Nghiên cứu tương đương sinh học của viên Azithromycin 250mg sản xuất tại Việt nam - Pdf 22

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực hiện, luận văn “Nghiên cứu tương đương sinh
học của viên Azithromycin 250mg sản xuất tại Việt nam” đã hoàn thành.
Ngoài sự làm việc nghiêm túc, sự cố gắng, nỗ lực hết mình của bản thân, tôi
đã nhận được sự khích lệ rất nhiều từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình và bè
bạn đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường ĐH Dược Hà
Nội, đặc biệt là những thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi suốt thời gian học tập
tại Trường.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kiều Anh,
người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp
tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Việt Hùng, người đã rất nhiệt tình
hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới ThS Tạ Mạnh Hùng và Ban giám
đốc cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Trung tâm Tương đương sinh học-Viện
Kiểm nghiệm thuốc Trung ương, nơi tôi thực hiện đề tài, đã tạo điều kiện và
giúp đỡ tôi trong quá trình làm thực nghiệm.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám đốc Sở y tế vả Trung tâm Kiểm
nghiệm Bắc Kạn, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học này.
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp,
đã động viên khích lệ và giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình học tập và nghiên
cứu, là động lực không nhỏ để tôi có kết quả ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2009
Hà Thị Xuân
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
µg : Microgam
µL : Microlit
AUC : Diện tích dưới đường cong (Area Under Curve)

TĐSH : Tương đương sinh học
T
max
: Thời gian đạt nồng độ thuốc tối đa
TW : Trung ương
ULOQ : Giới hạn định lượng trên (Upper limit of Quantification)
USP : Dược điển Mỹ (The United States Pharmacopoeia)
WHO : Tổ chức y tế thế giới (Word Health Organization)
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp Dược Việt Nam trong
thời gian gần đây làm nảy sinh khá nhiều vấn đề về chất lượng thuốc. Do đó,
việc quản lý chất lượng thuốc ngày càng chặt chẽ hơn và thu hút nhiều hơn sự
quan tâm của xã hội. Một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất, đó
là tương đương sinh học (TĐSH).
Tương đương sinh học được sử dụng để chỉ các sản phẩm cùng dạng
bào chế, chứa một lượng dược chất như nhau và có sinh khả dụng tương tự
trong cùng điều kiện thử nghiệm. Trên thực tế, nhiều chế phẩm thuốc có cùng
hoạt chất, cùng dạng bào chế nhưng tốc độ và mức độ hấp thu vào tuần hoàn
lại khác nhau nên tác dụng điều trị không hoàn toàn giống nhau. Chất lượng
nguyên liệu, thành phần tá dược và kỹ thuật bào chế là những yếu tố có nhiều
ảnh hưởng tới sự hấp thu của thuốc. Trong quá trình phát triển sản phẩm,
đánh giá TĐSH là một trong những phương pháp thường được sử dụng để lựa
chọn công thức và kỹ thuật bào chế. Kết quả đánh giá TĐSH là bằng chứng
về hiệu quả điều trị của thuốc và làm cơ sở cho việc lựa chọn và thay thế
thuốc trong lâm sàng. Dựa vào kết quả đánh giá TĐSH, nhà sản xuất có thể tự
khẳng định chất lượng đích thực cho sản phẩm của mình; nhà quản lý có cơ
sở để xem xét, thẩm định khi cấp giấy phép lưu hành và thầy thuốc có thêm
các thông tin về dược động học để lựa chọn, thay thế thuốc trong điều trị.

1.1. SINH KHẢ DỤNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC
1.1.1. Sinh khả dụng (Bioavailability) [5], [6], [21], [25]
Sinh khả dụng (SKD) là đặc tính biểu thị mức độ và tốc độ hấp thu của
một dược chất hoặc nhóm chất còn nguyên hoạt tính từ dạng bào chế vào hệ
đại tuần hoàn và đưa đến nơi tác dụng.
Mức độ hấp thu được phản ánh bằng diện tích dưới đường cong nồng
độ-thời gian (AUC: Area Under Curve). AUC cho biết tổng lượng dược chất
được hấp thu từ dạng bào chế vào hệ tuần hoàn.
Tốc độ hấp thu được phản ánh bởi thời gian thuốc đạt cực đại (T
max
) và
nồng độ cực đại của thuốc (C
max
) trong máu.
Có 2 cách đánh giá SKD in vivo: SKD tương đối và SKD tuyệt đối,
trong đó SKD tương đối được dùng nhiều hơn trong nghiên cứu phát triển các
sản phẩm generic.
1.1.2. Tương đương sinh học [25], [47], [46]
Hai chế phẩm được coi là TĐSH nếu chúng là những chế phẩm tương
đương bào chế, chứa một lượng dược chất như nhau, được dùng với liều như
nhau và có SKD tương tự trong cùng điều kiện thử nghiệm.
TĐSH là cơ sở cho việc lựa chọn và thay thế thuốc trong lâm sàng. Hai
chế phẩm đạt TĐSH có thể được sử dụng thay thế nhau trong điều trị. Kết quả
đánh giá TĐSH khẳng định chất lượng đích thực của thuốc.
Để đánh giá TĐSH của một thuốc, người ta dùng 4 phương pháp sau:
- Phương pháp Dược động học
- Phương pháp Dược lực học.
- Thử nghiệm lâm sàng.
3
- Thử độ hoà tan in vitro.

Nhược điểm: Do mỗi nhóm chỉ sử dụng 1 thuốc nên khó đánh giá được ảnh
hưởng của cá thể NTN, của quá trình dùng thuốc. Vì vậy số NTN phải nhiều
để loại bớt ảnh hưởng của cá thể.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu TĐSH ở Việt nam và thế giới
1.1.3.1. Trên thế giới
Đánh giá TĐSH được thực hiện từ nhiều thập kỷ trước, ở các nước và
khu vực có nền công nghiệp Dược phát triển như Canada, Mỹ [46], Pháp,
Đức, Australia [15], Châu Âu [43] … và các nước trong khu vực như Thái lan
[42], Indonesia [33], Singapore [40], Philippines, Malaysia, Trung quốc [36]
đều có quy chế đánh giá SKD và TĐSH. Tại Mỹ, từ năm 1962, cơ quan Quản
lý thuốc và thực phẩm (FDA) [21], [46] đã nghiên cứu, xem xét lại tính hiệu
quả của gần 3400 chế phẩm thuốc đã được xét duyệt và lần đầu tiên thuật ngữ
“Sinh khả dụng” được dùng để đánh giá, so sánh thuốc nghiên cứu với thuốc
đối chiếu. Hướng dẫn thử TĐSH in vivo đã được ghi trong Dược điển Mỹ
[45], trong đó có hướng dẫn thử TĐSH in vivo cho một số thuốc cụ thể và
những trường hợp có thể miễn thử TĐSH in vivo.
Ở các nước Châu Âu, năm 1987 đã có hướng dẫn về nghiên cứu SKD
(Investigation of Bioavailability), năm 1991 ra quy định chính thức đầu tiên
về nghiên cứu SKD và TĐSH
Nhằm tạo sự thống nhất trong khối EU về đánh giá hiệu quả điều trị
của thuốc, tháng 6/2001 Uỷ ban về các chế phẩm thuốc độc quyền (CPMP)
thuộc cơ quan Châu Âu đánh giá thuốc đã ban hành hướng dẫn về nghiên cứu
SKD và TĐSH [22].
1.1.3.2. Trong nước
5
Ở nước ta, khái niệm TĐSH mới được phổ biến trong vài năm trở lại
đây, chưa có văn bản chính thức quy định về đánh giá TĐSH. Trong hồ sơ xin
xét duyệt thuốc sản xuất trong nước chưa yêu cầu có số liệu đánh giá SKD và
TĐSH, riêng thuốc giải phóng có kiểm soát yêu cầu đánh giá TĐSH in vivo.
Hiện nay, Cục quản lý Dược Việt Nam, Trung tâm đánh giá TĐSH kết hợp

1.1.4. Quy định về đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học
Tổ chức Y tế thế giới, hiệp hội các nước Đông Nam Á, và một số nước
đã có ban hành tài liệu hướng dẫn, quy định chung cho việc đánh giá SKD và
TĐSH [21], [22], [33], [36], [40], [45].
Nói chung, các nghiên cứu SKD và TĐSH in vivo phải tuân thủ theo
các qui chế GCP; GLP và phải đảm bảo vấn đề đạo đức trong khi tiến hành.
Nghiên cứu chỉ được bắt đầu khi được sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức
[43], [45], [46].
Hội đồng đạo đức (HĐĐĐ) bao gồm các chuyên gia đầu ngành, các
nhà khoa học độc lập với nhóm nghiên cứu, bác sỹ lâm sàng và người đại
diện cho quyền lợi của NTN. Hội đồng được thành lập để đảm bảo nghiên
cứu đánh giá SKD và TĐSH nếu được tiến hành, sẽ tuân thủ đầy đủ “đạo đức
trong nghiên cứu Y-Sinh học”. Hội đồng xem xét các khía cạnh đạo đức và
khoa học của nghiên cứu như mục đích, sự cần thiết phải tiến hành nghiên
cứu; tính khoa học của đề cương nghiên cứu; sự đảm bảo quyền lợi và các
biện pháp phòng ngừa các nguy cơ có thể xảy ra đối với NTN của nhóm
nghiên cứu…Vì vậy, trước khi tiến hành đánh giá SKD và TĐSH, nhóm
nghiên cứu phải xây dựng đề cương nghiên cứu, nộp đơn xin đánh giá SKD
và TĐSH lên thường trực HĐĐĐ.
Ngoài vấn đề đảm bảo đạo đức trong nghiên cứu, các qui định, hướng dẫn
7
về đánh giá SKD và TĐSH bao gồm những nội dung cơ bản và cụ thể sau:
1.1.4.1. Chế phẩm cần và không cần đánh giá TĐSH
[
43
]
♦ Các chế phẩm cần đánh giá TĐSH
- Dạng thuốc uống giải phóng nhanh.
+ Thuốc cần đảm bảo hiệu quả điều trị.
+ Khoảng điều trị hoặc khoảng an toàn hẹp (chỉ số điều trị nhỏ hơn 2)

của thuốc với các ảnh hưởng khác. Trong đánh giá TĐSH cần chọn mô hình
thử nghiệm phù hợp. Mô hình hay được lựa chọn để đánh giá TĐSH là bố trí
chéo đôi, hai giai đoạn (cross over design, two sequences, two treatments).
Thời gian nghỉ giữa 2 giai đoạn phải đủ dài để liều đã dùng ở giai đoạn
trước được thải loại hết trước khi dùng liều sau. Thời gian này thường được
tính ít nhất bằng 5 lần thời gian bán thải (T
1/2
) của dược chất.
Thông thường nghiên cứu liều đơn có thể đủ để đánh giá TĐSH, nhưng
một số trường hợp nghiên cứu ở trạng thái ổn định, nên sử dụng thuốc theo
chế độ thường dùng đã được khuyến cáo:
- Động học không tuyến tính, đặc biệt có bão hoà liên kết với protein
huyết tương.
- Thuốc có tác dụng kéo dài.
- Thuốc có quá trình hấp thu thay đổi nhiều theo cá thể.
- Thuốc có khoảng điều trị hẹp.
- Thuốc phối hợp nhiều thành phần nhưng tỷ lệ giữa các thành phần
khác nhau nhiều.
Số lượng người tình nguyện (NTN) cần thiết được xác định dựa vào:
- Biến thiên do sai số liên quan tới các tính chất cơ bản của dược chất,
ước tính được từ thí nghiệm thăm dò, từ các nghiên cứu trước đó hoặc tài liệu
đã công bố.
- Mức ý nghĩa thống kê công bố.
- Độ lệch mong muốn so với thuốc đối chứng phù hợp với TĐSH.
Tuy nhiên, số lượng NTN (cỡ mẫu) trong nghiên cứu TĐSH thường
được sử dụng là 18, 24, 30 hoặc 36, thấp nhất không ít hơn 12.
♦ Chọn đối tượng nghiên cứu [45]
9
Đối tượng nghiên cứu trong đánh giá TĐSH là người tình nguyện thử
thuốc, chế phẩm nghiên cứu và chế phẩm đối chiếu.

Hiện nay chưa có quy định rõ ràng về chế phẩm đối chiếu, do đó sự lựa
chọn tuỳ thuộc vào từng quốc gia. Một số tiêu chuẩn thường được dùng để
xem xét, lựa chọn chế phẩm đối chiếu:
- Là thuốc chiếm vị trí chủ yếu trên thị trường nước đó.
- Thuốc được cấp phép đầu tiên.
Với trường hợp đánh giá SKD tương đối, nếu thuốc gây độc không
tiêm được tĩnh mạch thì dùng dung dịch uống. Nếu vì hạn chế độ tan không
pha được dung dịch thì dùng hỗn dịch tiêm bắp hoặc uống, hay các dạng
thuốc rắn khác như bột, nang…
♦ Các thông số DĐH dùng cho đánh giá TĐSH
Đánh giá TĐSH thường dựa trên cơ sở đo nồng độ dược chất trong các
dịch sinh học như máu, nước tiểu, nước bọt, huyết tương…Phổ biến nhất là sử
dụng các thông số DĐH trong huyết tương như AUC, C
max
, T
max
để đánh giá
TĐSH.
Chế phẩm thử T được coi là TĐSH với chế phẩm đối chiếu R nếu:
0,80
≤≤
R
T
AUC
AUC
1,20
0,80
≤≤
R
T

chiếu hoặc thuốc nghiên cứu. Uống thuốc với 240mL nước ấm. Nếu cần uống
nước thêm phải đợi 1 giờ sau khi uống thuốc.
Trong và sau giai đoạn thử nghiệm, việc theo dõi sức khoẻ người tình
nguyện phải do bác sĩ có chuyên môn đảm nhiệm.
- Chương trình lấy mẫu
Chương trình lấy mẫu phải được thiết lập sao cho có thể ước lượng
tương đối chính xác giá trị C
max
và thu được đường cong nồng độ thuốc trong
huyết tương theo thời gian đủ để ước lượng chính xác mức độ hấp thu. Thời
gian lấy mẫu đáp ứng khi giá trị AUC
0-t
ít

nhất bằng 80% AUC
0-

. Số lượng
mẫu thử phải đủ đặc trưng cho pha hấp thu và pha thải trừ. Vì vậy thường xây
dựng đường cong DĐH tối thiểu đến thời gian bằng 3 lần thời gian bán thải.
Nếu thử đơn liều theo phương pháp thiết kế chéo thì thường lấy 12-15 mẫu
(theo quy định của Dược điển Mỹ [45]), bao gồm 3 điểm ở pha hấp thu, 3
điểm ở xung quanh T
max
, 6 điểm ở pha thải trừ.
1.1.4.3. Thẩm định phương pháp phân tích trong dịch sinh học
[
45
]
,

C
max
được
phân tích chuyển dạng logarit cơ số 10 hoặc cơ số e. Riêng với T
max
không
chuyển dạng logarit, được xử lý theo phương pháp thống kê phi tham số.
Phân tích phương sai được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các
nguồn biến thiên như: trình tự, giai đoạn, cá thể, chế phẩm đến kết quả. Với
các thông số dược động học được đề cập, ngoài khoảng tin cậy 90% dùng để
so sánh 2 chế phẩm, cần đưa thêm các giá trị thống kê trung bình, giá trị tối
thiểu và giá trị tối đa.
* Khoảng chấp nhận đối với các thông số dược động học
- Với AUC và C
max
: Khoảng tin cậy 90% cho giá trị SKD tương đối
phải trong khoảng 0,80-1,20, hoặc ln 0,80-ln1,25
+ Đối với các chế phẩm có khoảng điều trị hẹp, khoảng chấp nhận phải
nhỏ hơn.
+ Một số trường hợp, chấp nhận khoảng tin cậy lớn hơn (70%-145%)
nhưng cần xem xét các dữ liệu lâm sàng.
13
- Các thông số khác:
Giá trị T
max
có thể đánh giá, tuy nhiên giá trị so sánh này chỉ có ý nghĩa
khi cần công bố các thông tin liên quan đến lâm sàng như thuốc tác dụng
nhanh hay tác dụng bất lợi của thuốc.
Trong các nghiên cứu SKD tương đối, có thể đánh giá một số thông số
DĐH khác như C

CH
3
H
3
C
C
2
H
5
O
CH
3
O
H
3
C
O
CH
3
OH
CH
3
OCH
3
O
CH
3
N(CH
3
)

.2H
2
O
- Trọng lượng phân tử: 785,02
- Tên khoa học: Methyl-aza-11-Desoxo-10 homoerythromycin A
Trong cấu trúc của AZI không có dây nối đôi liên hợp và các nhóm
14
mang màu nên nó hấp thụ UV kém, đây là điều khó khăn để định lượng AZI
trong dịch sinh học.
- Nguồn gốc: Macrolid bán tổng hợp từ Erythromycin A, trong đó đưa
thêm vào khung 1N (Macrolid 15 nguyên tử, là cấu trúc chưa phát hiện thấy
trong thiên nhiên).

Tính chất [44], [8]
√ Tính chất vật lý:
- Bột kết tinh màu trắng, hoặc trắng ngà, không mùi, vị đắng.
- Thực tế khó tan trong nước; dễ tan trong một số dung môi hữu cơ:
methanol, ethanol, diethyl ether, cloroform và dung dịch acid hydrocloric loãng.
- Dung dịch 0,2% trong hỗn hợp methanol-nước (1:1) có pH là 9,0- 10,0.
- Năng suất quay cực là -45
0
đến -49
0
(dung dịch 20mg/mL ethanol).
√ Tính chất hoá học:
- Tính base: do các osamin (đường amin) gây ra, pKa = 8,74.
- Tạo muối dễ tan trong nước với các acid vô cơ và hữu cơ.
- Phản ứng màu: Với các acid như HCl, H
2
SO

AZI có tác dụng tốt trên các vi khuẩn Gram âm như Haemophilus influenzae,
Parain fluenzae, Ducreyi.

Chỉ định
AZI được chỉ định dùng trong các trường hợp nhiễm khuẩn do các vi
khuẩn nhạy cảm với thuốc.

Tác dụng không mong muốn
- Hay gặp nhất là chứng rối loạn tiêu hoá (khoảng 10%).
- Ảnh hưởng thính giác: nếu sử dụng lâu dài ở liều cao.
♦ Liều lượng và cách dùng
AZI dùng một lần/ ngày, uống 1 giờ trước bữa ăn hoặc 2 giờ sau khi ăn.
Điều trị bệnh lây qua đường sinh dục: liều duy nhất 1g.
16
Các chỉ định khác: ngày đầu tiên uống một liều 500mg và dùng 4 ngày
nữa với liều đơn 250mg/ngày.
1.2.3. Một số chế phẩm chứa AZI trên thị trường [9]
Bảng 1.1. Một số chế phảm chứa Azithromycin trên thị trường
Tên
chế phẩm
Hãng
sản xuất
Dạng bào chế Hàm lượng
Doromax Domesco
Viên nang
Bột uống
250 mg
1,5gam/gói
Azamacin StallionLabs Viên nang 250 mg
Azee Cipla

ST
T
Tài
liệu
Mẫu
phân
tích
Điều kiện sắc ký
Cột Điều kiện
Detect
or
1 [23]
HT
người
Acquity UPLC
- Dung môi chiết: Diethyl ether.
- Pha động: MeCN– Amoni acetat
0,05M
- Chuẩn nội: ROXI.
- Tốc độ dòng: 0,35mL/phút.
- Đường chuẩn: 1 - 1000ng/mL
- LOQ: 1ng/mL
MS
2
[35]
Huyết
thanh
người
Al
2

4
[16]
HT
người
Phenyl (250 x
2,1mm; 3µm)
- Dung môi chiết: Hexan
- Pha động: MeCN - Na
3
PO
4

0,05M (71:29); pH=5,9
- Chuẩn nội: Clazithromycin
- Tốc độ dòng: 2,5mL/phút.
- Chất dẫn xuất huỳnh quang:
FMOC-Cl.
- Đường chuẩn: 1-1000ng/mL.
Huỳnh
quang
5
[27]
HT
người
Chromegabond
alkylphenol
- Pha động: MeCN-MeOH-
NH
4
CH

5µm), Norwark
USA
- Dung môi chiết: Ethyl acetat-
hexan (1:1).
- Pha động: MeCN-MeOH-đệm
phosphat 0,04M (52: 9:39).
- Tốc độ dòng: 1mL/phút.
- Đường chuẩn: 40-800ng/mL
Điện
hoá
8
[28]
HT
người
Zorbax SBICN
(150 x 4,6mm;
5µm).
- Dung môi chiết: Tert-butyl
methyl ether.
- Pha động: Na
2
HPO
4
50mM -
NaH
2
PO
4
50mM -MeCN -
MeOH; pH 6,5-7,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status