Như chúng ta đã biết, quy hoạch phát triển các ngành là cơ sở cho việc
lập các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn của ngành. Quy hoạch phát triển ngành
phải được nghiên cứu dài hạn, đồng bộ, phù hợp với chiến lược phát triển
chung của cả nước và trên vùng lãnh thổ. Thấy rõ tầm quan trọng của công
tác quy hoạch nói chung, quy hoạch ngành nói riêng , Chính phủ đã có Chỉ thị
32/1998/CT-TTg ngày 23 tháng 9 năm 1998 về công tác quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đến năm 2010. Thời gian qua các Bộ ,
ngành cũng như các viện nghiên cứu đã tiến hành xây dựng quy hoạch phát
triển các ngành chủ chốt, đã có những kết quả nhất định . Tuy nhiên do nhiều
nguyên nhân, đặc biệt là chưa có sự thống nhất về trình tự cũng như nội dung
lập quy hoạch, nên kết quả quy hoạch còn hạn chế.
Vì vậy, nhóm chúng tôi trình bày lý luận để xây dựng một bản quy
hoạch phát triển ngành đồng thời phân tích thực tiễn thông qua một bản quy
hoạch cụ thể. Đó là bản quy hoạch kết cấu hạ tầng – Quy hoạch ngành Bưu
chính viễn thông tại địa bàn tỉnh Sơn La.
1
PHẦN THỨ NHẤT
LÝ LUẬN CHUNG
I. Khái niệm
Để nghiên cứu sâu hơn về quy hoạch phát triển ngành chúng ta cần làm
rõ một số khái niệm:
- Qui hoạch: Là một công cụ quản lý phát triển thể hiện bố trí về chiến
lược trong không gian theo các ngành, vùng lãnh thổ. Nó là sự cụ thể hoá để
phát triển chiến lược ,là cơ sở cho việc định hướng kế hoạch 5 năm và hàng
năm.
- Qui hoạch phát triển: Là một hoạt động nhằm cụ thể hoá chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của cả đất nước và các vùng lãnh thổ nhằm xác định
một cơ cấu ngành không gian của quá trình tái sản xuất xã hội thông qua việc
xác định các cơ sở sản xuất phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống nhằm không
ngừng nâng cao mức sống dân cư ,hợp lý hoá lãnh thổ và phát triển kinh tế
bền vững.
+ Kết cấu hạ tầng cứng: Là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật mà
kết quả hoạt động của nó là dịch vụ có chức năng phục vụ trực tiếp cho quá
trình sản xuất và đời sống dân cư được bố trí trên lãnh thổ nhất định như: các
ngành kinh tế, các ngành công nghệ, dịch vụ bao gồm việc xây dựng đường
sá, công trình thủy lợi, hải cảng, sân bay, kho tàng, cung cấp năng lượng, cơ
sở kinh doanh, cơ sở giáo dục, y tế, khoa học.
Quy hoạch phát triển các ngành thuộc kết cấu hạ tầng có thời gian định
hướng quy hoạch là 20 năm hoặc xa hơn. Quy hoạch các ngành thuộc kết cấu
hạ tầng kinh tế được định vị và có tính ổn định.
3
II. Vai trò của qui hoạch phát triển ngành, lĩnh vực
Qui trình kế hoạch hoá của Việt Nam khi bước vào cơ chế thị trường
được xác định là từ xây dựng chiến lược - qui hoạch - kế hoạch phát triển
kinh tế xã- hội. Trong đó qui hoạch là bước cụ thể hoá của chiến lược. Nếu
chiến lược phát triển là vạch ra các đường nét hướng đạo cho sự phát triển
trong một thời gian dài thì qui hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố trí
chiến lược về thời gian và không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ
chức để chủ động hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
- Vai trò của quy hoạch ngành trước hết là sự thể hiển của chiến lược
trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Quy hoạch ngành là để
định hướng, dẫn dắt, hiệu chỉnh các hoạt động của các ngành kinh tế theo xu
hướng chung của thế giới, khu vực phù hợp với mục tiêu phát triển của quốc
gia.
- Quy hoạch ngành là cơ sở tiền đề để xây dựng các kế hoạch trung hạn,
ngắn hạn và hàng năm.
- Qui hoạch ngành là cơ sở đánh giá các tiềm năng phát triển một cách
chuẩn xác và cụ thể hơn. Đồng thời trên một mức độ nào đó sẽ lượng hoá các
nguồn lực phát triển, có thể khai thác từ các nguồn tiềm năng, thiết lập cơ cấu
phát triển ngành, làm cơ cở xây dựng các chương trình dự án, chính sách thực
hiện các mục tiêu chung của ngành.
tỷ lệ số lao động có tay nghề so với số lao động phổ thông. Một tỷ số hợp lý
giữa các trình độ chuyên môn: trên đại học, đại học, trung học chuyên nghiệp,
công nhân kỹ thuật, công nhân không có tay nghề cũng nói lên chất lượng của
đội ngũ lao động.
+ Điều kiện môi trường là dạng tài nguyên thiên nhiên đã được con con
người sử dụng và cải tạo từng bước cùng với quá trình sống và hoạt động của
con người.
5
Môi trường bao gồm: môi trường vật chất và môi trường tinh thần. hoặc
có thể phân chia ra thnàh môi trường sản xuất, môi trường đời sống và môi
trường phát triển.
Điều kiện môi trường có ý nghĩa to lớn trong công tác quy hoạch phát
triển, bởi vì trong những môi trường thuận lợi các yếu tố nguồn lực, các hoạt
động sản xuất và đời sống mới phát huy được ở mức cao những hiệu quả của
mình. Trong các hoạt động sản xuất và đời sống, không chỉ các yếu tố môi
trường vật chất như kết cấu hạ tầng, điều kiện cung cấp nguyên liệu… có ý
nghĩa, mà các yếu tố môi trường tinh thần như tâm lý sản xuất, phong tục tập
quán, tình đoàn kết hữu ái, tính cộng đồng… cũng có ý nghĩa lớn và trong
nhiều trường hợp mang tính chất quyết định.
Trong các yếu tố môi trường phát triển như vị thế địa lý, tính thuận lợi
trong giao thông, tính nhanh chóng và thuận tiện trong tiếp nhận thông tin,
trao đổi công nghệ có ý nghĩa rất lớn. Nhiều địa phương không có nhiều các
nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng với vị thế địa lý thuận lợi như Singapore,
Hồng Kông đã có tốc độ phát triển nhanh và có nền kinh tế tương đối phát
triển.
+ Tài sản bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tài sản tinh thần và
tài sản vật chất. Tài sản là một trong những nguồn lực của quy hoạch.
Các chính sách và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của
Đảng, các cấp chính quyền cũng là nguồn tài sản lớn để chúng ta sử dụng
trong quy hoạch phát triển ngành.Các chủ trương, chính sách phù hợp vừa là
cấu hạ tầng đầy đủ, thuận lợi đảm bảo cho sản xuất và đời sống phát triển tốt.
Ngược lại, kết cấu hạ tầng thiếu thốn, lạc hậu là yếu tố kìm hãm đối với phát
triển sản xuất và đời sống. Trong công tác quy hoạch các kết cấu hạ tầng vật
chất kỹ thuật không những cần được phân tích, tính toán đầy đủ cho nhu cầu
về khối lượng mà còn tính toán đến sự phân bố hợp lý, cả về trong không gian
và thời gian, sự vận hành thông suốt, sự sử dụng với hiệu suất cao và tiết
kiệm.
- Lịch sử phát triển ngành
7
IV. Sự cần thiết của quy hoạch phát triển ngành
- Do xã hội có nhiều thành phần kinh tế, nhiều chủ thể kinh tế khác nhau
với mục tiêu hoạt động của chủ thể là theo đuổi lợi ích tối đa cho bản thân
chủ thể đó, không quan tâm đến lợi ích xã hội do đó cần có quy hoạch về : dự
kiến bố trí địa điểm, không gian sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng
đảm bảo lợi ích xã hội tốt nhất và tạo điều kiện tốt cho hoạt động của tất cả
các thành phần kinh tế.
- Có đánh giá được hiện trạng sử dụng đất vầ các thu nhập khác dự kiến
được sử dụng đất, thay đổi cơ cấu sử dụng đất làm căn cứ cho nhà quản lý
nắm được số lượng đất đai hiện còn lại và hướng mở rộng không gian sử
dụng đất cho tương lai trước mắt và lâu dài.
- Bản quy hoạch cũng là căn cứ khoa học và thực tiễn, là nguồn cung cấp
thông tin mặt thực trạng phát triển kinh tế của các ngành các lĩnh vực và
nguồn lực, tài nguyên lao động, hợp tác trong vùng và quốc tế về dự kiến nhu
cầu các sản phẩm chủ yếu và khả năng đáp ứng từng nhu cầu đó trong từng
giai đoạn phát triển để nhà đầu tư nghiên cứu đưa quyết định quy mô, vị trí,
công nghệ, thời điểm đầu tư của doanh nghiệp. Bản quy hoạch kết cấu hạ tầng
còn làm cơ sở để nhà nước xem xét,quyết định đầu tư các dự án, các công
trình kết cấu hạ tầng của địa phương.
Sự cần thiết của quy hoạch bưu chính viễn thông
- Quy hoạch tạo ra hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện tiên quyết để
BCVT thống nhất, đồng bộ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy
hoạch các ngành trong tỉnh. Trên cơ sở đó xác định những mục tiêu định
hướng phát triển các lĩnh vực và các dự án trọng điểm cần ưu tiên đầu tư tập
trung để nhanh chóng phát huy hiệu quả, đề xuất các giải pháp cụ thể để huy
động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện các dự án về BCVT;
Đồng thời làm cơ sở để nhà nước xem xét, quyết định đầu tư các dự án, các
9
công trình BCVT trên địa bàn tỉnh; Làm cơ sở để các doanh nghiệp kinh
doanh BCVT lập kế hoạch phù hợp với quy hoạch chung của ngành và của
tỉnh; thúc đẩy phát triển và phổ cập dịch vụ BCVT trên địa bàn tỉnh, góp phần
nâng cao đời sống nhân dân.
V. Yêu cầu của quy hoạch phát triển ngành
- Quy hoạch phát triển ngành phải có căn cứ khoa học, tránh chủ quan
duy ý chí; quy hoạch phải thể hiện được tính cân đối và tính hiệu quả trong
phát triển.
- Quy hoạch phát triển các ngành sẽ được xây dựng trước làm cơ sở cho
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nước, của vùng, của tỉnh,
thành phố.
- Quy hoạch phát triển ngành phải có tầm nhìn dài hạn phù hợp với đặc
điểm phát triển ngành, đồng thời phải có bước đi cụ thể từng giai đoạn.
- Quy hoạch phát triển ngành phải được phối hợp liên ngành có liên
quan, xác định được mối quan hệ tương hỗ, tránh chồng chéo, hạn chế lẫn
nhau giữa các ngành.
- Khi cần thiết, quy hoạch phát triển ngành cần được điều chỉnh cho phù
hợp với tình hình và bối cảnh mới.
VI. Các căn cứ để lập quy hoạch phát triển ngành
Để xây dựng một bản quy hoạch phát triển ngành cần căn cứ vào khá
nhiều cơ sở. Điều này mục đích để bảo đảm tính khoa học, khách quan. Tuy
nhiên nếu vận dụng không tốt thì sẽ dễ gây nên hiện tượng chồng chéo về mặt
thông tin. Có thể nêu ra 1 số căn cứ để xây dựng 1 bản quy hoạch như sau:
VII- Sản phẩm của quy hoạch ngành
Kết quả của quy hoạch ngành gồm:
- Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển ngành trong thời kỳ quy hoạch.
- Báo cáo tóm tắt: Đây là tóm tắt nội dung chính của quy hoạch phát
11
triển ngành. Trình bày các chỉ tiêu chủ yếu của quy hoạch phát triển ngành.
Bản tóm tắt ngắn gọn, không giải trình dài dòng, cần đưa ra những quyết định
và các giải pháp chính cho quy hoạch.
- Các báo cáo chuyên đề: Bao gồm các báo cáo về hiện trạng và phương
hướng phát triển các yếu tố, phân ngành phục vụ cho việc xây dựng quy
hoạch tổng thể. Số lượng các chuyên đề phụ thuộc và từng ngành cụ thể.
- Hệ thống biểu mẫu: Gồm các số liệu thống kê và kết quả tính toán trình
bày theo các biểu, bảng rõ ràng, dễ hiểu, nội dung không trùng lặp và phải có
nguồn số liệu đi kèm.
- Hệ thống bản đồ: Bản đồ thể hiện hiện trạng và phân bố ngành. Tỷ lệ
và số lượng bản đồ tùy vào mức độ yêu cầu của từng ngành cụ thể
- Phụ lục: Phần phụ lục bao gồm các số liệu, bảng biểu, biểu đồ, được
chia ra thành 2 phần: phần hiện trạng và phần phương hướng. Ngoài ra cần có
phụ lục tính toán hiệu quả đầu tư, tính cạnh tranh của sản phẩm.
* *
*
12
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG CHỦ YẾU
A. ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN
I. Mục đích:
-Chỉ ra những nhân tố cần thiết cho sự phát triển ngành
-Đánh giá khả năng tác động của các yếu tố nguồn lực đối với sự phát
triển ngành
-Đánh giá vai trò của ngành trong hệ thống nền kinh tế quốc dân và tính
nhiên, nguyên liệu, cung cấp điện, nước, lao động. Đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố đầu vào đối với sự phát triển của ngành cần quan tâm
tới các chỉ tiêu sau:
- Đánh giá các điều kiện khí hậu, đất xây dựng, thủy văn…có ảnh
hưởng tới sự phát triển ngành.
- Thống kê các nguồn nguyên liệu( điện, than, sắt…) cung cấp cho ngành.
- Xác định trữ lượng các loại nguyên, nhiên, vật liệu cần thiết cho
ngành.
- Các nguồn cung cấp vốn
- Lực lượng lao động lành nghề cho ngành.
Sau khi phân tích các chỉ tiêu cần rút ra được các kết luận sau:
+ Mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên là tích cực hay tiêu cực,
thuận lợi hay bất lợi đến sự phát triển của ngành.
+ Khả năng cung cấp nguyên liệu từ khoáng sản cho sản xuất ngành là
dồi dào, trung bình hay khan hiếm
+ Đánh giá mức độ cung cấp nguyên liệu nông, lâm, ngư nghiệp cho
phát triển ngành( thuận lợi/khó khăn)
+ Đánh giá điều kiện đầu tư vốn cho ngành (thuận lợi/khó khăn)
14
+Khả năng cung cấp lao động lành nghề cho ngành (nhiều/ trung bình/ ít)
3. Phân tích ảnh hưởng của bối cảnh thế giới đến phát triển ngành
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế đến sự phát triển của
ngành phải quan tâm đến những vấn đề sau :
+ Ý kiến đánh giá của các chuyên gia chuyên ngành
+ Quan điểm của các chuyên gia kinh tế đánh giá chung về ngành ;
+ Khảo sát các số liệu cơ bản theo các chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động của
ngành trên thế giới và khu vực
+ Xếp hạng mức độ cạnh tranh của sản phẩm
Từ đó rút ra những nhận định cơ bản sau
+ Tình hình phát triển ngành trên thế giới (nhanh/chậm)
- Đưa ra về kết luận các kết quả đạt được, khó khăn gặp phải, những
nguyên nhân chính và hướng giải quyết.
II. Yêu cầu cơ bản
Đánh giá hiện trạng phát triển ngành không mô tả chung về thành tích và
khó khăn.Khi đánh giá hiện trạng phát triển ngành phải đạt đựơc các yêu cầu sau:
- Đánh giá trình độ phát triển ngành theo tương quan với các ngành cũng
như đối với cùng ngành trên thế giới.
- Đánh giá bối cảnh chung và mức độ cạnh tranh của ngành, sản phẩm
trong nền kinh tế quốc dân.
- Rút ra bài học (Những quy luật phát triển) của ngành trong thời gian
qua.Xác định những điểm cần phát huy hoặc cần khắc phục trong thời gian tới.
- Những kết quả rút ra từ phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển phải là
một trong những cơ sở để đề ra mục tiêu và phương hướng cần khắc phục
hoặc phát huy trong giai đoạn tới.
III- Nội dung cụ thể
1. Đánh giá về quy mô và mức độ phát triển ngành thông qua các
chỉ tiêu phát triển chung để xác định rõ sự phát triển của ngành trong
5-10 năm qua.
Các chỉ tiêu cần tính toán như sau:
- GTSX (theo giá cố định và giá hiện hành) qua các năm, theo các
16
hoặc các phân ngành.
- Số lượng các loại nguyên liệu cung cấp cho ngành.
- Nhịp độ tăng trưởng GTSX theo các thời kỳ 5 năm phân theo sản
phẩm hoặc theo các phân ngành
- GDP (tính theo giá cố định và giá hiện hành) qua các năm theo
các sản phẩm hoặc theo các phân ngành.
- Nhịp độ tăng trưởng GDP theo các thời kỳ 5 năm, phân theo sản
phẩm hoặc các phân ngành.
- Diện tích năng suất sản lượng các sản phẩm chủ yếu theo các