Bài tiểu luận môn quy hoạch và tổ chức giao thông đô thị - Pdf 23

TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI – CƠ SỞ II
HỆ CAO HỌC K21 – ĐỢT 2
   BÀI TIỂU LUẬN
MÔN QUY HOẠCH VÀ TỔ CHỨC
GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN :
PGS.TS NGUYỄN HUY THẬP
LỚP CAO HỌC :
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
GIAO THÔNG ĐÔ THỊ K21 – ĐỢT 2
HỌC VIÊN THỰC HIỆN :
ĐOÀN THỊ NGỌC THẠCH


2 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

Giao thông đô thị nắm giữ chức năng giao thông: liên hệ, vận chuyển, đi
lại, troa đổi thông tin giữa các khu vực, vùng, miền, các đô thị với nhau. Đồng
thời, giao thông đo thị là ranh giới phân chia của các khu vực chức năng: khu
công nghiệp, khu dân cư, khu hành chính…
Hệ thống giao thông đô thị ngoài nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, hành
khách trong đô thị, nó còn là một hành lang thông gió, tạo ra các dải cây xanh
góp phần cải tạo vi khí hậu, hỗ trợ đắc lực cho các công trình kỹ thuật : công
trình thoát nước, ga, nhiệt đồng thời góp phần tổ chức không gian kiến trúc
hai bên đường. Có thể nói giao thông đô thị đã đóng góp lớn vào vẻ đẹp của đô
thị và cũng là động lực mạnh, thúc đẩy nền kinh tế đô thị phát triển.
Chức năng của mạng lƣới đƣờng đô thị và công trình đƣờng đô thị.
Chức năng của mạng lưới đường đô thị:
▣ Chức năng giao thông: đây là chức năng chủ yếu của đường phố. Trong các
đô thị hiện đại, đường phố là một công trình giao thông rất phức tạp, có nhiệm
vụ thỏa mãn tối đa các nhu cầu giao thông, cụ thể là:
- Đảm bảo liên hệ giao thông thuận tiện, nhanh chóng,với ddaonj đường
ngắn nhất và an toàn cao.
- Đảm bảo tổ chức các tuyên giao thông công cộng một các hợp lí.
- Liên hệ tốt giữa các khu vực ở đô thị như khu dân dụng với khu công
nghiệp, các khu nhà ở với khu trung tâm đô thị, nà ga, công viên,…
- Có khả năng phân bố lại các nguồn giao thông tại các đường phố trong
trường hợp một số đoạn đường có sự cố hoặc đang sữa chữa.
- Liên hệ mật thiết và thuận tiện với các đường ô tô và các khu vực bên
ngoài đô thị.
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
3 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

- Thỏa mãn những điều kiện phát triển giao thông của đô thị trong

và tổ chức đườgn phố và các bộ phận của chúng theo các nguyên tắc và
phương pháp nhất định nhằm đảm bảo một cách toàn diện vai trò của đường
phố trong đô thị. Để giải quyết tốt mọi chức năng của đường phố, người thiết
kế và xây dựng nó cần hiểu biết cụ thể các vấn đề quy hoạch và các công
trình của đường phố đồng thời phải nắm vững những vấn đề chung của công
tác xây dựng đô thị.
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
5 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

CHƢƠNG I: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
1.1 Khái niệm về giao thông đô thị
Giao thông đô thị là tập hợp các công trình, các phương tiện, các con
đường đảm bảo sự liên hệ thuận lợi giữa các khu vực trong thành phố với nhau
và giữa thành phố với các khu vực bên ngoài.
Hệ thống giao thông đô thị quyết định hình thái tổ chức không gian đô thị,
hướng phát triển đô thị, cơ cấu sử dụng đất và mối quan hệ giữa các khu vực
chức năng đô thị.
1.2 Phân loại các phƣơng tiên giao thông
1.2.1 Theo vị trí của đƣờng xa chạy đối với đƣờng phố
a. Giao thông đối ngoại
Giao thông đối ngoại bao gồm các mối liên hệ giữa đô thị với bên ngoài
như: liên hệ với các đô thị khác, với các khu công nghiệp tập trung, khu nghỉ
ngơi giải trí. Thành phần gồm có: đường ôtô, đường sắt, đường thủy và đường
hàng không.
- Đƣờng ôtô: Xuất hiện và phát triển nhanh ở cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ
XX. Đường ôtô ra đời là một sự kiện lớn trong quá trình phát triển đô thị, nó
tạo điều kiện hình thành và phát triển các đô thị lớn và rất lớn. Chiều rộng đô
thị đã mở rộng ra tới 20-30 km, các khu sản xuất đã rời xa nội thành và hình
thành các khu công nghiệp lớn. Đường ôtô có khả năng tiếp cận giao thông cho
đô thị ở mọi địa hình khác nhau rất thuận tiện.

7 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

+ Phương tiện giao thông công cộng: xe buýt, xe điện, tàu điện ngầm, tàu
hỏa
- Phương tiện giao thông hàng hóa: ô tô tải, tàu điện chở hàng, xe thô
sơ…
- Phương tiện giao thông đặc biệt: ô tô vệ sinh, ô tô cứu hỏa, xe quét
đường, xe tưới nước…
1.2.3 Theo đặc điểm xây dựng đƣờng xe chạy
- Giao thông đường ray.
- Giao thông không đường ray
1.2.4 Phân loại theo động cơ sử dụng
- Động cơ chạy điện
- Động cơ đốt trong…
1.3 Đặc điểm phát triển chung của hệ thống giao thông đô thị
Khi nghiên cứu đô thị, người ta thường chia quá trình phát triển giao thông
đô thị thành các giai đoạn sau:
1.3.1 Giai đoạn khởi đầu (giữa thế kỷ XIX về trước)
Giai đoạn này, giao thông phát triển chậm, kéo dài. Hệ thống đường sá
đơn giản, phương tiện thô sơ chủ yếu dựa vào sức súc vật kéo và sức gió. Cuối
thời kỳ này đã xây dựng được đường sắt nhưng vẫn dùng sức ngựa để kéo.
1.3.2 Giai đoạn hai (Từ thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX)
Giai đoạn này giao thông đô thị đã áp dụng được thành tựu của động cơ
hơi nước. Hệ thống giao thông đường sắt có động cơ ra đời. Thành quả này đã
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
8 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

góp phần thúc đẩy đô thị phát triển nhanh, nhiều đô thị quy mô đang chưa tới
1000 dân đã tăng vọt lên tới 2 triệu và hơn 2 triệu. Chiều rộng đô thị đang từ 2
- 3 km đã phát triển lên tới 10 -12 km, giai đoạn này quá trình đô thị hoá cũng

tinh,…).
- Xây dựng và phát triển giao thông đô thị phải đảm bảo sự quản lý tập
trung và thống nhất của nhà nước.
- Xây dựng và phát triển giao thông vận tải đô thị phải đảm bảo tính kế
thừa và từng bước tiến lên hiện đại hóa. Khi thiết kế đường phố trong đô thị
phải xét đến đầu tư phân kỳ trên cơ sở phương án tương lai. Có thể phân kỳ nền
đường, mặt đường, thoát nước, nút giao và các công trình giao thông khác trên
nguyên tắc không giảm thấp cấp kỹ thuật, tận dụng tối đa những công trình đã
làm ở giai đoạn trước, thuận lợi quản lý chỉ giới xây dựng, chỉ giới đường đỏ.
- Xây dựng và phát triển giao thông vận tải đô thị phải đảm bảo tính khả
thi và hiệu quả kinh tế xã hội cao.
2.2 Nội dung quy hoạch mạng lƣới đƣờng đô thị.
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
10 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

Quy hoạch giao thông vận tải đô thị là một trong những vấn đề cơ bản
nhất trong quy hoạch xây dựng thành phố với mục tiêu đảm bảo sự đi lại của
người dân được nhanh chóng, tiện lợi và an toàn.
▣ Các nội dung chính trong quy hoạch giao thông vận tải bao gồm:
- Quy hoạch mạng lưới đường ô tô, đường xe đạp, đường đi bộ và các
hành lang chuyên dụng khác (nếu có).
- Chọn phương tiện giao thông, quy hoạch vận tải hành khách và hàng
hóa.
- Bố trí bãi đỗ xe, nơi đỗ xe, garage, cây xăng.
Trong quy hoạch giao thông vận tải, tùy thuộc vào kế hoạch phát triển
mà chia ra thành các mức (5 mức):
+ Mức 1: quy hoạch tổng thể giao thông vận tải cho kế hoạch 30 – 40
năm.
+ Mức 2: quy hoạch và đăng ký với thành phố những vung đất dành cho
đường cho kế hoạch 15 – 20 năm.

- Địa hình: độ dốc mặt đất quy định, vị trí song suối, ao hồ,…
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
12 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

- Khí hậu, thủy văn: nhiệt độ, lượng mưa, hướng gió, vùng bị ngập lụt,
nước ngầm, nước mặt (xác định tần suất xuất hiện hướng gió, vẽ biểu đồ hoa
gió).
- Địa kỹ thuật: cấu tạo địa chất vùng thiết kế, vùng đất yếu, sụt lở.
- Vật liệu xây dựng: loại vật liệu có thể khai thác, vị trí, trữ lượng mỏ vật
liệu.
- Giá trị trồng trọt: cây nông nghiệp, cây công nghiệp, rừng,…
- Những gò bó khi thiết kế thi công.
b. Dân số:
- Tỷ lệ phát triển dân số, quy mô dân số trong tương lai.
- Phân bố dân số theo độ tuổi và nhu cầu đi lại của mỗi nhóm đối tượng.
- Quy mô hộ gia đình.
c. Lao động và việc làm:
- Nhu cầu đi lại và khả năng hấp dẫn thu hút người lao động ở các khu
phố.
- Lao động và việc làm được chia theo 3 khu vực:
+ Khu vực I: thuộc các ngành khai thác trực tiếp tài nguyên thiên nhiên
không qua khâu chế biến: trồng trọt, đánh cá, …
+ Khu vực II: các ngành công nghiệp và công nghiệp khai thác.
+ Khu vực III: các ngành thương nghiệp, dịch vụ, vận tải, hành chính,
giáo dục, y tế.
● Trồng trọt:
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
13 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

- Loại cây trồng;

- quy luật hàm mũ N
t
= N
0
.(1 + a)
t-1

- hoặc quy luật tuyến tính: N
t
= N
0
.(1 + A.t)
Trong đó:
N
t
– lưu lượng xe năm tương lai t (xe/ngđ)
N
o
– lưu lượng xe năm gốc (xe/ngđ)
A – hệ số công bội, xác định theo kinh nghiệm và có liên quan mật thiết
với tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế.
●Đối với giao thông cục bộ: Xác định tương tự như đối với giao thông quá
cảnh
● Đối với giao thông nội thành, nội bộ khu phố:
Lưu lượng xe tính toán trên các tuyến đường được xác định dựa trên số
lần đi lại của người dân và có thể xác định theo công thức kinh nghiệm sau:
T
ij
= T’
ij

B
)d(F
B
.A
T






1n
1
ij
jj
ij
jj
"
i
"
ij
)d(F
BA
)d(F
BA
.A
T

Trong đó:
A

HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
16 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

chuyến đi:
+ Đi làm D
1

+ Đi mua bán hàng ngày D
2

+ Mua bán đột xuất ở trung tâm thành phố D
3

+ Giáo dục: giáo viên, sinh viên, học sinh,… D
4

+ Đi làm ở các cơ quan hành chính của thành phố và TƯ D
5

+ Thăm hỏi (lý do khác) D
6

- Dựa trên phân tích tổng hợp số liệu điều tra của các phiếu điều tra tại các hộ
gia đình mà xác định được nhu cầu đi lại của người dân.
- Sau khi xác định được số lần đi lại, dựa vào phân tích đánh giá số liệu điều tra
về tập quán sử dụng phương tiện GTVT, tỉ lệ sử dụng xe cơ giới, xe đạp, xe
máy, đi bộ, xe công cộng tại các hộ gia đình hoặc số liệu điều tra trên một số
tuyến để xác định lưu lượng xe chạy.
2.3.3 Xác định cấp hạng và các tiêu chuẩn kỹ thuật:
Dựa vào lưu lượng xe chạy để xác định cấp hạng đường cho các tuyến

tục sử dụng lại đô thị cũ xuống cấp, hư hỏng, nhỏ bé theo thời gian.
- Những năm gần đây, Đảng ta đã mở ra những chủ trương đổi mới kinh
tế, nhằm đưa đất nước nhanh chóng tiến lên con đường hiện đại hoá đất nước.
Nhờ những chủ trương đúng đắn đó mà nền kinh tế đang đạt được những thành
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
18 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

tựu đáng khích lệ. Tăng trưởng kinh tế ngày càng cao và trào lưu đô thị hoá
cũng phát triển mạnh.
- Đứng trước tình hình đó, chúng ta bắt buộc phải nỗ lực giải quyết
nhanh chóng những vấn đề của đô thị .
▣ Nếu nhìn nhận vấn đề và đánh giá một cách toàn diện, chúng ta dễ dàng
nhận thấy trong lĩnh vực giao thông ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập, được
biểu hiện tập trung ở hai hiện tượng chính:
- Thứ nhất, là hiện tượng tai nạn giao thông. Hàng năm, ở nước ta xảy ra
hàng chục nghìn, thậm chí vài chục nghìn tai nạn giao thông, cướp đi sinh
mạng của trên một chục nghìn người, làm bị thương khoảng chục nghìn người
khác và làm hỏng hàng nghìn phương tiện giao thông các loại, gây thiệt hại về
kinh tế xấp xỉ 1 tỷ USD/năm, đó là chưa kể đến những tổn thất về tinh thần,
tình cảm ở những gia đình có người thân bị tai nạn giao thông: hàng nghìn
người đang khỏe mạnh bỗng dưng trở thành tàn tật, hàng chục nghìn trẻ em bị
mồ côi cha mẹ, hàng nghìn người lao động chính của gia đình bỗng trở thành
người không có khả năng lao động hoặc bị mất đi hết sức bất ngờ, để lại gánh
nặng cho gia đình và xã hội. Những tổn thất này vô cùng lớn lao và khó có thể
tính hết được.
Thứ hai, là hiện tượng ùn tắc giao thông ở các đô thị, thành phố lớn như:
Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM. Hiện tượng ùn tắc giao thông cũng gây nên
nhiều khó khăn cho nền kinh tế đất nước, gây nên những bức xúc trong dân
chúng vì chậm giờ làm, giờ học, vì hao tổn xăng dầu, vì ô nhiễm môi trường
bởi khói bụi và tiếng ồn làm ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe của


thể trước, đa số đều phát triển một cách tùy tiện thể hiện qua: kích thước, khổ
đường, lộ giới,…rất khác nhau ở từng khu vực.
Ở những khu nội thành đã phát triển lâu, mạng lưới đường dày đặc như
quận 1, 3, 5. Ở những khu nôi thành mới phát triển như Tân Bình, Vò Vấp, Phú
Nhuận, Quận 8 có rất ít các trục đường chính.
▣ Đánh giá về chất lượng mặt đường: Phần lớn giao thông trong thành phố đã
được nang cấp giúp giao thông thuận lợi, giảm bụi bẩn và tiếng ồn. Tuy nhiên
việc đào xới nhiều tuyến đường cho viêc lắp đặt, sữa chữa các công trình ngầm
như cáp quang, ống cấp nước…làm chất lượng mặt đường giảm đi rất nhanh,
tình hình giao thông bị cản trở, nạn kẹt xe, tai nạn phổ biến tại các các con
đương này vào giờ cao điểm. Hiện nay, thành phố vẫn chưa giải quyết được
nạn ngập lụt vào mùa mưa và triều cường. Đây cũng là nghuyên nhân gây ùn
tắc giao thông.
▣ Đánh giá về mạng lưới đường,hẻm, nút giao thông: Nhiều tuyến đường,
hẻm bị chiếm dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: làm nơi họp chợ, nơi
bán hàng ăn và nước giải khát, bãi đỗ xe, bến xe ôm…càng làm nạn ùn tắc giao
thông xảy ra thường xuyên hơn.
Tại các nút giao thông, nạn ùn tắc giao thông làm xe cộ tràn lấn sang hai
ben vỉa hè, thành một nút chai kín không thể giải tỏa được. Hầu như trên 90%
các đoạn đường, giao lộ đều có xảy ra ùn tắc giao thông vào các giờ cao điểm.
▣ Đánh giá về mạng lưới đường, metro, xe buýt:
- Đất dành cho giao thông thấp, giao thông không đồng đều trên địa bàn thành
phố.
- Kích thước mặt đường hẹp, gây khó khăn tròn di chuyển của các xe lớn.
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
21 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

- Hệ thống đường vành đai đa được vạch định hưng hầu hết đang trong quá
trình xây dựng.

giao thông tăng nhưng bến bãi hầu như không thay đổi, phương tiện giao thông
tăng nhưng trình độ người điều khiển kém, phương tiện giao thông tăng nhưng
trình độ tổ chức quản lý không tăng.
Muốn xây dựng được văn hóa giao thông và giải quyết được những vấn
nạn giao thông trên phạm vi toàn quốc, chúng ta cần phải tập trung giải quyết
những vấn đề bất cập trên.
- Giao thông Việt Nam mang nét của văn minh nông nghiệp, văn hóa
xóm làng. Trước hết, chúng ta phải khẳng định người nông dân Việt Nam có
nhiều đức tính tốt như: cần cù lao động, giản dị, tiết kiệm, thông minh linh
hoạt, sống nặng về tình cảm… Nhưng khi bước vào xã hội văn minh, thực hiện
sự chuyển biến từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp, từ văn
hóa xóm làng sang văn hóa đô thị thì họ lại gặp phải quá nhiều khó khăn và hạn
chế.
Suốt đời, người nông dân trước kia chỉ sống trong lũy tre làng, gắn bó
với ruộng đồng, vườn tược, rất ít khi đi xa làng quê của mình. Nếu có phải đi
chợ huyện, hoặc đi thăm họ hàng bên ngoại thì họ đi bộ là chủ yếu và để cho
quãng đường ngắn lại, họ luôn luôn tìm những con đường ngắn nhất, đó là
những con đường tắt đi qua sân vườn nhà hàng xóm hoặc băng qua cánh đồng.
Cách ứng xử của người nông dân là thích nghi với mọi hoàn cảnh sao cho năng
lượng tốn ít nhất, đầu tư thấp nhất mà hiệu quả lại cao.
Tâm lý tiết kiệm và cách thức đi ngang về tắt của người nông dân khi
hòa nhập vào văn hóa đô thị lại tỏ ra không thích hợp và có nhiều bất cập.
HVTH: Đoàn Thị Ngọc Thạch
23 Cao học Kỹ thuật XDCT GTĐT- K21.2

Từ nông thôn lên thành thị, nhiều nông dân không thuộc đường nên đã
gây ra rất nhiều phiền toái cho họ và những người tham gia giao thông vì họ
thường bị lạc đường hoặc phải dừng, đỗ liên tục để hỏi đường. Mặt khác giao
thông đô thị phải tuân thủ theo pháp luật nghiêm khắc, còn giao thông nông
thôn lại theo lệ làng. Nghĩa là những người tham gia giao thông ở làng quê dựa

nhanh chóng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Đây là một
sự nghiệp lớn lao, mang tầm xã hội rộng lớn đòi hỏi sự đồng tâm hiệp lực của
toàn dân từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi, từ đồng bằng
đến miền biển đảo. Quá trình đó, các nước châu Âu thực hiện trong khoảng
200-300 năm mới thành công, còn chúng ta mới thực hiện trong khoảng 30
năm. Chính vì vậy, bên cạnh rất nhiều thành tựu to lớn mà nhân dân ta đã thực
hiện được, hiện nay vẫn còn khá nhiều hạn chế, bất cập mà chúng ta cần phải
kiên quyết phấn đấu để những nhân tố mới, nhân tố tiến bộ, tích cực được
khẳng định và loại trừ những nhân tố tiêu cực, lạc hậu trong xây dựng xã hội
nói chung và xây dựng văn hóa giao thông nói riêng để sự nghiệp xây dựng đất
nước giàu mạnh đi đến thành công.
▣ Các giải pháp:
- Nhà nước tâp trung vốn đầu tư xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới
đường giao thông trong khu vực nội thành, tập trung xây dựng đầy đủ các nút
giao thông. Đẩy nhanh tốc độ thi công nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng và
phải cung cấp vốn, nguyên liệu đến tận chân công trình chứ không qua nhiều
khâu trung gian làm chậm trễ tiến độ thi công.
- Cấm xe tải, ba gác, xích lô (trừ hoạt đông tham quan, du lịch) tham gia
lưu thong tren các tuyến đường nội thành, vào giờ cao điểm, ban ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status