Trung Quốc [3][13].
Theo Nogata, cây đậu tương được du nhập vào Triều Tiên và Nhật Bản
khoảng 200 năm trước công nguyên.
Năm 1765, Samuel Bowen đưa đậu tương từ Trung Quốc sang Hoa
Kỳ[16].
Ở Châu Mĩ cây đậu tương được nói đến từ năm 1804, nhưng mãi đến năm
1924 mới được trồng [13].
5
Từ năm 1790 cây đậu tương đã được các nhà truyền giáo mang từ Trung
Quốc về trồng ở vườn thực vật ở Pari và Hoàng Gia Anh [3][4].
Haberlandt đã mô tả trong tác phẩm của ông về cây đậu tương ở Oxtraylia
đầu năm 1879 [13].
Ở Viên (thủ đô của Áo), Frecdrich và Haberlandt đã tích cực tuyên truyền
dùng đậu tương làm thực phẩm và thức ăn gia súc [13].
Đậu tương được đưa tới các nước Nam Á và Đông Nam Á từ Nhật Bản,
Trung Quốc và Triều Tiên qua con đường bán tơ lụa [17].
Khi cây đậu tương có mặt ở nhiều nước trên thế giới thì nó có các tên địa
phương khác nhau như ở Anh: Soybean; ở Pháp: Soia, Soya, Poisoleagineux de
chine; ở Indonexia: kedelai, kacang jenpun, kacang bulu; ở Malayxia:
kacangsoya, kacang bulu rimau, kacang jenpun, ở Philippin: utau, soybean,
batatong, Mianma: lasi, pengapi, peryatpym; ở Thái Lan: thualueang, thua
lueang, thua phra lueang; Việt Nam: đậu tương, đậu nành [17].
Đậu tương là một loại cây trồng cổ xưa nhất, nhưng đậu tương mới được
đưa vào gieo trồng. Vì trên thực tế đến cuối thế kỉ XIX đậu tương mới chỉ được
trồng ở Trung Quốc và 30 năm đầu của thế kỉ XX sản xuất đậu tương chỉ tập
trung ở Trung Quốc, Indonexia, Nhật Bản, Triều Tiên [13][17].
mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52-65%, oleic từ 25-36%, linolenolic
khoảng 2-3%. Dùng dầu đậu tương thay thế mỡ động vật có thể tránh xơ mỡ
động mạch [3].
Trong hạt đậu tương có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàm lượng
vitamin B1 và B2, ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, K, D, C, v.v…Một
điều đáng chú ý là trong hạt đậu tương đang nảy mầm có hàm lượng vitamin
tăng lên nhiều, đặc biệt là vitamin C. Phân tích thành phần sinh hóa cho thấy
trong hạt đậu tương đang nảy mầm, ngoài hàm lượng vitamin C cao, còn có các
thành phần khác như: vitamin PP và nhiều chất khoáng khác như Ca, P, Fe ..vv.
Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng cung
cấp năng lượng khá cao khoảng 4700cal/kg. Hiện nay, từ hạt đậu tương người ta
đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại làm
7
thực phẩm được chế biến bằng phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại
dưới dạng tươi, khô và lên men vv…Như làm giá, đậu phụ, tương, xì dầu vv..
đến các sản phẩm cao cấp khác như cà phê đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt
cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột. Đậu tương là những thức ăn tốt cho những
người bị bệnh đái đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng
[17]
1.2.2. Giá trị về mặt công nghiệp
Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như:
chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt
lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương dùng để
ép dầu. Hiện nay trên thế giới cây đậu tương là cây đứng đầu về cung cấp
nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu thực vật. Đặc
điểm của dầu đậu tương là khô chậm, chỉ số iốt cao: 120-127; ngưng tụ nhiệt độ:
-150C đến -180C. Từ dầu này người ta chế biến hàng trăm sản phẩm công nghiệp
khác như: làm nến, xà phòng, nilon…[3][6].
Năng suất
Sản lượng
Năm
(triệu ha)
(Tạ/ha)
(Triệu tấn)
2001
2002
2003
2004
2005
76,007
79,167
83,600
91,440
91,386
23,20
22,73
23,40
22,34
23,00
Chỉ tiêu
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(nghìn ha)
(tạ/ha)
(nghìn tấn)
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
146,3
12,36
140,3
12,56
166,5
13,50
109,0
12,63
185,0
dầu thực vật hay mỡ động vật, thì nhu cầu dầu thực vật các loại, đặc biệt là dầu
đậu tương sẽ tăng lên, như vậy sẽ tạo ra một cơ hội rất lớn cho việc phát triển
sản xuất đậu tương trong nước [17].
1.3.3. Tình hình sản xuất đậu tương ở Nghệ An
Nghệ An là một trong những địa phương có diện tích gieo trồng đậu
tương lớn so với trung bình của cả nước.
Tình hình sản xuất đậu tương ở Nghệ An trong những năm gần đây được
thể hiện trong bảng sau
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất đậu tương ở Nghệ An trong sáu năm 20042009 [19]
Năm
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
2004
2005
2006
2007
2008
2009
(ha)
1188
938
762
985
914
18,3
28
9,7
Năng suất (tạ/ha)
5,78
7
9
14
Sản lượng (tấn)
10,4
10,78
25,12
13,14
Trong đó xã Hưng Xá là một trong những xã có diện tích gieo trồng đậu
tương tương đối lớn được thể hiện qua bảng sau
11
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất đậu tương ở xã Hưng Xá, huyện Hưng
Nguyên trong 4 năm (2004-2007) [18]
Năm
2004
2005
2006
2007
Diện tích (ha)
+ Nước: Hạt đậu tương hút nhiều nước hơn so với cây trồng khác. Hạt
phải hút một lượng nước trên 50% trọng lượng hạt thì hạt mới nảy mầm, trong
khi đó các cây trồng như lúa chỉ hút 26%, ngô 44% v.v…[6].
+ Nhiệt độ: Quá trình nảy mầm rất mẫn cảm với nhiệt độ. Nhiệt độ từ 15300C là thích hợp nhất đối với quá trình nảy mầm của hạt đậu tương. Trong
khoảng nhiệt độ này, chỉ sau gieo 3-7 ngày là hạt nảy mầm. Nếu nhiệt độ nhỏ
hơn 100C thì sau gieo phải từ 12-15 ngày mới mọc. Nếu cao hơn 30 0C hạt nảy
mầm nhanh nhưng mầm yếu [6].
12
+ Hàm lượng oxy: Có liên quan tới độ ẩm đất, nếu độ ẩm đất trên 90%
thì không đủ oxy để hạt nảy mầm. Khi có đủ nước, oxy và nhiệt độ thì hạt sẽ hút
nước trương lên, các men proteaza, amyloaza…chứa trong hạt bắt đầu hoạt động
chuyển các chất dự trữ ở dạng phức tạp sang đơn giản để nuôi phôi hình thành
bộ phận mới [6].
Giai đoạn này ngắn hay dài tùy thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. Nếu gieo
vào vụ hè thì giai đoạn này ngắn hơn vụ đông. Thông thường thời gian này
khoảng 15-20 ngày sau khi gieo. Thời kì này chính là thời kì quyết định mật độ
cây con cũng như sức sinh trưởng của cây đậu tương sau này [14][17].
1.4.2. Giai đoạn sinh trưởng thân, lá
Giai đoạn này được tính từ khi cây con ra được 1-2 lá kép và căn bản kết
thúc khi bắt đầu nở hoa. Tốc độ sinh trưởng thân, lá trong thời gian đầu của thời
kì này tương đối chậm chỉ tới khi bắt đầu xuất hiện lớp rễ thứ hai và sắp ra nụ
hoa mới bắt đầu tăng nhanh. Đây là thời kì mầm hoa bắt đầu phân hóa. Thời kì
này rất quan trọng, chỉ trên cơ sở thân lá sinh trưởng tốt, cành phát triển nhiều,
sinh trưởng nhanh thì mầm hoa mới phân hóa được nhiều. Nhưng nếu thân lá
sinh trưởng quá mạnh lại ức chế mầm hoa phân hóa chậm lại. Thời kì này nốt
sần bắt đầu hình thành. Sau mọc được khoảng 15 ngày cây có lá kép đầu tiên thì
nốt sần được hình thành và khả năng cố định nitơ dần dần được tăng lên [6][17].
đầy đủ. Lúc các chùm quả non đã xuất hiện thì các chất dinh dưỡng trong thân,
lá được vận chuyển về nuôi hạt làm cho hạt lớn dần. Các yếu tố nhiệt độ, độ
ẩm…trong giai đoạn này sẽ tác động rất lớn đến tốc độ phát triển của quả và
hạt [17].
1.5. Kỹ thuật trồng cây đậu tương
1.5.1. Giống đậu tương
Hiện nay trong sản xuất giống đậu tương cũng tương đối phong phú. Trong
những năm qua, giống mới đã góp phần quan trọng đẩy mạnh nâng cao năng
suất đậu tương. Để tạo được giống có khả năng thích ứng rộng, các nhà chọn
giống luôn chú ý đến các đặc tính như khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đổ,
chống tách hạt và đạt năng suất cao. Một xu hướng nữa là chọn được giống thích
14
nghi với điều kiện nhất định nào đó như chọn giống chịu lạnh cho vụ đông và
đông xuân ở miền bắc và các vùng trồng đậu tương ở miền nam [6].
Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương chủ yếu do đặc tích di
truyền quyết định. Tuy nhiên thời gian sinh trưởng của đậu tương cũng bị ảnh
hưởng bởi thời gian chiếu sáng và nhiệt độ [6][17].
Nhóm chín sớm thường bao gồm những giống có thời gian sinh trưởng
khoảng dưới 80 ngày. Ưu điểm của nhóm là chín sớm nhưng nhược điểm là yếu
cây, hạt bé năng suất thấp. Gần đây qua công tác nhập nội, chọn lọc, lai tạo vv…
các cơ quan khoa học cũng đã đưa ra sản xuất một số giống mới có năng xuất
cao và thời gian sinh trưởng ngắn [3].
Nhóm chín trung bình thông thường bao gồm các giống có thời gian sinh
trưởng là 90-110 ngày. Nhóm này thì cho năng suất cao hơn những giống có
thời gian sinh trưởng ngắn [3].
1.5.2. Chọn đất và kỹ thuật làm đất
Mục đích của việc làm đất là làm sao tạo điều kiện cho hạt dễ nảy mầm,
hạt. Nhìn chung tùy thuộc vào đặc tính của giống như thời gian và tập tính sinh
trưởng và trọng lượng 1000 hạt mà lượng hạt giống cần thiết cho một đơn vị
diện tích khác nhau. Nhưng lượng hạt giống thường là
- Giống chín sớm: 50 - 60 kg/ha
- Giống chín trung bình: 40- 50 kg/ha
- Giống chín muộn: 30-35 kg/ha
* Xử lý hạt giống
Hạt giống trước khi gieo cần được xử lý như sau:
- Phơi một vài nắng nhẹ trước khi gieo trồng (tránh không nên phơi
trên nền xi măng).
- Xử lý thuốc diệt mầm bệnh: Ví dụ như Faliran 0,15% trộn đều với
hạt ủ khô trong vòng 24 đến 28 ngày nhằm tiêu diệt mầm mống bệnh.
- Xử lý phân vi lượng: Người ta thường dùng Molipdatamon 1-2 kg/ha
xử lý khô nhằm tăng thành phần của Mo.
16
- Tiến hành nhiễm khuẩn Rhizobium cho hạt trước khi gieo trồng
nhằm tăng khả năng hình thành nốt sần để tăng khả năng cố định đạm khí trời
của cây.
1.5.4. Thời vụ gieo hạt [6]
Cây đậu tương mẫn cảm với điều kiện thời tiết. Thời vụ không những ảnh
hưởng tới sinh trưởng phát triển của cây, tới năng suất, phẩm chất của hạt mà
còn ảnh hưởng cả tới những cây trồng tiếp sau trong hệ thống luân canh.
Ở nước ta có thể trồng nhiều vụ trong năm, nhưng xác định được thời vụ
chính trong từng vùng là điều cần thiết trong sản xuất.
* Cơ sở xác định thời vụ
- Đất đai: Tùy thuộc vào chân ruộng thấp hay cao, thoát nước hay không
mà phải gieo trồng đúng thời vụ, tránh lúc ra hoa và làm quả gặp mưa bị úng,
có thể gieo khắp nơi, nhưng tập trung nhiều ở các tỉnh miền núi, ở các chân
ruộng đồi bãi, phù xa. Thời vụ gieo trồng các giống như sau:
- Giống chín sớm: 25/5-30/6
- Giống chín trung bình: 15/5-15/6
- Giống chín muộn: 20/4-25/5
+Vụ đông
Đưa đậu tương vào vụ đông sẽ tạo ra nhiều chuyển biến sâu sắc trong cơ
cấu cây trồng ở vùng trọng điểm lúa. Vụ đông thường gặp rét, hạn và sống trong
điều kiện ánh sáng ngày ngắn nên năng suất không cao. Thời vụ gieo sớm cuối
tháng 9 đầu tháng 10 nói chung càng sớm càng tốt, cố gắng kết thúc trước 20/10.
Khó khăn trong vụ đông khi làm đất gieo hạt gặp mưa cuối vụ khi thu hoạch về
cũng bị mưa phùn khó ra hạt.
Ở miền Nam, điều kiện khí hậu ấm áp, đậu tương gieo từ 20/12 đến tháng 1.
1.5.5. Mật độ gieo trồng [6]
* Cơ sở để xác định mật độ:
- Căn cứ vào đặc tính của giống: Giống chín sớm, thấp cây, phân cành ít
thì nên trồng dày còn đối với những giống chín muộn cây cao phân cành nhiều
thì ta phải trồng thưa.
18
- Căn cứ vào thời vụ: Vụ xuân và vụ đông trong điều kiện nhiệt độ thấp
hay bị khô hạn cây sinh trưởng kém thì ta trồng dày hơn so với vụ hè và vụ thu
nóng ẩm.
- Căn cứ vào đất đai: Đất tốt nhiều màu ta trồng thưa, đất xấu ít màu ta
trồng dày.
- Căn cứ vào mức độ thâm canh của từng nơi: Đầy đủ phân bón, chăm
sóc tốt thì trồng thưa, trái lại ít phân chăm sóc kém thì ta trồng dày.
* Mật độ gieo trồng cụ thể
đúng thời kì sẽ ức chế sự hình thành và phát triển hoạt động của vi khuẩn nốt
sần [6].
1.6.2. Phân lân và vôi
Bón phân lân cho cây giảm tỉ lệ rụng hoa, tăng tỉ lệ hạt chắc và tăng năng
suất rõ rệt. Lân làm tăng hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần. Lượng
phân lân thường được bón từ 30-100 kg P2O5/1ha, bón lót cùng với phân hữu cơ.
Bón vôi cho đất chua đạt pH khoảng 6-6,5 là yếu tố quan trọng để sản
xuất đậu tương có hiệu quả. Đất có độ kiềm cao, pH>7,5 ảnh hưởng không tốt
tới sản xuất đậu tương [17].
1.6.3. Phân kali
Nhu cầu về kali của cây đậu tương còn lớn hơn đạm và lân. Nhu cầu này
tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây và đỉnh cao là giai đoạn trước khi
cây ra hoa, nhưng giảm dần khi hình thành hạt và ngừng ở thời kì khoảng 21
ngày trước khi chín [6].
1.6.4. Phân vi lượng
Molipđen(Mo) là yếu tố quan trọng cho quá trình trao đổi nitơ, làm tăng
khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần. Lượng Mo dùng để xử lý hạt cần
17g/ha, trong khi đó nếu bón vào đất cần 800g/ha. Bón vôi để giữ pH đất 6,2 có
thể có tác dụng phòng chống hiện tượng thiếu Mo [6].
20
1.6.5. Qui trình bón phân [6]
Để đạt năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đầy đủ
phân hữu cơ và các loại phân khoáng khác, qui trình bón phân cho cây đậu
tương như sau:
- Liều lượng: Liều lượng phân bón cho 1 ha
+ Phân chuồng: 6-10 tấn.
+ Phân đạm: 20-40 kg đạm urê.
này ăn hại các bộ phận của cây như lá, thân, quả.
*Sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema indicata): Sâu cuốn lá đậu tương
rất phổ biến. Sâu phá hại là bánh tẻ từ giai đoạn cây non cho đến khi có quả non.
Sâu non lúc nhỏ gặm ở mặt dưới của lá.
*Sâu xám (Agrotis ypsilon): Sâu xám gây hại chủ yếu ở giai đoạn cây
non, vụ xuân thường gây hại nặng hơn vụ đông. Sâu thường cắn ngang thân làm
cho cây gãy và chết.
Biện pháp phòng trừ:
+ Làm đất kỹ để diệt nhộng và sâu non, chúng thường ẩn nấp ở độ sâu
cách mặt đất 4-6cm.
+ Mật độ thấp thì bắt thủ công vào sáng sớm hoặc chiều mát.
+ Mật độ cao phòng trừ bằng các loại thuốc như: Sugadan 30G, Vifuran
3G…
*Ruồi đục thân (Malanagromyza sojae zahmer): Sâu non phá hại nặng
nhất vào tháng 3, 4 và tháng 10, 11 (vụ đông). Ruồi đục thân gây hại nặng nhất
cho đậu tương đông và đậu tương vụ thu đông (giai đoạn cây non). Khi trưởng
thành là một loài ruồi nhỏ, sâu non phá hoại các bộ phận của cây như: trên thân,
lá.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Luân canh với các cây trồng khác như cây lúa nước, không nên trồng
liên tiếp các loại cây ký chủ của ruồi như cây đậu xanh, đậu đen, đậu cô ve….
+ Xử lý đất trước khi gieo bằng các loại thuốc Basudin.
22
+ Các loại thuốc có hiệu lực cao để phòng trừ ruồi như: Angun 5ME,
Golnitor 50WDG, Soka 25EC,…
* Sâu đục quả (Etiella zinckenella trein): Sâu hại nặng ở giai đoạn quả
non, sâu non đục khoét quả vào trong và ăn hạt, hạt đậu có thể bị ngậm khuyết
hoặc rỗng hạt. Sâu non đục quả đậu tương còn có khả năng đục quả, phá thân
thương do bệnh hòa lẫn với nhau nên khó có thể phân biệt được từng vết bệnh.
- Tác nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Septoria glycine Hemmi lần đầu tiên
được phát hiện ở Nhật Bản năm 1915. Bào tử nấm sống qua đông trên thân và
lá. Nấm xâm nhập vào lá qua lỗ khí khổng và sinh trưởng ở giữa các tế bào.
Nấm cũng truyền qua hạt. Nó xâm nhập vào hạt qua khí khổng hoặc qua mô lá
noãn hoặc vào cuống noãn.
- Phòng trừ:
+ Vệ sinh đồng ruộng, dọn cây bị bệnh.
+ Dùng hạt giống sạch bệnh, xử lý hạt với thuốc trừ nấm.
+ Luân canh cây trồng, ít nhất một năm đối với cây không nhiễm bệnh
đốm nâu.
+ Phun thuốc trừ nấm trong giai đoạn từ ra hoa đến đậu quả.
*Bệnh sương mai (Peronosporqa manshurica):
-Triệu chứng: Trên bề mặt lá có những vết màu xanh vàng nhạt. Những
vết này về sau có màu nâu xám hoặc nâu đậm, khi các mô bị hoại tử và xung
quanh vết bệnh thường có viền màu xanh vàng. Nếu không có đường viền đó thì
mép ngoài vết bệnh sẫm hơn phần giữa. Những ngày có độ ẩm cao và sáng sớm
ở mặt dưới lá, nơi vết bệnh có phủ một lớp phấn màu xám hoặc phớt tím. Bệnh
nặng thì lá bị khô, mép ngoài cong và rụng sớm, làm hạt lép giảm năng suất tới
8%.
- Tác nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Peronosporqa manshurica lần đầu tiên
phát hiện ở Mỹ năm 1923. Điều kiện thích hợp do nấm phát triển là độ ẩm cao
và nhiệt độ cao khoảng 20-220c.
- Phòng trừ:
+ Dùng thuốc chống bệnh.
+ Luân canh đậu tương với lúa hoặc cây trồng khác không phải cây họ
đậu.
24