BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
HOÀNG BẢO TRUNG
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KHU DU LỊCH SINH THÁI BÃI LỮ
HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
HOÀNG BẢO TRUNG
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KHU DU LỊCH SINH THÁI BÃI LỮ
HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN
Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS. ĐẶNG MINH PHƯƠNG
tháng
năm
Ngày
tháng
năm
LỜI CẢM TẠ
Sau gần 4 tháng nỗ lực thực hiện, khóa luận tốt nghiệp “Xác Định Giá Trị
Khu Du Lịch Sinh Thái Bãi Lữ – Huyện Nghi Lộc – Tỉnh Nghệ An” cuối cùng
cũng đã hoàn thành. Ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân, tôi đã nhận được sự
khích lệ rất nhiều từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè.
Trước hết con xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến ba mẹ – những người đã sinh
thành dưỡng dục, nuôi nấng, dạy dỗ con trong suốt cuộc đời này; luôn động viên và
tạo mọi điều kiện tốt nhất để con học tập và có được ngày hôm nay. Thật may mắn và
hạnh phúc biết bao khi con được sinh ra và trưởng thành trong tình yêu thương, sự hy
sinh vô bờ bến của ba mẹ!
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường ĐH. Nông Lâm TP.HCM, Ban
Chủ Nhiệm Khoa Kinh Tế, các Thầy Cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những
kiến thức vô cùng quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, em
xin bày tỏ lòng thành kính, biết ơn đến thầy Đặng Minh Phương – người đã hết lòng
quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Đốc và các Cán Bộ phòng hành
chính nhân sự Khu Du Lịch Sinh Thái Bãi Lữ, các phòng ban Uỷ Ban Nhân Dân
Huyện Nghi Lộc – Tỉnh Nghệ An đã rất nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
thực tập và thu thập số liệu cần thiết để hoàn thành khóa luận này.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
ix
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
x
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
2
1.2.1. Mục tiêu chung
2
10
2.2.4. Tiềm năng phát triển du lịch
12
2.3. Khát quát chung về Khu Du Lịch Sinh Thái Bãi Lữ
13
2.3.1. Vị trí
13
2.3.2. Đặc điểm
13
CHƯƠNG III. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lí luận
16
3.1.1. Một số khái niệm về du lịch
16
3.1.2. Cầu du lịch
40
4.1.1. Số lượt khách đến KDLST Bãi Lữ từ năm 2009 – 2011
40
4.1.2. Mô tả đặc điểm kinh tế xã hội của du khách
41
4.1.3. Nhu cầu, hành vi của du khách nội địa
45
4.1.4. Cảm nhận, đánh giá của du khách
49
4.2. Xây dựng đường cầu du lịch KDLST Bãi Lữ theo phương pháp ITCM
54
4.2.1. Kết quả ước lượng các tham số và phương trình hàm cầu du lịch KDLST
Bãi Lữ
55
4.2.2. Kiểm định các giả thiết của mô hình
5.2. Kiến nghị
65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL
Ban Quản Lý
CTCPĐT
Công Ty Cổ Phần Đầu Tư
CVM
Phương Pháp Đánh Giá Ngẫu Nhiên
ITCM
Phương Pháp Chi Phí Du Hành Theo Cá Nhân
KDLST
Bảng 4.2. Đặc Điểm Kinh Tế - Xã Hội của Khách Du Lịch đến KDLST Bãi Lữ
42
Bảng 4.3. Hình Thức Tìm Kiếm Thông Tin Du Lịch
46
Bảng 4.4. Đánh Giá Các Yếu Tố Du Lịch
50
Bảng 4.5. Các Thông Số Ước Lượng của Mô Hình Hàm Cầu Du Lịch
56
Bảng 4.6. Dấu Ước Lượng và Kết Quả Kiểm Định P-Value
57
Bảng 4.7. R
2
aux
của Các Mô Hình Hồi Quy Bổ Sung
59
30
Hình 4.1. Biểu Đồ Tần Suất về Thu Nhập Của Khách Du Lịch trong Nước
44
Hình 4.2. Tỷ Lệ Khách Du Lịch Xuất Phát Từ Các Vùng
45
Hình 4.3. Khách Du Lịch Phân Theo Hình Thức Đi Du Lịch
47
Hình 4.4. Khách Du Lịch Phân Theo Phương Tiện Di Chuyển
48
Hình 4.5. Thời Gian Lưu Trú Phân Theo Ngày của Du Khách
48
Hình 4.6. Phân Loại Khách Du Lịch Đến Theo Mục Đích Đến Bãi Tắm
49
Hình 4.7. Phân Chia Mức Độ Hài Lòng của Khách Du Lịch
51
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Khái niệm du lịch sinh thái hiện nay đã không còn tồn tại như là một đề tài để
suy ngẫm mà nó đã trở thành một nhu cầu thực tế trên toàn thế giới. Ngoài những lợi
ích về kinh tế, thẩm mỹ, còn phải chú ý đến vấn đề giáo dục môi trường, giữ gìn cảnh
quan thiên nhiên trong sạch. Chính điều này đã khiến du lịch sinh thái dần trở nên
quan trọng không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại mà cả trên lĩnh vực môi
trường, văn hoá, xã hội. Ở Costa Rica và Venezuela, một số chủ trang trại chăn nuôi
cùng nhau bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, nhờ vậy họ đã biến những
nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên
đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương. Ecuador sử dụng khoản thu
nhập từ du lịch sinh thái tại đảo Galapagos để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn
quốc gia. Tại Úc và Newzeland, phần lớn các hoạt động du lịch đều có thể xếp vào
hạng du lịch sinh thái. Ðây là ngành công nghiệp được xếp hạng cao trong nền kinh tế
của cả hai nước.
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt động du lịch sôi nổi. Việt Nam
có những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý, tiềm năng du lịch để phát triển loại hình du
lịch sinh thái. Đây được xem là con đường hiệu quả nhất để thu ngoại tệ và tăng thu
nhập cho đất nước trong tương lai gần. Có thể kể đến những khu du lịch tại Việt Nam
được du khách nước ngoài đánh giá cao như KDLST hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng),
KDLST Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), khu du lịch sinh thái – lịch sử Côn Đảo (Bà Rịa Vũng Tàu),v.v… Bên cạnh những địa điểm đã nổi tiếng thì khu du lịch sinh thái biển
Bãi Lữ ở huyện Nghi Lộc cũng đang dần trở thành một địa điểm du lịch mũi nhọn của
tỉnh Nghệ An nói riêng và của nước ta nói chung. Bãi Lữ là nơi biển khơi ăn sâu vào
1
đất liền, nơi hội tụ cả biển, núi và rừng nên có rất nhiều lợi thế để phát triển du lịch
đặc biệt là du lịch sinh thái. Nơi đây là một địa danh lý tưởng cho những chuyến nghỉ
trong tính toán giá trị khu du lịch. Chương 3 – Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên
cứu, trình bày các khái niệm, định nghĩa, và phương pháp được sử dụng trong đề tài.
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận, tiến hành phân tích, đánh giá những yếu
tố kinh tế xã hội của khách du lịch. Trên cơ sở đó tiến hành xây dựng hàm cầu du lịch
theo phương pháp ITCM nhằm xác định giá trị của khu du lịch và thặng dư của du
khách. Chương 5: Dựa vào kết quả ở chương 4, tác giả kết luận và đưa ra một số kiến
nghị, giải pháp nhằm gia tăng giá trị của khu du lịch cũng như nêu lên những mặt hạn
chế của khoá luận.
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay trong nước và trên thế giới có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp
TCM để xác định giá trị các khu du lịch hoặc các nguồn tài nguyên mà không thể phản
ánh bằng giá cả thị trường. Để thực hiện đề tài này, tôi đã tham khảo những tài liệu
nghiên cứu gần đây là luận văn tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Minh Thuý (2008) và Vũ
Thị Sen (2010). Bên cạnh đó, các bài giảng của thầy cô trong quá trình học tập tai
trường đại học Nông Lâm TP. HCM cũng là nguồn tài liệu hữu ích cho đề tài.
Theo luận văn của Võ Thị Minh Thuý (2008), với mục tiêu chính của đề tài là
xác định giá trị tiềm năng du lịch Bảo tàng Quang Trung – tỉnh Bình Định đối với
khách trong nước bằng phương pháp chi phí du hành (TCM-Travel Cost Method). Đây
sẽ là cơ sở để đưa ra những biện pháp, kiến nghị nhằm định hướng phát triển du lịch
bền vững trong tương lai. Thông qua việc điều tra 100 du khách trong nước đi du lịch
đến Bảo tàng Quang Trung về các đặc điểm KT – XH như thu nhập, tuổi, giới tính,
Lữ.
2.2. Giới thiệu tổng quan về huyện Nghi Lộc
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Nghi Lộc là 1 huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm sát phía bắc
thành phố Vinh trên toạ độ từ 18041’ đến 18045’ vĩ độ Bắc và 105028’ đến 105045’
kinh độ Đông.
+ Phía Bắc giáp: huyện Diễn Châu, huyện Yên Thành.
+ Phía Nam giáp: huyện Nam Đàn, huyện Hưng Nguyên và Thành phố Vinh.
+ Phía Đông giáp thị xã Cửa Lò và biển Đông.
Địa hình của Huyện đa dạng, có hướng thấp dần từ Tây sang Đông và có thể
chia thành 2 vùng lớn:
- Vùng bán sơn địa:
5
Phía Tây và Tây Bắc của huyện có nhiều đồi núi cao, địa hình chia cắt mạnh,
độ dốc lớn do chia cắt bởi những khe suối; tại khu vực này có những vùng đồng bằng
phù sa xen kẽ tương đối rộng, một số hồ đập lớn được xây dựng nên đây cũng là vùng
cung cấp lương thực cho huyện, với diện tích đất tự nhiên khoảng 18.083 ha, chiếm
52% so với tổng diện tích của cả huyện. Gồm các xã Nghi Lâm, Nghi Công Bắc, Nghi
Công Nam, Nghi Mỹ, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Phương, Nghi Hưng, Nghi Đồng.
- Vùng đồng bằng:
Khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Nam của huyện địa hình tương đối
bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập, độ cao chênh lệch từ 0,6 – 5,0 m, với
diện tích tự nhiên khoảng 16.686 ha, chiếm 48% so với diện tích của cả huyện. Do đặc
điểm địa hình và thổ nhưỡng có thể phân thành 2 vùng nhỏ:
+ Vùng thấp hoặc trũng: Chủ yếu là đất phù sa của hệ thống sông Cả, có độ cao
từ 0,6 – 3,5 m, địa hình thấp, nguồn nước khá dồi dào, đây là vùng trọng điểm lúa của
huyện, gồm các xã Nghi Vạn, Nghi Diên, Nghi Hoa, Nghi Thuận và một phần của
6,20C. Số giờ nắng trung bình năm là 1.637 giờ (Số liệu do trạm khí tượng thủy văn
Vinh cung cấp).
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900 mm, lớn nhất khoảng
2.600 mm, nhỏ nhất 1.100 mm. Lượng mưa phân bố không đều mà tập trung chủ yếu
vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, đây là thời điểm thường diễn ra lũ lụt. Lượng mưa
thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 4, chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm.
- Chế độ gió: Có 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông
Cổ từng đợt thổi qua Trung Quốc và Vịnh Bắc Bộ tràn về, thường xuất hiện vào mùa
Đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
+ Gió Đông Nam từ biển Đông thổi vào, gọi là gió Nồm, xuất hiện từ tháng 5
đến tháng 10.
7
Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn ảnh hưởng bởi luồng gió Tây Nam ở vịnh
Băng-gan tràn qua lục địa, luồn qua dãy Trường Sơn, thổi sang, thường gọi là gió Lào.
là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ. Ở Nghi Lộc
thường xuất hiện vào tháng 6, 7, 8 đã gây ra khô, nóng và hạn hán ảnh hưởng đến sản
xuất và đời sống sinh hoạt của người dân trên phạm vi toàn huyện.
2.2.2. Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên nước: Nghi Lộc có nguồn nước mặt khá dồi dào dùng để phục vụ
sản xuất nông nghiệp bao gồm hệ thống sông Cấm, sông Lam, kênh nhà Lê với 11 hồ
chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ lượng trên 21 triệu m3. Nguồn nước cung cấp
cho nhu cầu sinh hoạt của người dân và xây dựng công nghiệp, phát triển kinh tế chủ
yếu là nguồn nước ngầm với 3 tầng nước: tầng chứa nước lỗ hổng Holocen; tầng chứa
nước lỗ hổng Plestocen và tầng chứa nước khe nứt Karst.
Tuy có nguồn nước dồi dào nhưng trên địa bàn một số nơi vẫn còn thiếu nước
cục bộ cho sinh hoạt và tưới tiêu, chủ yếu là những nơi có địa hình tương đối cao và
một số nơi do nguồn nước bị nhiễm mặn.
Mũi rồng, biển Hải Thịnh (Nghi Thiết). Đây là một trong những điểm thuận lợi chính
cho việc phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, lịch sử văn hoá và du lịch nghỉ
dưỡng.
Hình 2.2. Đền Thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí
Nguồn: UBND huyện Nghi Lộc, 2012
9
2.2.3. Điều kiện kinh tế xã hội
a. Thực trạng phát triển kinh tế
Trong những năm qua kinh tế huyện Nghi Lộc đã tạo được những bước chuyển
mang tính đột phá, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch đúng hướng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm gần đây
đạt 12,01%, tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 1.944 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu
người đạt 13,7 triệu đồng, tăng 2,3 lần so với đầu nhiệm kì.
Lĩnh vực nông – lâm – ngư vẫn là ngành kinh tế đi đầu góp phần quan trọng
trong việc ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Giá trị thu nhập trên đơn vị
diện tích tăng nhanh, đến năm 2010 bình quân giá trị thu nhập trên đơn vị diện tich
toàn huyện đạt 43 triệu/ha, trong đó có 3.710 ha cho thu nhập từ 50 triệu đồng/ha/năm
trở lên, chiếm 35,6 % diện tích canh tác. Sản lượng lương thực bình quân hàng năm
ước đạt 80.000 tấn.
Công nghiệp – xây dựng và tiểu thủ công nghiệp được coi là mũi nhọn đột phá
trong thời kì 2010 – 2015 góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nông thôn. Giá trị sản xuất của ngành
công nghiệp xây dựng giai đoạn 2005 – 2010 tăng bình quân 21,29 %/ năm.
Ngành thương mại và dịch vụ tăng tương đối nhanh. Đa dạng hóa các loại hình
dịch vụ trên các lĩnh vực, phấn đấu đến năm 2015 tổng giá trị sản xuất dịch vụ đạt
1.015 tỷ, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm đạt 15,5 – 16 %, tỷ trọng dịch vụ
với thế trận an ninh nhân dân và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây
dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề án
“3 yên, 3 giảm".
Tuy nhiên, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma tuý, cướp giật, trộm cắp tài sản và
an toàn giao thông còn diễn biến phức tạp. Các yếu tố tiềm ẩn về gây mất ổn định
trong quốc phòng – an ninh còn lớn.
c. Cơ sở hạ tầng
Giao thông
Nghi Lộc có mạng lưới giao thông thuận lợi như đường bộ, đường sắt, đường
thuỷ. Có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua địa bàn huyện như: Quốc lộ 1A
(dài 16km); Quốc lộ 46 (dài 8km); Đường sắt Bắc – Nam (dài 16km); sân bay Vinh;
tỉnh lộ 534 (dài 28km); tỉnh lộ 535 (dài 12km). Với chiều dài 14 km bờ biển, có 2 con
sông lớn chảy qua địa bàn là Sông Cấm (dài 15km) và Sông Lam (dài 6km). Cùng với
hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thôn cơ bản đã được nhựa hoá và bê tông hoá
tạo thành mạng lưới giao thông của huyện khá hoàn chỉnh. Thuận lợi cho việc lưu
11
thông giữa huyện với Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện trong tỉnh. Là
huyện có vị trí quan trọng trong công tác đảm bảo an ninh quốc phòng.
Thuỷ lợi
Toàn huyện có 11 hồ chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ lượng trên 21 triệu
m3, 45 trạm bơm điện, trên 450 km kênh mương các loại và có 33,2 km đê sông và đê
biển (đê sông 31,3km, đê biển 1,9km). Nâng cấp xây dựng được 22 trạm bơm, 146
trạm biến áp, 467 km đường dây 0,4 kv và nâng cấp xây dựng 2 chợ nông thôn sạch
đẹp.
Về cơ bản các công trình hồ đập, trạm bơm đáp ứng yêu cầu sản xuất tối thiểu
của sản xuất nông nghiệp. Song các tuyến kênh cấp 1, cấp 2 chưa được duy tu, nạo vét,
nâng cấp hàng năm, hệ thống tiêu úng vùng màu đầu tư dàn trải nhiều năm, do đó các
xã vùng màu gặp khó khăn trong thoát nước mùa mưa lũ.
Khu du lịch sinh thái Bãi Lữ thuộc 2 xã Nghi Yên và Nghi Tiến – huyện Nghi
Lộc – tỉnh Nghệ An, nằm trong địa phận khu kinh tế Đông Nam, được xây dựng từ
năm 2005 đến ngày 14/5/2008 chính thức đi vào hoạt động:
+ Cách quốc lộ 1A 4km.
+ Cách sân bay Vinh 15 km.
+ Cách Ga vinh 20 km.
+ Cách thủ đô Hà Nội 270 km.
Du khách từ các trung tâm, các thành phố lớn trong cả nước có thể đến Bãi Lữ
bằng 4 con đường là : Đường bộ, đường sắt , đường thuỷ và đường hàng không.
2.3.2. Đặc điểm và quá trình hình thành phát triển
“Bãi Lữ là nơi biển khơi ăn sâu vào đất Việt, là những cánh rừng thông bạt
ngàn vươn mình ra biển cả, với cảnh quan thiên nhiên được tạo hoá ban tặng thật hùng
vĩ và đầy cảm hứng thi ca. Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh Bãi Lữ (chủ đầu tư) đã
chọn nơi đây đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái biển, với mong muốn tạo nên
1 khu du lịch, nghỉ dưỡng văn minh, hiện đại vào loại nhất khu vực, tạo nên những sản
phẩm, dịch vụ du lịch sang trọng để phục vụ du khách trong và ngoài nước.” (PTGĐ.
Trần Chương, 2009).
Bãi Lữ là tên gọi xuất phát từ núi Lữ (Lữ Sơn). Hòn núi đứng sừng sững nơi bãi
biển. Đứng trên ngọn núi này, ta có thể ngắm trọn vẹn cảnh quan một vùng rộng lớn.
Phía biển khơi (Đông - Nam) thấy rõ Song Ngư, Đảo Mắt , Lan Châu và gần hơn nữa
vào đất liền là Hùng Lĩnh, Lan Châu, Núi Rồng, Núi Lò, Núi Cờ, Núi Kiếm, Chuồng
Gà, Núi Mão, Tượng Sơn (Núi Voi), Quyết Sơn. Phía Bắc, dọc theo biển là núi Đầu
Rồng (Long Thủ), Hòn Thè, Hòn Câu, Dạ Sơn, Cấm Sơn. Phía Tây là Đại Vạc, Thần
13
Vũ, Lèn Hai Vai, Đại Hải, Đại Bàn, Đại Tứ, Đại Huệ, Thiên Nhẫn, Lam Thành Sơn…
Sông Cấm nước xanh nằm trong vòng cung biển Đông Nam Lạch Vạn - Cửa Hiền Cửa Xá của tỉnh Nghệ An.
Khu du lịch sinh thái Bãi Lữ được xây dựng và thiết kế theo mô hình du lịch
của các nước phát triển trên bãi biển rất đẹp của miền Trung, nơi hội tụ cả biển, núi và