I HC THI NGUYấN
TRNG I HC S PHM
L TRUNG HIU
ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lợng giác
lớp 11 của học sinh trung học phổ thông
bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
L TRUNG HIU
ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lợng giác
lớp 11 của học sinh trung học phổ thông
bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Chuyờn ngnh: Lý lun v Phng phỏp dy hc b mụn Toỏn
Mó s: 60.14.01.11
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
NGI HNG DN KHOA HC: TS. TRN TRUNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iiMỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt v
Danh mục các bảng, các hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu 5
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 10
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.2. Vai trò của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trong
quá trình dạy học 15
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 40
2.1. Mục tiêu và nội dung Lượng giác lớp 11 Trung học phổ thông 40
2.2. Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan chủ đề Phương trình
lượng giác lớp 11 Trung học phổ thông 43
2.2.1. Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan về Phương trình lượng giác cơ bản 43
2.2.2. Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan Phương trình lượng giác
thường gặp 54
2.2.3 Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan Phương trình lượng giác không
mẫu mực 64
2.2.4. Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan Hệ phương trình lượng giác 73
2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ xây dựng và sử dụng bộ câu
hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chủ đề
Phương trình lượng giác lớp 11 của học sinh 79
2.3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ xây dựng bộ câu hỏi trắc
nghiệm khách quan chủ đề Phương trình lượng giác 79
2.3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ sử dụng bộ câu hỏi trắc
nghiệm khách quan chủ đề Phương trình lượng giác trong kiểm tra, đánh
giá kết quả học lập của học sinh 87
2.3. Kết luận chương 2 93
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Viết tắt Viết đầy đủ
CNTT Công nghệ thông tin
GD Giáo dục
GV Giáo viên
HĐDH Hoạt động dạy học
HS Học sinh
KQHT Kết quả học tập
KT-ĐG Kiểm tra – đánh giá
KT-KN Kiến thức- kỹ năng
PPDH Phương pháp dạy học
SGK Sách giáo khoa
TNKQ Trắc nghiệm khách quan
TL Tự luận
THPT Trung học phổ thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội lần thứ XI
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Đổi mới phương pháp dạy và
học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng
thực hành, làm chủ kiến thức, tránh học vẹt, học chay. Đổi mới và thực hiện
nghiêm minh chế độ thi cử".
Kiểm tra - đánh giá (KT-ĐG) kết quả học tập (KQHT) của học sinh
(HS) ở các môn học thực chất là KT-ĐG kết quả quá trình dạy học dựa trên
cơ sở KT-ĐG thường xuyên, liên tục ở tất cả các hình thức dạy học, với nhiều
phương pháp khác nhau. Đổi mới KT-ĐG KQHT đòi hỏi phải đổi mới về nội
dung, hình thức và công cụ. Trước hết và chủ yếu trong dạy học ở nước ta
hiện nay là đổi mới KT. Đây vừa là phương tiện, vừa là hình thức quan trọng
nhất để ĐG, được thực hiện qua nhiều khâu: Từ soạn câu hỏi, làm đề, tiến
hành KT đến xử lý và ĐG kết quả. Đổi mới KT-ĐG có ý nghĩa cấp thiết và là
biện pháp quan trọng khi thực hiện đổi mới giáo dục hiện nay.
Việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) phải được đặt trong mối
quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học; đổi mới phương tiện dạy
học; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân
và các nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học trong phòng học và ngoài hiện
kết quả học tập môn Toán cho học sinh Trung học phổ thông", luận án tiến sĩ
của Phạm Xuân Chung (2012) về đề tài "Chuẩn bị cho sinh viên sư phạm
ngành toán ở trường đại học tiến hành hoạt động đánh giá kết quả học tập của
học sinh phổ thông" nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu KT-ĐG kết quả
học tập môn Toán của học sinh THPT với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.
Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn là:
“Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Lượng giác lớp 11 của học sinh Trung học phổ thông bằng câu hỏi trắc
nghiệm khách quan”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp trắc nghiệm, từ
đó xây dựng bộ câu hỏi TNKQ nhằm KTĐG kết quả học tập chủ đề Lượng
giác lớp 11 của học sinh Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của CNTT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình KT-ĐG kết quả học tập môn
Toán cho học sinh Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của CNTT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Lựa chọn những ứng dụng của CNTT hỗ
trợ KT-ĐG kết quả học tập chủ đề Lượng giác lớp 11 của học sinh Trung học
phổ thông bằng câu hỏi TNKQ.
3.3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn tập trung xây dựng bộ câu hỏi
TNKQ phần nội dung Phương trình lượng giác trong chương trình lớp 11
THPT, đồng thời khai thác một số phần mềm hỗ trợ việc phân tích câu hỏi
TNKQ và sử dụng trong KTĐG kết quả học tập của học sinh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu khai thác hợp lý những ứng dụng của CNTT hỗ trợ KT-ĐG kết quả
học tập của học sinh thì sẽ xây dựng được bộ câu hỏi TNKQ đạt các tiêu
ĐG kết quả học tập môn Toán của HS Trung học phổ thông bằng câu hỏi TNKQ.
- Xây dựng được bộ câu hỏi TNKQ phần Phương trình lượng giác lớp
11 trung học phổ thông và đề xuất cách khai thác một số phần mềm hỗ trợ
KT-ĐG kết quả học tập của HS bằng bộ câu hỏi TNKQ.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được trình bày
trong ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập Lượng giác lớp 11 của học sinh Trung học phổ thông bằng câu
hỏi trắc nghiệm khách quan
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Luận văn có sử dụng 52 tài liệu tham khảo và có 4 Phụ lục kèm theo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của KT và ĐG năng lực nhận
thức của HS, nhà giáo dục học J.A.Comenxki (1592 - 1670) người Séc đã coi
việc KT-ĐG tri thức HS như một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả quá trình
dạy học. Đặc biệt I.B Bazelov đề xuất một hệ thống ĐG tri thức trong trường
học và chia hệ thống ĐG làm 12 bậc và vận dụng vào thực tiễn dạy học, ông
cho rằng có 3 bậc phù hợp với trình độ nhận thức của HS phổ thông: tốt -
trung bình - kém. Hệ ĐG này áp dụng ở một số nước, trong đó có Nga (dẫn
trọng để điều khiển việc học tập của HS, đẩy mạnh phát triển giáo dục HS. Đánh
giá được thực hiện trên cơ sở KT và ĐG theo hệ thống 5 bậc: Xuất sắc (điểm 5),
Tốt (điểm 4), Trung bình (điểm 3), Xấu (điểm 2), Rất xấu (điểm 1). Từ đó, V.N.
Savin khẳng định KT và ĐG là hai hoạt động khác nhau, nhưng có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. KT không chỉ giúp HS nắm tri thức mà còn nắm kĩ năng, kĩ
xảo. T.A.Ilina cũng cho rằng:"Kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo là rất
quan trọng và là thành phần cấu tạo cần thiết của quá trình dạy học"[34, tr.19].
Đồng thời, tác giả còn nhấn mạnh chức năng quan trọng của KT, ĐG, coi nó như
là một phương tiện để nâng cao chất lượng dạy học "Việc đánh giá là một
phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩa giáo dục rất lớn trong điều
kiện nếu như nó được giáo viên sử dụng đúng đắn"[34, tr.150].
Những năm qua, lĩnh vực nghiên cứu về KT-ĐG và đo lường trên thế
giới đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Có thể nói, hầu hết các tác giả tiêu
biểu như Hughes, Ducan Harris, A.J. Nitko,…đã tập trung nghiên cứu và làm
sáng tỏ định nghĩa, chức năng, vai trò của KT-ĐG đối với việc phát triển tri
thức, năng lực, đặc biệt là tính tích cực, tự giác của HS, giúp các em tự tin
hơn trong học tập và tự ĐG kết quả học tập của mình [37], [40], [44].
Đề cập đến việc đổi mới các hình thức, phương pháp ĐG, tài liệu "Why
we need better assessment. Educational Leadership" [50], "Definitions and
Assessment Methods for Critical Thinking, Problem Solving and Writing" [51]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
đã phân tích sâu hơn các ưu điểm của kĩ năng ĐG qua bài luận, giúp HS rèn
luyện tư duy phân tích, tổng hợp. "The Art of Assessing, Measurement and
evaluation in teaching (6
th
Ed)" [41] cũng phân tích ưu điểm và nhược điểm của
các dạng thức ĐG, song nhấn mạnh vai trò ĐG qua các câu hỏi TNKQ.
Từ cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX ở nước ta, hoạt động đổi mới ĐG được
chú ý nhiều hơn. Các trung tâm ĐG ra đời ở các Viện nghiên cứu và một số
trường Đại học, Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ GD &
ĐT được thành lập. Nhiều công trình lý luận chung về ĐG, đặc biệt là phương
pháp và kĩ thuật ĐG được nghiên cứu và bước đầu áp dụng ở tất cả các cấp học
của hệ thống giáo dục phổ thông.
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu trong lĩnh vực này như Dương
Thiệu Tống với “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập"[33], đã vận
dụng phương pháp KT bằng TNKQ để ĐG KQHT của học sinh. Nhiều nhà
giáo dục khác cũng có những công trình có giá trị: Trần Bá Hoành với “Đánh
giá trong giáo dục"[11]; Lê Đức Ngọc với “Vắn tắt về đo lường và đánh giá
thành quả học tập trong giáo dục đại học"[22]; Lâm Quang Thiệp với "Trắc
nghiệm và ứng dụng"[31] Các tác giả tiếp tục nghiên cứu toàn diện vấn đề
ĐG và đổi mới ĐG, từ thống nhất khái niệm KT, ĐG, đo lường, chuẩn ĐG,
đổi mới đã đi sâu phân tích ưu điểm (và hạn chế) của việc đổi mới phương
pháp KT bằng TNKQ Ngoài ra còn một số tài liệu có tính chất chuyên khảo
khác, như Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan với “Phương pháp trắc
nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập" [17]; Nguyễn Công
Khanh với “Đánh giá đo lường trong khoa học xã hội: quy trình, kĩ thuật,
thiết kế, thích nghi, chuẩn hoá công cụ đo" [13]; Nguyễn Xuân Nùng và Lâm
Quang Thiệp "Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục" [24] đã
phân tích ưu điểm, hạn chế của các phương pháp ĐG, đặc biệt là kĩ thuật xây
dựng câu hỏi TN, đưa ra quy trình xây dựng và xử lý bộ công cụ KT một số
môn học. Trần Kiều [14] cho rằng: "Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng song
cũng có thể là bước khởi đầu cho chu trình tiếp theo với một chất lượng mới hơn
của cả quá trình. Do đó đánh giá không chỉ nhằm mục đích phân loại, sàng lọc,
cũng không chỉ nhằm phát hiện kết quả mà còn phải tìm ra được nguyên nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
10
Hiện nay, vấn đề tự KT-ĐG cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, vận dụng ở nhiều phương diện và mức độ khác nhau. Tác giả
Trần Thị Tuyết Oanh [25] với "Đánh giá và đo lường kết quả học tập" đã hệ
thống rất đầy đủ các thuật ngữ và khái niệm, các nguyên tắc, phương pháp, kĩ
thuật, các nội dung ĐG trong giáo dục. Trong phần thuật ngữ và khái niệm tác
giả đã đề cập đến tự KT-ĐG và xem nó như là một hình thức ĐG dự báo (chẩn
đoán) là một hình thức phổ biến của KT-ĐG quá trình. Gần đây là luận án "Rèn
luyện kỹ năng tự đánh giá cho học sinh trong dạy học môn Toán ở trường phổ
thông" của Bùi Thị Hạnh Lâm đã đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng
tự KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của học sinh THPT [18].
Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam về ứng dụng CNTT
trong KTĐG.
1.2. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Kiểm tra
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: "Kiểm tra là xem xét tình
hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [61, tr.18]. Theo Phạm Hữu Tòng "Kiểm
tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu
được những thông tin cần thiết để đánh giá'' [80, tr.10].
KT là quá trình xác định mục đích, nội dung, lựa chọn phương pháp,
tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của người học trong
quá trình học tập, rèn luyện và phát triển. KT bao gồm xác định điều cần KT,
công cụ KT và sử dụng kết quả KT, tức là ĐG.
Theo nghiên cứu của Trần Bá Hoành [11], Nguyễn Công Khanh [13],
Lê Đức Ngọc [22], Dương Thiệu Tống [33], KT kết quả học tập của HS
thường được chia thành các loại sau:
- KT thường xuyên: Việc KT thường xuyên được thực hiện qua quan
quát: ĐG có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin
thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định
nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Định nghĩa chung về ĐG nói trên cũng được áp dụng trong giáo dục.
Có thêm nhiều định nghĩa về ĐG trong giáo dục được Nguyễn Bảo Hoàng
Thanh [29] tổng hợp như:
- Theo E.Beeby: "Đánh giá giáo dục là sự thu thập và lý giải một cách
hệ thống những bằng chứng, như một phần của quá trình, dẫn tới sự phán xét
về giá trị theo quan điểm hoạt động";
- Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc: "Đánh giá trong giáo dục
là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng,
khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào
mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện
pháp và hành động giáo dục tiếp theo".
Thành tích học tập của mỗi HS phải được ĐG đúng, công bằng. Việc
ĐG đúng loại trừ được việc tuỳ tiện hạ thấp hoặc nâng cao yêu cầu. Việc ĐG
sai sẽ không động viên được HS.
Theo chúng tôi: Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình
thu thập các thông tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh một cách
đầy đủ, đúng đắn, chính xác với năng lực của học sinh từ đó so sánh với một
tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết
định theo một mục đích nào đó giúp điều chỉnh quá trình dạy học tốt hơn.
1.2.1.3. Đo lường kết quả học tập của học sinh
Đo lường kết quả học tập của HS có 2 khái niệm cơ bản:
- Dụng cụ đo: Trong dạy học, kết quả làm bài KT của mỗi HS được ghi
nhận bằng một số đo. Điểm số là những ký hiệu gián tiếp phản ánh trình độ
ĐG thường sử dụng các thuật ngữ hoạt động KT, hoạt động ĐG hoặc hoạt
động KTĐG hoặc hoạt động KT-ĐG đều chỉ hoạt động KT và hoạt động ĐG
kết quả học tập của học sinh theo một chu trình khép kín từ việc xác định mục
đích của KT đến ĐG kết quả điều chỉnh phương pháp dạy học giúp nâng cao
chất lượng đào tạo
1.2.1.5. Mục đích của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
- Đối với HS: KT-ĐG kết quả học tập giúp xác định năng lực và trình
độ của HS để phân loại, tuyển chọn và hướng nghiệp cho HS (ĐG đầu vào);
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
xác định kết quả học tập của HS theo mục tiêu của chương trình môn học;
thúc đẩy, động viên HS cố gắng khắc phục thiếu sót, phát huy năng lực của
mình để học tập đạt kết quả hơn; ĐG sự phát triển nhân cách nói chung của
HS theo mục tiêu giáo dục (ĐG đầu ra).
- Đối với GV: KT-ĐG kết quả học tập của HS giúp cung cấp thông tin
về các đặc điểm tâm, sinh lý của HS và trình độ học tập của HS; cung cấp
thông tin cụ thể về tình hình học tập của HS, làm cơ sở cho việc cải tiến nội
dung và phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục: KT-ĐG kết quả học tập của HS giúp
cung cấp thông tin, làm cơ sở cho việc cải tiến mọi mặt hoạt động của giáo
dục từ phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến đào tạo, bồi
dưỡng GV, xây dựng cơ sở vật chất, quản lý tốt quá trình dạy học.
1.2.1.6. Chức năng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
- Chức năng phản ánh: Đây là chức năng cơ bản, KT-ĐG giúp chúng ta
phát hiện được thực trạng về kiến thức, kỹ năng, thái độ của HS, để từ đó xác
định mức độ đạt được và khả năng tiếp tục học tập vươn lên của HS. Đây
cũng là phương tiện hữu hiệu để KT hiệu quả hoạt động của GV, của nhà
trường cũng như của mọi người, mọi cơ sở tham gia công tác giáo dục.
kết quả học tập phải căn cứ vào mục tiêu chương trình các môn học và các
chuẩn kiến thức - kỹ năng cụ thể, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của
người dạy học cũng như của nhà quản lý quá trình dạy học, nên nó có tác
động điều chỉnh, định hướng quá trình này, hạn chế được tình trạng tuỳ tiện
trong việc thực hiện quá trình dạy học.
Các thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm: mục tiêu,
nội dung, phương pháp, phương tiện, KT-ĐG kết quả được thực hiện thông
qua hoạt động dạy - học của thầy - trò dưới tác động của môi trường giáo
dục, môi trường kinh tế - xã hội. Các tác động này có ảnh hưởng sâu sắc
đến kết quả của quá trình dạy học. Hoạt động chủ đạo, tích cực của GV, HS
tác động làm cho mối quan hệ giữa các yếu tố không chỉ là tuyến tính mà là
quan hệ tác động tương tác lẫn nhau, làm cho quá trình dạy học vận hành
hoàn chỉnh và linh hoạt. Dưới sự hướng dẫn của thầy và sự chủ động tiếp
nhận tri thức của trò, KT-ĐG xác nhận kết quả học tập của học sinh đạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
được đến đâu, thầy dạy như thế nào để có biện pháp điều chỉnh phương
pháp, nội dung, mục tiêu dạy học cho phù hợp. Giữa các cặp yếu tố này, sự
tác động và mối quan hệ tương tác được thể hiện rõ ràng.
KT-ĐG luôn được đặt trong mối quan hệ qua lại với các thành tố của
quá trình dạy học nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản: Nhìn nhận chính xác hơn
trình độ, năng lực học tập của HS vào những thời điểm nhất định trong quá
trình học tập, theo những mục tiêu và nội dung cụ thể của môn học; Giúp GV
thu được những thông tin đầy đủ, chính xác về nội dung kiến thức, kĩ năng,
thái độ học tập, mức độ đạt được hoặc chưa đạt được của HS theo mục tiêu
môn học; Góp phần điều chỉnh, hỗ trợ các thành tố còn lại trong quá trình dạy
học cho phù hợp và có hiệu quả.
Mục tiêu KT- ĐG phải được xác định đảm bảo tính toàn diện về kiến
nghĩa của các sự kiện
Tìm được một trong các đại
lượng liên quan trong một
công thức
3. Vận dụng
Vận dụng các nguyên lí vào các
trường hợp phức hợp
Thiết kế được phương án khi
có đủ các thông số cần thiết
4. Phân tích
Vận dụng các nguyên lí vào các
trường hợp phức hợp để trình
bày một giải pháp mới
Thiết kế được phương án khi
phải tìm các thông số cần
thiết
5. Tổng hợp
Vận dụng các nguyên lí vào các
trường hợp để đưa ra các giải
pháp mới và so sánh nó với các
giải pháp đã biết khác
Tìm được lỗi trong các
phương án
6. Đánh giá
Vận dụng các nguyên lí vào các
trường hợp để đưa ra các giải
pháp mới và so sánh nó với các
giải pháp đã biết
Thiết kế được phương án mới