Nghiên cứu đặc tính sinh học phân tử virus dịch tả vịt tại Việt Nam qua khảo sát các gen UL5, UL32 và DNA polymerase - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

Hán Thị Hƣơng

Nghiên cứu đặc tính sinh học phân tử virus dịch tả
vịt tại Việt Nam qua khảo sát các gen UL5, UL32
và DNA-polymerase Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30

Trung tâm kiểm nghiệm thuốc thú y chủ trì nằm trong “Chƣơng trình công
nghệ sinh học Nông nghiệp” của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Em xin chân thành cảm ơn Cơ sở đào tạo Viện Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật, Ban lãnh đạo Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng các thầy cô
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn.
Em xin đƣợc bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới tất cả các cô chú, anh chị
phòng Miễn dịch học, Viện Công nghệ sinh học đã nhiệt tình giúp đỡ trong
quá trình tiến hành thí nghiệm cũng nhƣ tạo mọi điều kiện để luận văn đƣợc
hoàn thiện.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ngƣời thân, gia đình và
bạn bè đã luôn khuyến khích, động viên cũng nhƣ chia sẻ những khó khăn
với em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu của mình.

Học viên
Hán Thị Hƣơng


1.1.5. Vaccine phòng bệnh 9
1.2. Sinh học phân tử virus dịch tả vịt 11
1.2.1. Cấu trúc hệ gen của virus dịch tả vịt 11
1.2.2. Sự nhân lên của virus 16
1.3. Tình hình nghiên cứu virus dịch tả vịt trên thế giới và tại Việt Nam 18
CHƢƠNG 2 20
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Vật liệu 20
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 21
2.2.1. Phƣơng pháp tiếp truyền 21
2.2.2. Phƣơng pháp tách chiết DNA tổng số 22
2.2.3. Kỹ thuật PCR 23
2.2.4. Phƣơng pháp tinh sạch sản phẩm PCR 24
2.2.5. Phƣơng pháp giải trình tự 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2.2.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu sử dụng các phần mềm tin-sinh học 26
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1. Kết quả tiếp truyền virus 28
3.2. Kết quả thu nhận chuỗi gen nghiên cứu 30
3.2.1. Kết quả thu nhận chuỗi gen DNA-polymerase và giải trình tự 30
3.2.2. Kết quả thu nhận chuỗi gen helicase (UL5) và giải trình tự 32
3.2.3. Kết quả thu nhận chuỗi gen kháng nguyên (UL32) và giải trình tự 35
3.3. Kết quả phân tích, so sánh thành phần gen của các chủng virus dịch tả vịt
Việt Nam với các chủng của thế giới dựa trên gen UL5 và UL32 39
3.3.1. Kết quả phân tích gen UL5 40
3.3.2. Kết quả phân tích gen UL32 46
3.4. Bàn luận chung 52

nm
nanometer

ORF
Open Reading Frame
Khung đọc mở
RNA
Ribonucleic Acid
Axit ribonucleic
PCR
Polymerase chain reaction
Phản ứng trùng hợp chuỗi gen
UL
Unique long
Vùng dài
US
Unique short
Vùng ngắn
UTR
Untranslated region
Vùng không mã hóa
IRS
short internal repeat
vùng lặp ngắn trong
TRS
short terminal repeat
vùng lặp ngắn cuối

Bảng 3.4

Tỷ lệ (%) đồng nhất về nucleotide (trên đƣờng chéo) và
tƣơng đồng về amino acid (dƣới đƣờng chéo) của gen UL32
của chủng DTVCDKN (Việt Nam) với chủng DTVVXKN
(Việt Nam) và 07 chủng DEV của thế giới

50

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
Hình 1.1
Triệu chứng vịt bị bệnh dịch tả
8
Hình 1.2
Bệnh tích vịt bị bệnh dịch tả vịt
9
Hình 1.3
Cấu trúc không gian của Herpesviruses
11
Hình 1.4
Cấu tạo hạt virus dịch tả vịt
12
Hình 1.5
Chu trình nhân lên của Herpesvirus trong tế bào vật chủ

36
Hình 3.10
Trình tự gen UL32 của chủng DTVVXKN
37
Hình 3.11
Kết quả so sánh thành phần nucleotide của các chủng dịch
tả vịt Việt Nam với các chủng của thế giới dựa trên gen
Helicase (UL5)
42
Hình 3.12
Kết quả so sánh thành phần amino acid của các chủng
dịch tả vịt Việt Nam với các chủng của thế giới dựa trên
gen Helicase (UL5)
43
Hình 3.13
Kết quả so sánh thành phần nucleotide của các chủng dịch
tả vịt Việt Nam với các chủng của thế giới dựa trên gen
kháng nguyên (UL32)
48
Hình 3.14
Kết quả so sánh thành phần amino acid của các chủng
dịch tả vịt Việt Nam với các chủng của thế giới dựa trên
gen kháng nguyên (UL32)

49

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẶT VẤN ĐỀ


Cho đến nay virus dịch tả vịt vẫn diễn biến hết sức phức tạp và gây
nhiều ổ dịch ở khắp các địa phƣơng trong cả nƣớc. Tuy nhiên, tại Việt Nam lại
chƣa có một nghiên cứu đầy đủ nào về đặc tính phân tử, nguồn gốc phả hệ, tính
tƣơng đồng giữa các chủng virus cƣờng độc và các chủng virus vaccine.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc tính sinh học phân tử virus dịch tả vịt tại Việt Nam qua
khảo sát các gen UL5, UL32 và DNA-polymerase”.
- Đối tƣợng nghiên cứu:
- Chủng virus cƣờng độc dịch tả vịt do Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc
thú y Trung ƣơng cung cấp, đƣợc kí hiệu là DTVCDKN.
- Chủng virus nhƣợc độc vaccine do Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc thú
y Trung ƣơng cung cấp, đƣợc kí hiệu là DTVVXKN.
- Mục tiêu của đề tài là: Giải mã các gen UL5, UL32 và DNA-polymerase
của chủng virus cƣờng độc và nhƣợc độc vaccine tại Việt Nam; phân tích và
so sánh đặc điểm sinh học phân tử với các chủng của thế giới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về bệnh dịch tả vịt và virus gây bệnh
Dịch tả vịt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan mạnh của loài
thuỷ cầm do một loại Herpesvirus thuộc họ Herpesvirideae gây ra với đặc
điểm là xuất huyết nội tạng và ỉa chảy nặng nề (Nguyễn Đức Hiền, 1999;
Pritchard và cs., 1999).
Dịch tả vịt (duck plague) còn có tên gọi khác nhƣ viêm ruột truyền nhiễm ở
vịt (duck enteritis), nhiễm herpes loài vịt (anatid herpes) là bệnh truyền nhiễm cấp
tính, rất ít khi xảy ra mãn tính, lây lan nhanh gây bệnh cho nhiều loài thuỷ cầm,

Bệnh dịch tả vịt xuất hiện từ rất sớm vào năm 1923 tại Hà Lan ở một
đàn vịt nhà với triệu chứng ủ rũ, khát nƣớc và chết sau 1 ngày. (Baudet, 1923)
khi nghiên cứu về bệnh này không tìm thấy vi khuẩn nhƣng đã gây đƣợc bệnh
cho vịt khỏe bằng nƣớc chiết phủ tạng của vịt ốm sau khi qua nến lọc
Chamberland L
3
. Sau đó ông tiếp tục gây bệnh cho thỏ và gà nhƣng không
thành công. Ông kết luận có thể nguyên nhân do một loại virus (Trần Minh
Châu, 1987).
Năm 1930, bệnh xảy ra tại Hà Lan ở một đàn vịt 150 con. Năm 1942,
dịch lại tái phát ở Hà Lan làm chết 2600 vịt. Vịt ốm ỉa phân xanh, mổ khám
vịt chết thấy xuất huyết cơ tim, cuống mề, tá tràng, viêm kiểu bạch hầu ở
cuống họng và lỗ huyệt. Lần này, (Boss, 1943) đã phân lập ra virus, cấy
truyền 18 đời trên vịt và giữ đƣợc chủng virus này. Năm 1949, Jansen và
Kunst đã đề nghị gọi tên bệnh là dịch tả vịt, tên tiếng anh là duck enteritis hay
duck plague và virus gây bệnh là Duck virus enteritis (DVE) (OIE, 2000)
Tại Châu Âu, bệnh dịch tả vịt đã đƣợc phát hiện ở Bỉ năm 1964. Năm
1970, phát hiện bệnh dịch tả vịt ở Pháp, Anh. Tiếp theo, Bela Toth và
Voxapeer công bố bệnh dịch tả vịt ở Đức (Trần Minh Châu, 1980).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Tại Mỹ, bệnh dịch tả vịt cũng đƣợc phát hiện năm 1967 và 1984
(Leibovitz và Hwang, 1967 ; Brand và Docherty, 1984; Janson, 1968).
Tại Châu Á, năm 1944 bệnh xảy ra ở Ấn Độ và tái phát năm 1963.
Năm 1968, bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Trung Quốc. Năm 1976 - 1977, bệnh đã
phát ra ở Thái Lan gây thiệt hại lớn tới 650.000 vịt (Vorapee, 1978).
Ở Việt Nam, bệnh đƣợc phát hiện lần đầu tiên ở Cao Bằng vào năm
1963 làm thiệt hại trên 3000 vịt. Bệnh tiếp tục lan rộng và có mặt ở hầu khắp

tới 4 năm. Vì vậy nó là nguồn dịch lƣu cữu và lây lan khắp nơi do sự di
chuyển của nó.
- Vịt ta khi khỏi bệnh đều có miễn dịch, nhƣng vẫn mang mầm bệnh.
Do vậy dễ lây lan sang đàn mới nhập về.
Cơ chế sinh bệnh:
Ở vịt bị nhiễm bệnh, virus có trong máu, các cơ quan phủ tạng, nhiều
nhất ở gan, lách và óc. Tại Việt Nam đã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở cơ
thể vịt bị gây nhiễm nhân tạo: Sau khi gây nhiễm virus 24 giờ, vịt còn đang
trong thời kỳ mang bệnh thì virus đã nhân lên, xâm nhập vào máu nhƣng số
lƣợng còn ít. Đến 48 giờ, khi vịt chảy nƣớc mắt, nƣớc mũi thì virus đã xuất
hiện trong các dịch này. Và đến 72 giờ, khi vịt bị bệnh nặng, bắt đầu ỉa chảy thì
tế bào niêm mạc đƣờng tiêu hoá do virus tác động bị huỷ hoại, tróc ra cùng với
dịch tiết có nhiều virus, theo phân bài xuất ra ngoài (Trần Minh Châu, 1987).
1.1.3. Triệu chứng lâm sàng
Thời gian nung bệnh đối với bệnh dịch tả vịt là 3 - 4 ngày, có thể dài
hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào bệnh lần đầu tiên xảy ra hay đã từng xảy ra
đối với đàn vịt. Sau khi xuất hiện triệu chứng vịt chết nhanh, đột ngột, tỉ lệ
chết cao. Ở đàn vịt con bệnh thƣờng bắt đầu bằng những dấu hiệu: Nhiều con
tự nhiên lờ đờ, không thích vận động, đi lại khó khăn, không muốn xuống
nƣớc. Ở vịt lớn khi lùa ăn một số con rớt lại sau đàn, uể oải, nằm bẹp trên mặt
đất, cánh sã, đi lại chậm chạp, không bơi lội theo đàn, chân có dấu hiệu liệt,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên thân nhiệt cao. Ở đàn vịt đẻ tỉ lệ đẻ giảm, có khi ngừng đẻ hẳn. Vịt bệnh
thƣờng ủ rũ, bỏ ăn, đứng một chân, đầu rúc vào cánh. Vịt rụng lông và trong
đàn vịt nhiều con có tiếng kêu khản đặc (do vòm họng bị tổn thƣơng). Vịt
thƣờng sƣng mi mắt, niêm mạc mắt đỏ. Lúc đầu chảy nhiều nƣớc mắt làm ƣớt
cả vùng lông dƣới mi mắt. Sau nƣớc mắt đặc lại có màu vàng nhƣ mủ đóng

đầu, cổ, ngực, bụng, đùi xuất huyết lấm tấm. Tổ chức liên kết dƣới da vùng đầu
cổ thuỷ thũng, có dịch trong suốt hơi hồng hoặc hơi vàng. Mổ khám các cơ
quan nội tạng nhƣ gan, lách, thận, cơ tim thì thấy ở các cơ quan này đều biểu
hiện bệnh tích sƣng, tụ huyết hoặc xuất huyết, ở gan có những điểm màu trắng
đục, to bằng đầu đinh ghim hoặc to hơn (Hình 1.2) (Trần Kim Anh, 2004).
Đƣờng tiêu hoá bị xuất huyết nặng, niêm mạc thực quản cuối lƣỡi có
màng giả trắng đóng bựa thành mảng, khi gạt lớp bựa trắng ra, phía dƣới loét
hoặc xuất huyết lấm tấm (Hình 1.2) (Trần Minh Châu 1996).
Các biến đổi bệnh lý cũng thấy ở mắt, mũi, hậu môn, phù nề dƣới da
vùng ngực, trong xoang bụng có chứa nhiều dịch thẩm xuất. Các cơ quan phủ
tạng khác đôi khi cũng xuất huyết nhƣ màng bao tim, cơ tim, lách, gan, thận
và tuyến tụy. Tuy nhiên, ở mỗi lứa tuổi vịt, bệnh lại thể hiện những đặc trƣng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên riêng: Vịt bố mẹ bệnh tích chủ yếu là ở tuyến ức, xuất huyết mô và tổn
thƣơng bộ máy sinh sản. Còn ở vịt con thì bệnh tích chủ yếu ở các lymphoid
(Nguyễn Đức Hiền, 2005).
- Vaccine vô hoạt:
Để vô hoạt virus dịch tả vịt, trƣớc đây thƣờng dùng hoá chất là formol,
gần đây sử dụng chất BPC (Beta propiolactore). Tại Việt Nam đã chế thử
vaccine vô hoạt nhƣ: vaccine dịch tả vịt gan máu glyxin tím, vaccine formol
gan. Theo OIE, (2000) vaccine vô hoạt tạo đƣợc miễn dịch cho đàn vịt nhƣng
hiệu lực thấp hơn so với vaccine nhƣợc độc, hiện nay vaccine vô hoạt chỉ sử
dụng trong phòng thí nghiệm, chƣa đƣợc áp dụng trong sản xuất.
Những vaccine dịch tả vịt hiện đang được lưu hành ở Việt nam:
1. Vaccine dịch tả vịt nhƣợc độc đông khô do phân việ n thú y miề n
trung - Việ n thú y sản xuất.
2. Vaccine dịch tả vịt nhƣợc độc do Công ty TNHH một thành viên
thuố c thú y trung ƣơng NAVETCO 2 (Thành phố Hồ Chí Minh) sản xuất.
3. Vaccine dịch tả vịt nhƣợc độc do Công ty TNHH một thành viên
thuố c thú y trung ƣơng NAVETCO 2 (Thành phố Hồ Chí Minh) sản xuất trên
môi trƣờng tế bào xơ phôi gà một lớp.
4. Vaccine dịch tả vịt nhƣợc độc đông khô Nobilis Duck Plague nhập
khẩu từ Hà Lan.
5. Vaccine dịch tả vịt đông khô Vaxiduk chủng Jansen nhập khẩu từ Pháp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.2. Sinh học phân tử virus dịch tả vịt
Virus dịch tả vịt (duck enteritis virus-DEV) hay anatid herpesvirus 1
(AnHV-1), là thành viên của họ Herpesviridae. Tuy nhiên do đặc tính sinh học và
phân loại học của loại virus này còn chƣa thống nhất, nên Tổ chức phân loại thế
giới (ICTV) đã tạm thời xếp virus dịch tả vịt vào nhóm virus chƣa xác định
(unclassified), thuộc họ Herpesviridae (Fauquet và cs., 2005) và cho đến nay vẫn

CAAT, một hộp gen GC và 8 trình tự poly A; trong khi vùng không mã hóa
3’UTR chứa 3 hộp gen TATA, 13 hộp gen CAAT, 7 hộp gen GC và 4 trình
tự poly A (Wu và cs., 2012). Các cấu trúc này có vai trò trong việc điều hòa
quá trình phiên mã (Richard và cs., 2008; Wiley và cs., 2009).
Ở hai đầu của vùng gen US có chứa hai vị trí lặp IRS và TRS, tạo nên
cấu trúc hệ gen của DEV là: UL-IRS-US-TRS giống với đặc điểm hệ gen của
các virus thuộc chi Varicellovirus và Iltovirus (Li và cs., 2009). Vùng UL
chứa 65 khung đọc mở, vùng US chứa 11 khung đọc mở, trong khi hai khung
đọc mở còn lại nằm tại hai vùng cấu trúc lặp IRS và TRS (Wu và cs., 2012).
Một trong số các hệ gen đƣợc giải mã toàn bộ là hệ gen của virus dịch
tả vịt chủng Clone-03. Kết quả phân tích cho thấy nó chứa 67 gen có sự tƣơng
đồng cao với hầu hết các thành viên của họ Alphaherpesvirinae, nhƣng lại có
03 gen không giống bất kỳ một Herpesviruses nào (Li và cs., 2009). Trật tự
sắp xếp các gen trong hai vùng gen cũng mang những đặc trƣng riêng. Các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên gen trong vùng gen UL có tính chất bảo tồn, giống với các virus khác thuộc
Alphaherpesvirinae, trong khi sự sắp xếp của các gen trong vùng US lại tƣơng
tự nhƣ virus gây bệnh Marek và Herpesviruses ở ngựa (Spatz và cs., 2007; Li
và cs., 2009). Kết quả trên đƣa ra phỏng đoán rằng virus dịch tả vịt (DEV)
thuộc về một chi mới trong phân họ Alphaherpesvirinae (Lee và cs., 2007; Li
và cs., 2009).
Trong số 78 khung đọc mở của virus dịch tả vịt, 24 khung đọc mở có
tính bảo tồn cao, không có bất cứ một thay đổi nào về trình tự amino acid khi
so sánh giữa các chủng với nhau (bao gồm UL7, UL11, UL16, UL26, UL30,
UL44, UL45, UL46, UL8, UL14, UL24, UL32, UL33, UL35, UL38, UL49.5,
UL50, UL51, UL53, US1, US2, US3 and US6); 39 khung đọc mở có sự thay
đổi về trình tự nucleotide và 15 khung đọc mở có xảy ra sự đột biến thêm vào

một số gen đặc thù để làm chỉ thị phân tử chẩn đoán, giám định và xác định đặc
tính sinh học hệ gen virus dịch tả vịt, trƣớc hết là gen DNA-polymerase (DNA-
pol), gen Thymidine kinase (TK), gen UL5 và gen UL32 (Pritchard và cs., 1999;
Hansen và cs., 2000).
Gen UL5 chứa một khung đọc mở gồm 2568bp với thành phần hệ gen
chứa 29.9% Adenine, 21.65% Cytosine, 20.76% Guanine và 27.65% Thymine,
mã hóa cho việc tổng hợp 855 amino acid. UL5 là một trong ba tiểu đơn vị của
phức hợp Helicase-primase. Các tiểu đơn vị của Helicase - primase gồm
UL5/UL8/UL52, là những enzyme hoạt động, bao gồm một helicase từ đầu 5' -
3', một DNA đơn có chức năng nhƣ một NTPase và mồi hoạt động. Helicases
đóng vai trò thiết yếu trong nhiều quá trình sinh học quan trọng của virus nhƣ
quá trình sao chép, sửa chữa, tái tổ hợp, sao mã và dịch mã DNA của
Herpesvirus. (Marintcheva và Weller, 2001). UL8 không có khả năng quyết
định hoạt tính của enzyme nhƣng có khả năng làm tăng tỷ lệ tổng hợp mồi của
phức hợp UL5/UL52 thông qua việc làm tăng tỷ lệ mồi gốc ban đầu (2NTPs –
pppNpN). Phức hợp UL5/UL52 chứa cấu trúc và chức năng chính cho các hoạt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên tính enzyme của helicase, mặc dù nếu đứng riêng rẽ, thì cả UL5 hoặc UL52 đều
không có khả năng biểu hiện hoạt tính enzyme (Pan và cs., 2008). UL5 chứa bảy
motif bảo tồn đƣợc tìm thấy trong tất cả các thành viên của trên họ helicase. UL5
chịu trách nhiệm cho việc tháo xoắn chuỗi cũng nhƣ quá trình sao chép DNA và
hoàn thiện chu kỳ sống của virus (Zhu và Weller, 1992). Các thay đổi nhỏ về cấu
trúc trong tiểu đơn vị UL5 cũng có thể ảnh hƣởng đến hoạt động của primase
(Biswas và Weller, 2001).
Gen UL5 tƣơng đối ổn định trong tiến hóa phân loại và có thể đƣợc sử
dụng là một chỉ thị di truyền tin cậy cho phân tích phả hệ nguồn gốc (Pan và
cs., 2008).

trên sợi DNA mới tổng hợp trong quá trình nhân đôi. Khi phát hiện một cặp
base liên kết không đúng theo nguyên tắc bổ xung DNA-polymerase sẽ trƣợt
ngƣợc trở lại và thực hiện hoạt tính exonuclease để cắt bỏ base ngoài cùng
của chuỗi nucleic acid theo hƣớng 3' - 5' cho đến vị trí của cặp base sai hỏng
(hoạt động này đƣợc gọi là hoạt tính đọc sửa). Sau khi cắt bỏ cặp base sai,
enzyme DNA-polymerase sẽ thay thế bằng base thích hợp và quá trình sao
chép lại đƣợc tiến hành.
Một vài loại virus cũng mã hoá những phân tử DNA-polymaerase đặc
biệt có khả năng sao chép chọn lọc DNA của vius thông qua nhiều cơ chế
khác nhau, các retrovirus mã hoá một loại DNA-polymerase sử dụng khuôn là
RNA để tổng hợp những chuỗi phân tử DNA đó là các enzyme phiên mã
ngƣợc (reverve trancriptase).
Các DNA-polymerase thƣờng có tính bảo thủ cao về mặt cấu trúc, nên
đƣợc lựa chọn để phân tích phả hệ nguồn gốc.
1.2.2. Sự nhân lên của virus
Quá trình nhiễm virus vào tế bào vật chủ diễn ra khi virus bám vào thụ
thể của tế bào chủ, sau đó có sự dung hợp giữa vỏ của virus vào màng của tế
bào vật chủ. Qua đó, capsid nhân của virus đƣợc lọt vào bên trong tế bào rồi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên chuyển tới nhân của tế bào. Lúc này quá trình mất vỏ của capsid nhân diễn ra.
Các thành phần của virus sẽ ức chế các quá trình tổng hợp các thành phần cao
phân tử của tế bào chủ. Có 3 dạng mRNA:
- Dạng α: Xuất hiện sớm, chúng mã hóa 5 protein điều hòa.
- Dạng β: Dạng chậm của dạng sớm, chúng mã hóa protein cho sự sao
chép DNA ( Thymidine kinaza, DNA-polymase)
- Dạng γ: Mã hóa protein cấu trúc của virus.
Quá trình tổng hợp DNA Herpesvirus của xảy ra trong nhân. Sau khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status