nghiên cứu điều kiện lưu giữ và lựa chọn thức ăn phù hợp trong quá trình ương nuôi ban đầu cá chình hương sau khi thu vớt - Pdf 23

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh
mẽ, góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Trên cơ sở
đó nghề nuôi cá nước ngọt cũng đang trên đà đa dạng hóa về giống loài và
hình thức nuôi. Một số loài cá đặc sản nước ngọt như cá Tầm, cá Anh Vũ, cá
Chình, cá Chiên, cá Lăng … đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu.
Trong số đó, cá chình được coi là loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế
nhất. Thịt cá chình thơm ngon, giàu protein, giàu vitamin, các acid amin và
các acid béo thiết yếu Bên cạnh đó, thịt cá chình còn được xem như là một
nguồn dược liệu quý hiếm. Hiện nay giá cá chình hoa loại 0,5 - 1kg/con
khoảng 300 - 320 ngàn đồng/kg; loại 1 - 2 kg/con từ 360 - 380 ngàn đồng/kg;
trên 2 kg/con có thể mua từ 280.000 -300.000 đồng/kg. Cỡ cá chình hoa giống
loại 20 - 30 con/kg từ 480 - 500 ngàn đồng/kg. Cá chình phân bố rộng từ vùng
nhiệt đới đến ôn đới của vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, từ Đông
châu Phi đến quần đảo Polynesia, từ Bắc tới Nam Nhật Bản. Ở Việt Nam, Cá
chình hoa phân bố từ Hà Tĩnh đến Bình Định. Nhu cầu tiêu thụ cá chình ngày
càng lớn. Hằng năm, một lượng lớn cá chình được tiêu thụ ở Trung Quốc,
Nhật Bản, các nước EU Ở Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ loài thủy đặc sản này
cũng ngày càng tăng, song song với quá trình nâng cao mức sống của người
dân.
Nuôi cá chình trở thành một nghề có hiệu quả kinh tế cao từ những năm
2000, cá chình được nuôi nhiều ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và các
tỉnh miền Trung, nghề nuôi loài cá đặc sản này đã đem lại lợi ích về kinh tế rất
đáng kể cho các hộ nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, việc nuôi cá chình gặp
phải khó khăn trong việc chủ động con giống, bởi vì cá chình chỉ có nguồn
giống duy nhất từ tự nhiên. Việc thu vớt cá chình thường gặp nhiều khó khăn
từ kỹ thuật thu gom đến việc vận chuyển, lưu giữ và ương nuôi ở giai đoạn
đầu. Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào hoàn thiện để phổ
biến một quy trình đầy đủ về thu vớt, vận chuyển, lưu giữ và ương nuôi.
Trước mối quan tâm đó, tôi đã tiến hành “nghiên cứu điều kiện lưu giữ và

(từ tháng 4 đến tháng 8) có ảnh hưởng của gió Tây Nam tạo nắng nóng khô,
tuy nhiên do được điều hoà bởi Biển Đông nên khí hậu Quảng Bình về đêm
khá mát mẻ. Nhiệt độ trung bình của mùa khô là 24-25
o
C; các tháng nóng nhất
của mùa khô là tháng 6,7 và 8 nhiệt độ có thể lên đến trên 38-39
o
C.
Quảng Bình có nhiều sông suối cắt ngang và đổ ra biển, đây là điều kiện
rất thuận lợi cho cá chình tập trung sinh sản và phát triển,đồng thời điều kiện
khí hậu cũng khá thích hợp cho quá trình ương nuôi.
2.2. Vị trí phân loại và đặc điểm sinh học của cá chình hoa (Anguilla
marmorata)
2.2.1. Vị trí phân loại
Theo Nguyễn Hữu Phụng, 2001 cá chình có vị trí phân loại như sau:
Lớp : Osteichthyes
Phân lớp : Acfinopterygill
Bộ : Anguilifomes
Phân bộ : Anguilloidei
Họ : Anguillidae
Giống : Anguilla
Loài : Anguilla marmorata (Quoy and Gaimard, 1824)
Tên địa phương: cá Chình bông (Miền Nam), Chình hoa (Miền Bắc),
Chình cẩm thạch, Chình khổng lồ.
Tên tiếng anh: Marbled eels, Giant mottled eels.
2.2.2. Đặc điểm hình thái
Hình 1: Bản đồ Quảng Bình
Thân cá Chình bông có hình trụ dài có vảy xếp dạng hình chiếc chiếu,
nhỏ, dạng trái xoan và vây chạy vùng quanh ngực. Đầu tròn, mắt bé, miệng
hơi chếch, môi dày, lưỡi tự do không dính vào đáy miệng mút nhọn của mõm

S. Một số vùng nó được liệt kê vào danh sách đỏ của
những loài đang bị đe dọa như ở Thái Lan, họ săn lùng Chình bông với mục
đích làm dược liệu.
Ở Việt Nam, cá chình bông phân bố từ Hà Tĩnh đến Bình Định, chủ yếu
tập trung ở các khu vực sau:
- Sông Ngàn Phố của Hà Tĩnh.
- Sông Gianh, sông Roòn, sông Nhật Lệ của Quảng Bình.
- Sông Thạch Hãn, sông Hiền Lương, huyện Triệu Phong, Đakrong, Khe
Sanh (Tà Rụt) tỉnh Quảng Trị.
- Sông Bồ, sông Hương và đầm Cầu Hai của Thừa Thiên Huế.
- Sông Trà Khúc và vùng Ba Tơ của Quảng Ngãi.
- Sông Con và sông Ba tỉnh Phú Yên.
- Hồ Đắc Uy tỉnh Kon Tum.
- Đầm Châu Trúc tỉnh Bình Định.
Cá chình hương và giống tập trung chủ yếu ở các cửa sông và đầm phá
ven biển. (Nguyễn Chung, 2008)
2.2.4. Điều kiện môi trường sống
Nắm rõ điều kiện môi trường sống, chúng ta sẽ có cơ sở để tìm ra biện
pháp lưu giữ, ương nuôi cũng như nuôi thương phẩm cá chình tốt nhất. Cũng
như các loài động vật thuỷ sản khác, cá chình cũng đòi hỏi các điều kiện môi
trường nhất định.
2.2.4.1 Nhiệt độ
Cá chình là loài cá có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, chúng chỉ có thể sinh
trưởng và phát triển bình thường khi nhiệt độ nằm trong khoảng 13 – 30
o
C.
Ngưỡng nhiệt độ tối đa mà cá chình có thể chịu đựng được là 38
o
C, nhiệt độ
tối thiểu là 1 – 2

o
C, với
trạng thái yên tĩnh, lượng tiêu hao theo kích cỡ cá. Ở nhiệt độ 10 – 30
o
C thì sự
tiêu hao oxy tăng theo nhiệt độ tăng, dưới 10
o
C và trên 30
o
C lượng tiêu hao
oxy có xu hướng giảm. Hàm lượng oxy hoà tan thích hợp cho cá chình là từ 5
– 10 mg/L (Atsushi Usui, 1991).
2.2.4.3 Độ mặn
Trong vòng đời của cá chình, ở mỗi giai đoạn khác nhau có sự đòi hỏi
khác nhau về độ mặn và tính thích ứng khác nhau.
Giai đoạn ấu trùng và tiền ấu trùng chúng sống trong nước mặn và nước
lợ. Đến giai đoạn cá chình con, chúng di cư dần vào các thủy vực nước ngọt.
Suốt giai đoạn trưởng thành chúng sống trong nước ngọt, thường từ 2 – 30
năm trước khi trở lại biển. Khi cá đến tuổi thành thục chúng di cư ra biển để
đẻ và cá mẹ chết sau khi đẻ xong (Atsushi Usui, 1991). Tuy nhiên do cá chình
là loài rộng muối nên chúng có thể sống và sinh trưởng ở cả nước mặn và
nước ngọt nhờ có khả năng điều tiết áp suất thẩm thấu của cơ thể.
2.2.4.4. Độ pH trong thủy vực
Trong tự nhiên cá chình có thể sống ở môi trường có giá trị pH từ 4 – 10,
pH thích hợp từ 6,5 – 8,5. Giá trị pH thích hợp nhất cho cá phát triển là từ 7,0
– 8,0 (Boestius, 1980; dẫn theo Chu Văn Công, 2006).
Ở Trung Quốc yêu cầu kỹ thuật của ao nuôi có giá trị pH từ 7,2 – 8,5, ở
Nhật Bản giá trị pH từ 7,0 – 9,0; pH dưới 7,0 bất lợi cho sinh trưởng của cá
chình (Atsuishi Usui, 1991).
2.2.4.5. Ánh sáng

thể bị chết.
Thức ăn của Chình bông phải đảm bảo protêin là 45%, lipid chiếm 3%,
cellulose 1%, calci 2,5%, phosphor 1.3% cộng thêm muối khoáng, vi lượng,
vitamin thích hợp. Nói chung tỷ lệ bột cá chiếm khoảng 70-75%, tinh bột 20-
25% và một ít vi lượng, vitamin.
Thức ăn của cá Chình có tỷ lệ bột khá cao, mỡ nhiều nên dễ hút ẩm, dễ
mốc, phải chý ý bảo quản tốt, thời gian bảo quản không quá 2 tháng. Cũng
như với các giống, khi cho ăn, thức ăn phải được thêm nước, thêm dầu dinh
dưỡng trộn đều làm thành loại thức ăn, mịn mới cho cá ăn.
Bảng 1: Các tỷ lệ thức ăn dầu, nước, phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ
Đơn vị: kg
Nhiệt độ Thức ăn Dầu Nước
15 - 20
0
C 100 3 - 5 110 – 130
20 - 23
0
C 100 5 - 7 110 – 130
23 - 30
0
C 100 7 - 10 110 – 130
Bảng 2:Thức ăn so với trọng lượng thân của Chình bông ở các giai đoạn
Cỡ cá Cá bột

hương

giống
Cá cỡ
nhỏ
Cá thương

chín mùi sinh dục thì di cư những đoạn đường rất xa ra biển khơi đến bãi đẻ.
Cá Chình thường đẻ vào mùa xuân đến giữa hè, nơi có độ sâu 400 - 500m
nước, nhiệt độ nước 16-17
0
C, độ mặn 35‰, cá Chình chỉ đẻ 1 lần trong năm.
2.3. Sơ lược kỹ thuật thu vớt cá chình giống
Kỹ thuật thu vớt có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, tỷ lệ sống cũng như
tốc độ tăng trưởng của cá trong quá trình lưu giữ và ương nuôi sau này.
2.3.1. Mùa vụ thu vớt
Cá chình bột mới nở còn ở dạng ấu thể hình lá liểu theo dòng hải lưu và
thủy triều trôi dạt vào vùng biển ven bờ, trong thời gian ngắn khoảng 15-20
ngày cá bột biến thành cá con có chiều dài thân khoảng 5-6cm, mảnh, thon
dài, màu trắng đục nên thường được gọi là chình lá liểu hay cá chình trắng.
Ban ngày cá nằm dưới đáy chui rúc vào các khe đá, rong, cỏ,… ẩn nấp, ban
đêm chui ra ngoài hoạt động và chờ khi có điều kiện thích hợp tập trung thành
đàn đi vào các cửa sông và di cư ngược dòng về các thủy vực nước ngọt ở sâu
trong nội địa. Thời điểm này là mùa vụ khai thác, thu vớt cá chình bột, cá
chình con để nuôi.
Cá chình giai đoạn này thường có kích cỡ 5-6cm, khối lượng khoảng
0,15-0,18g/con tương đương với 5500-7000con/kg.
Nhìn chung mùa vụ xuất hiện bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến cuối
tháng 4 năm sau. Nhưng tập chủ vào tháng 1 đến tháng 2, đặc biệt sau mùa lũ,
ở những ngày biển động nhẹ, có gió mùa Đông Bắc kết hợp với triều cường,
vào những ngày trời tối. Thời điểm di cư nhiều nhất ở chập tối đến 10-11 giờ
đêm, còn về sau thì giảm dần.
Tuy nhiên thời gian thu vớt trong 1 lần có thể có lẫn cá chình có kích cỡ
lớn hơn, do các đợt cá di cư các đợt trước trộn lẫn vào. Càng về cuối vụ kích
cỡ cá chình thu được càng lớn.
2.3.2. Ngư cụ sử dụng để thu vớt
Hiện nay có khoảng 3-4 loại ngư cụ khai thác, thu vớt cá chình trắng.

cá lớn thì loại ngư cụ này có vẻ chiếm ưu thế hơn bởi sự nhanh nhẹn và tiện
lợi của nó.
- Vợt lớn:
Vợt lớn là loại vợt được làm như vợt nhỏ nhưng đường kính vòng vợt
lớn hơn, khoảng 0,8-1m để xúc cá chình ẩn nấp dưới lớp cát sỏi, lớp rong rêu,
bụi cỏ,… ở đáy sông vào ban ngày.
Người dân dùng vợt cào mạnh vào đáy đưa cá và lớp cát sỏi… ở đáy
sông lên rồi đổ ra trên bờ để tìm kiếm cá chình.
Như vậy loại ngư cụ này vừa ít hiệu quả, vừa gây tổn hại đến sức khỏe
cá chình và hệ sinh thái thủy sinh. Ngư cụ này không sử dụng phổ biến, chỉ sử
dụng để thu cá chình thêm vào ban ngày.
- Lưới đáy mịn:
Ngoài các phương pháp thủ công trên, còn có phương pháp sử dụng lưới
đáy. Hình thức này chưa phổ biến vì các lý do sau:
+ Là lưới đáy, đóng hướng miệng ra biển để chặn đường di cư của cá
chình từ biển vào sông do vậy chỉ đóng phù hợp khi có triều cường.
+ Sóng, gió thủy triều lớn rất vất vả cho người sử dụng.
+ Thời gian khai thác ngắn chỉ 4-6 giờ/ngày vì liên quan tới chế độ thủy
triều.
+ Năng suất khai thác thấp, chỉ từ 1-30con/1 lưới/đêm lẫn nhiều đối
tượng khác và rác thải.
Lưới đáy thường đặt cố định có dạng hình túi gồm 2 cánh lưới và 1 túi
đáy. Cánh lưới được kết ráp từ nhiều tấm lưới có mắt lưới đồng cỡ 2a = 2mm.
Hàm trên cánh lưới kết dây giềng gắn các phao nhựa lớn để miệng lưới trên
nổi trên mặt nước, hàm dưới cánh lưới kết dây giềng có gắn chì để đủ nặng
kéo miệng lưới mở rộng ra chìm sát đáy. Cánh lưới dài từ 15-20m, miệng lưới
mở rộng 10-15m.
Túi đáy hình tròn, dài, trước lớn hơn sau. Túi đáy có 2 phần, phần trước
nối từ cuối thân cánh lưới dài 1,5-2m, phần sau dài 2-2,5m. Miệng cuối túi đáy
kết dây giềng thắt nút tháo mở được và được buộc với neo để cố định đáy.

ra biển nhiều làm thay đổi độ mặn ở cửa sông, đây là yếu tố nhạy cảm cuốn
hút cá chình ngược dòng di cư vào sông.
Nơi cá chình tập trung nhiều nhất là vùng tiếp giáp giữa vùng nước ngọt
và vùng nước mặn (nước lợ). Vì vậy ngư dân thường chọn những vùng này để
thu vớt cá chình trắng.
Tuy nhiên cá chình trắng có thể xuất hiện từ cửa sông đến chân đập thủy
lợi. Tùy theo đập thủy lợi xa hay gần cửa biển.
Đối với những dòng sông không có đập thủy lợi chắn ngang, cá chình
trắng thường xuất hiện từ 1-5km tính từ biển vào.
Người dân thường đặt ngư cụ thu vớt nơi có dòng chảy nhẹ, ven bờ
sông, tương đối kín gió và độ sâu từ bờ ra đến độ sâu khoảng 2m trở lại.
Thường là những bãi bồi và những gò cát giữa sông, còn những bờ sông lở do
dòng chảy xiết và nguy hiểm nên không có người khai thác. Theo kinh nghiệm
vào mùa này cá tập trung chủ yếu ở bờ Bắc, nơi kín gió.
2.4. Các phương pháp lưu giữ cá chình hương sau thu vớt
Cá chình giống vừa thu vớt được cho vào thùng chứa có sục khí. Lúc
này có lẫn nhiều rác bẩn và cá tạp lẫn lộn. Khi chuyển vào bờ cần sàng lọc,
sau đó đưa vào nuôi tạm để cá thải hết phân trong ruột ra.
Việc nuôi tạm cá chình trong thời gian ngắn 2-3 ngày có thể thực hiện
như sau:
- Nuôi khô và phun nước:
Cá thu được chứa trong thùng nhựa hay gỗ, cách 1-2 giờ phun nước một
lần để giữ cho da cá luôn có độ ẩm, tạo thuận lợi cho cá hô hấp bằng da. Có
thể nuôi tạm trong 2 – 3 ngày, tỷ lệ sống 80-90%. Tuy nhiên cá bị yếu sức
nhiều do phải sống trong môi trường không nước, một số bộ phận của cá bị ức
chế, ảnh hưởng khi thả nuôi sau này.
- Nuôi trong giai
Dùng giai lưới có kích thước khoảng 200 x 100 x 150 cm, mắt lưới 10
lỗ/cm
2

12 7 – 8
13 – 15 5 – 6
16 – 27 3 – 4
Trong điều kiện hàm lượng oxy trên 4 mg/lít và pH từ 7 – 8, công tác
chăm sóc và làm vệ sinh tốt, mỗi ngày thay 1/3 nước, tập luyện cá ăn mồi, thời
gian nuôi là 30 – 50 ngày, tỷ lệ sống đạt 95%, cá vẫn tăng trưởng tốt.
2.5. Tình hình nghiên cứu cá chình trên thế giới
2.5.1. Tình hình ương nuôi cá chình trên thế giới
Trên thế giới hiện nay việc nuôi chủ yếu khai thác nguồn giống tự nhiên
tại các cửa sông vào cuối mùa thu đến mùa đông khi chúng đang di cư ngược
dòng . Ngư dân tại Nhật Bản thường dùng các cây lau, sậy rỗng bên trong là
nơi cho cá Chình vào chú ẩn (dựa vào tập tính sống ưa bóng tối). Theo
Quedens (1963), ở các nước như Austraila, Nam Phi người ta sử dụng mồi câu
móc vào trong một hộp gỗ và thả xuống nước.
Hiện nay cá Chình được xem như một sản phẩm thủy sản quan trọng. Cá
Chình được đánh giá cao về chất lượng thịt, mùi vị ngon và giàu dinh dưỡng,
các nước Tây Âu và Nhật Bản là thị trường tiêu thụ cá Chình mạnh nhất trên
thế giới. Trang trại nuôi cá Chình đầu tiên được xây dựng ở Đài Loan năm
1952 và đặc biệt những trang trại phát triển nuôi cá Chình lớn cũng được tìm
thấy ở vùng này. Xue (1988) thông báo sản lượng hàng năm mang lại 41.000
tấn và giá trị sản lượng là 300 triệu USD cho khu vực này.
Nuôi cá Chình ở Nhật Bản bắt đầu vào những năm cuối của thế kỷ 19 tại
Tokyo, suốt đầu thế kỷ 20, việc nuôi cá Chình mở rộng đáng kể ở ba trung
tâm của Nhật Bản là Shizuoka, Aichi và Mie. Năm 1942, tổng diện tích nuôi
cá Chình trong các ao đạt đến 2000 ha, sau sự sụt giá suốt chiến tranh thứ 2,
việc nuôi lại Chình lại bắt đầu phát triển trở lại và vượt qua mức độ ban đầu
trước chiến tranh thế giới thứ 2 năm 1960. Sản lượng Chình đánh bắt hang
năm dao động trong khoảng 200 tấn mỗi năm, sản lượng cá Chình nuôi đã
được tính toán với các con số cao hơn rất nhiều, đạt 14.000 tấn năm 1972 và
27.000 tấn năm 1977. Tổng diện tích nuôi đạt đến 2.500 ha năm 1977. Nhờ

đang thu hút được sự quan tâm của người nuôi.
Nuôi cá Chình ở các nước Đông Nam Á và Nam Á vẫn chưa phát triển
mạnh, còn chưa được quan tâm đầu tư do người dân của các nước này còn
nghèo, bữa ăn của họ còn thiếu nhiều Protein nghiêm trọng, như vậy việc nuôi
cá Chình đồng nghĩa với việc cạnh tranh nguồn thức ăn Protein của con người.
Hơn nữa do mức sống của người dân ở nay còn thấp nên họ không có điều
kiện để ăn những loại thực phẩm cao cấp như cá Chình. Do nhu cầu nuôi thực
tế ở khu vực này còn chưa phat triển do đó những nghiên cứu ứng dụng cho
nuôi ở khu vực này còn rất ít, chưa thu hút được quan tâm đúng mức.Vàu năm
gần nay mới bắt đầu thu hút được một số nhà nghiên cứu về lĩnh vực này
Bảng 5: Sản lượng nuôi cá Chình ở một số quốc gia năm 2001
(theo thống kê FAO)
Quốc gia Sản lượng (tấn/năm)
Trung Quốc 155.800
Đài Loan 34.000
Nhật Bản 23.100
Hàn Quốc 2.600
Malaysia 2.400
Europe 10.200

Trên thế giới hiện nay có 4 nước phát triển nghề nuôi cá Chình mạnh
nhất là: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc. Các loài cá Chình được
nuôi chủ yếu là: A. anguilla, A. japonica, A. rostrata, A. cebesensis, A. bicolor
pacifica, A. marmorata.
Trung Quốc là một quốc gia phát triển nuôi cá Chình muộn hơn so với
Nhật Bản, Đài Loan nhưng do có lợi thế về diện tích rộng lớn, nguồn giống
phong phú, phát triển nuôi cá Chình trong ao đất sớm … từ những lý do đó đã
khiến Trung Quốc trở thành quốc gia đứng đầu thế giới vế sản lượng cá Chình
(155.800 tấn/năm) . Sau Trung Quốc là Đài Loan (34.000 tấn/năm), mặc dù có
nghề cá Chình phát triển sau Nhật Bản và Trung Quốc, nhưng với những

Thức ăn sử dụng trong nuôi cá Chình ở các nước trên thế giới là khác
nhau (tuy nhiên không dưới 45%). Hàm lượng protein nuôi cá Chình, ở Châu
Âu từ 46-52%, nuôi cá Chình ở Mỹ khoảng từ 55-60%, Nhật Bản là 52%,
Trung Quốc 50%, Đài Loan 45% .
Có khoảng 20 amino acid thường gặp trong thức ăn protein và trong cơ
thể động vật, trong đó có khoảng 10 amino acid cần thiết. Năm 1979 hai nhà
khoa học Arai và Nose nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng các amino acid cần
thiết của cá Chình Nhật Bản đã chỉ ra kết quả cho thấy.
Bảng 6: Nhu cầu amino acid của cá Chình Nhật Bản
(Arai và Nose, 1979)
Loại amino acid Nhu cầu
Arginine 4,5 (1,7/37,7)
Histidine 2,1 (0,8/38)
Isoleucine 4,0 (1,5/38)
Leucine 5,3 (2,0/37,7)
Valine 4,0 (1,5/37,7)
Lysine 5,3 (2,0/37,7)
Phenylalanine 5,8 (2,2/38)
Methionine 3,2 (1,2/38)
Threonine 4,0 (1,5/38)
Tryptophan 1,1 (0,4/38)
Giải thích: ví dụ cá Chình có nhu cầu về Arginine cao nhất khoảng 45%
của protein thức ăn, Nếu thức ăn có 37,7 % protein thì nhu cầu Arginine trong
thức ăn là: 45% ×37,7% =1,7%. Công thức là 4,5(1,7/37,7)
2.5.2.2. Nhu cầu về Lipid
Lipid là một nhóm vật chất hữu cơ có trong các tổ chức mô của động vật
và thực vật, có thành phần hóa học và cấu tạo khác nhau nhưng có một tính
chất chung là không hòa tan trong nước mà hòa tan trong dung môi hứu cơ.
Lipid là hợp phần cấu tạo quan trọng của các màng sinh học, nguồn cung cấp
các vitamin hòa tan trong mỡ như: vitamin A,D,E,K. Khẩu phần lipid trong

C lượng
vitamin bổ sung vào khoảng 10%. Vitamin PP gồm có nicotinic acid, niacin là
thành phần cấu tạo quan trọng của coenzyme Nicotinamindeanin dinucleotide
(NAD) và Nicotinamideadine dinucleotide phosphate (NADP). Theo nghiên
cứa của Arai và các cộng tác viên (1972) đối với cá Chình Nhật Bản, sự thiếu
hụt acid nicotinic sẽ dẫn đến khả năng tiêu thụ thức ăn giảm, tốc độ sinh
trưởng chậm chạp, sự không bình thường trong hoạt động di chuyển bơi lội và
điều hòa áp suất thẩm thấu. Sau 10 tuần nuôi thì dừng phát triển, sau 14 tuần
da bị xám đen lại và viêm loét.
Theo Yamakawa và các cộng tác viên (1975), đối với cá Chình Nhật
Bản nếu thiếu hàm lượng vitamin E trong thức ăn cá sẽ giảm ăn đồng thời
giảm tốc độ sinh trưởng do đó hàm lượng hàm lượng vitamin E yêu cầu tối
thiểu là 200 mg/kg thức ănkhô.
2.5.2.4. Nhu cầu về chất khoáng
Chất khoáng là những nguyên tố hóa học cần thiết để xây dựng lên cơ
thể và tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể động vật. Chất khoáng
có vai trò như là chất xúc tác đối với các enzyme, hormone, và protein. Ngoài
ra chất khoáng còn có vai trò điều hòa áp suất thẩm thấu. Cá Chình Nhật Bản
yêu cầu trong hàm lượng tối thiểu trong khẩu phần thức ăn là 170mg/kg.
Bảng 7: Nhu cầu chất khoáng trong thức ăn của cá Chình Nhật Bản
(Nose và Arai, 1979)
Chất khoáng Nhu cầu hàm lượng
Ca 300mg -3 g
P 6 g
Mg 400 – 700 mg
Fe 170mg
Se 0,3 – 0,5 mg
Theo Nose và Arai (1976), đã thí nghiệm trên cá Chình Nhật Bản. Kết
quả cho thấy nếu thức ăn thiếu hàm lượng canxi và photpho cá sẽ bỏ ăn một
tuần, nếu thiếu hàm lượng magie và iron cá sẽ bỏ ăn 3 – 4 tuần.

trợ giúp của các ống rỗng được đục các lỗ xung quanh và đặt lơ lửng thẳng cột
nước trong bể.Thức ăn được đẩy vào trong ống theo yêu cầu, điều này sẽ làm
giảm lãng phí thức ăn. Cá xay được chia thành từng phần và giữ trong tủ
đông.Với cá Chình việc ăn thức ăn tổng hợp khô thì khó hơn với cá chép rất
nhiều, những viên thức ăn nổi hầu hết bị lãng phí. Để khắc phục điều này
người ta trộn thức ăn với nước, hay tốt hơn là dầu cá, được làm thành dạng bột
nhão và dính vào cạnh bể, điều này thu hút cá ăn rất mạnh. Một khung lưới lơ
lửng có thể đem lại nhiều thuận lợi.
Tại Nhật Bản và Trung Quốc người ta sử dụng các rổ cho ăn treo lơ lửng
và cho thức ăn vào đó. Cá Chình con được nuôi trong các bể trong nhà với
kích thước từ 30 đến 50m
2
và độ sâu 50 đến 70m, thức ăn được Chình con ưa
thích và được coi tốt nhất đó là bon giun nhiều tơ. Với tuần thứ 2 đến tuần thứ
4 người ta cho ăn giun nhiều tơ xay và rải đều xung quanh bể. Từ tuần thứ 5
trở đi cho ăn kết hợp giun nhiều tơ, cá xay và thức ăn được tính toán theo công
thức. Hàm lượng thức ăn tính theo công thức được pha trộn trong khẩu phần
thức ăn tăng dần và cuối cùng cho ăn hoàn toàn thức ăn theo công thức đã tính
toán sẵn.Thức ăn nuôi cá Chình thương phẩm ở hầu hết các trang trại nuôi công
nghiệp tại Trung Quốc được tiến hành theo các thành phần sau:
- Bột cá đã được lấy mỡ: 60%
- Bột đậu 10%
- Bột men 5%
- Tinh bột 23%
- Khoáng chất, vitamin, và các phụ gia khác là 2%
2.6. Tình hình nghiên cứu cá chình ở Việt Nam
Do cá Chình không phải là đối tượng nuôi truyền thống và nó chỉ được
quan tâm từ một vài năm gần đây nên những nghiên cứu về cá Chình còn rất
hạn chế. Nếu cá thì chỉ mang ý nghĩa khoa học như phân loại, tìm hiểu đặc
điểm sinh học…, còn những nghiên cứu cho việc ứng dụng thực tiễn chưa

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Tên Khoa học: Anguilla marmorata
Tên Tiếng Anh: Marbled eels, Gaint mottled eels
Tên Tiếng Việt: Cá Chình bông, Chình Cẩm Thạch
3.1.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 15/10/2008 đến ngày 07/05/2009
3.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Trại sản xuất giống cá nước ngọt Đại Phương (Thôn Phương Hạ - xã Đại
Trạch - huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình)
3.2. Nội dung nghiên cứu
Thử nghiệm các phương pháp khác nhau trong quá trình lưu giữ và ương
nuôi ban đầu dối với cá chình hương.
3.2.1. Lưu giữ
- Thiết bị lưu giữ.
- Thời gian lưu giữ.
- Điều kiện môi trường lưu giữ (DO; t
0
; pH; S‰; NH
3
)
- Xác định tỷ lệ sống sau quá trình lưu giữ.
3.2.2. Ương nuôi ban đầu
- Theo dõi các yếu tố môi trường nước trong bể ương.
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng của cá chình ở các loại thức ăn khác nhau.
- Xác định tỷ lệ sống
- Đánh giá hiệu quả của 3 loại thức ăn: trùn chỉ, moina và hỗn hợp.
3.3. Trang thiết bị và dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu
3.3.1. Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
- Thí nghiệm lưu giữ được bố trí trong hệ thống thùng xốp (thể tích
60x40x40cm) và các bể composit.

Bố trí thí nghiệm lựa chọn thức ăn
phù hợp trong ương nuôi ban đầu
Trùn chỉ
Moina
½ trùn chỉ: ½ moina
Đánh giá tỷ lệ sống,
tốc độ tăng trưởng
Cá chình hương thu vớt từ tự nhiên
Chiều dài TB=5 cm;Trọng lượng TB=0,1g
Đánh giá tỷ lệ sống
Không sục khí
Sục khí liên tục
Sục khí theo giờ
Nhiệt độ thường
Nhiệt độ cố định
trên 25
o
C
Thùng xốp
Bể composit
Bố trí thí nghiệm lưu giữ
Bể composit
Hình : Sơ đồ nghiên cứu
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng cách trực tiếp phỏng vấn ngư dân, qua
sách báo, tạp chí, và các website thủy sản.
- Số liệu thứ cấp: Bố trí thí nghiệm
3.4.3. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu điều kiện thích hợp trong lưu giữ
- Thí nghiệm được bố trí trong 10 nghiệm thức, lặp lại 3 lần, với các

C X X
Thí nghiệm 2: Lựa chọn thức ăn phù hợp trong quá trình ương nuôi
ban đầu.
- Thí nghiệm được bố trí trong 9 bể composit, bao gồm 3 nghiệm thức
lặp lại 3 lần.
- Mỗi nghiệm thức bố trí 100 cá chình hương đồng đều về chiều dài và
trọng lượng. Chiều dài trung bình 5cm, trọng lượng trung bình 0,10g.
- Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, trong đó:
+ Nghiệm thức 1: Cho ăn 100% trùn chỉ, kí hiệu T.
+ Nghiệm thức 2: Cho ăn 100% moina, kí hiệu M.
+ Nghiệm thức 3: Cho ăn hổn hợp 50% trùn chỉ:50% moina, kí hiệu TM.
- Thí nghiệm được tiến hành trong 30 ngày.
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Bảng 9: Sơ đồ bố trí thí nghiệm thức ăn
T M TM
M TM T
TM T M
3.4.4. Cách tiến hành
3.4.4.1. Thí nghiệm 1
- Chuẩn bị dụng cụ và môi trường lưu giữ:
+ Các bể và thùng xốp sau khi vệ sinh sạch sẽ được đặt trong nhà, có
nắp đậy bằng lưới polyetylen để bố trí thí nghiệm.
+ Mỗi thùng xốp được cấp 40 lít nước, mỗi bể composit được cấp 500 lít
nước (độ cao mực nước 40cm).
+ Các thùng xốp và bể bố trí thí nghiệm sục khí thì được mắc sục khí:1
vòi/1 thùng xốp; 1vòi/1 bể.
+ Các thùng xốp và bể bố trí thí nghiệm nhiệt độ thì được mắc bóng đèn
nâng nhiệt, đảm bảo nhiệt độ trên 25
o
C:1 bóng đèn 60W/1 thùng xốp; 2 bóng

+ Cho ăn ngày một lần vào lúc 17giờ
+ Lượng thức ăn sử dụng 4 – 6 % khối lượng thân.
+ Lượng thức ăn điều chỉnh theo mức độ no đói của cá và theo lượng
thức ăn dư thừa.
+ Trước khi cho ăn xiphông thức ăn thừa, cá chết ra ngoài đồng thời
thay 30 – 50 % lượng nước.
+ Sục khí 24/24 giờ
+ Định kỳ cân trọng lượng 15 ngày/lần, lượng mẫu 30 con/lần/bể. Sau
60 ngày nuôi thu cá và tính tỷ lệ sống.
+ Đo nhiệt độ nước, hàm lượng oxy và pH ngày 2 lần sáng 7 – 8 giờ,
chiều 13-14 giờ.
- Xác định được loại thức ăn thích hợp nhất thông qua các chỉ tiêu sinh
trưởng và tỷ lệ sống.
3.4.4. Phương pháp xác định các thông số
+ Quan sát bằng mắt thường và sử dụng một số dụng cụ chuyên dùng để
xác định: Nhiệt độ, độ mặn, oxy hoà tan (DO), pH, độ đục của nước, NH
3
,
BOD.
+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình ngày về trọng lượng (DWG)
(Daily Weight Growth).
ADG(g/ngày) =
T
Wi-Wt
Trong đó:
W
t
: Trọng lượng khi thu mẫu (gam/con)
W
i

3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu
Bằng phương pháp thống kê sinh học, số liệu được xử lý trên phần mềm
Excell và SPSS 14.0 for Windows với độ tin cậy 95%.
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status